Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh sản cá ngạnh (cranoglanis sinensis peters 1880) trong điều kiện nhân tạo tại nghệ an - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------@&?-------

PHẠM TÙNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
VÀ THỬ NGHIỆM SINH SẢN CÁ NGẠNH (Cranoglanis sinensis
Peters, 1880) TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO TẠI NGHỆ AN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

NGHỆ AN, THÁNG 9/ 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
VÀ THỬ NGHIỆM SINH SẢN CÁ NGẠNH (Cranoglanis sinensis Peters,
1880) TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO TẠI NGHỆ AN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Mã số: 60.62.03.01

Người thực hiện: Phạm Tùng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Kim Đường


học Vinh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi tiên khai, thực hiện và hoàn
thành đề tài luận văn của mình.
Chân thành cảm ơn Nhiệm vụ quỹ gen cấp Nhà nước “Khai thác và phát
triển nguồn gen cá chuối hoa, cá lóc đen, cá ngạnh tại vùng Bắc Trung bộ” do
ThS. Nguyễn Đình Vinh làm chủ nhiệm, Trường Đại học Vinh là cơ quan chủ
trì đã tạo điều kiện hỗ trợ vật liệu, cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện đề
tài.
Cảm ơn tới Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, cổổ vũ và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Kính mong nhậận được sự góp ý, chỉ bảo của Hội đồng khoa học, quý thầy, cô
giáo và các bạn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Nghệ An, tháng 8 năm 2015
Học viên

Phạm Tùng

4


MỤC LỤC
Trang

Mở đầu
Chương 1. Tổng quan tài liệu ....................................................................
1.1. Nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở Việt Nam ............................................
1.2. Nguồn lợi thủy sản nước ngọt tại Nghệ An ............................................
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu cá Ngạnh trong và ngoài nước ..........
1.4. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu .........................................

37

3.1.3. Tuổi và kích thước thành thục lần đầu .....................................................

38

3.1.4. Mùa vụ và sinh sản của cá Ngạnh ............................................................
3.1.5. Sức sinh sản ........................................................................................

3.2. Kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Ngạnh ....................................
3.2.1. Kết quả thử nghiệm nuôi vỗ cá bố mẹ ................................................
3.2.2. Kết quả kích thích sinh sản cá Ngạnh bằng các liều lượng kích dục tố
khác nhau ......................................................................................................
3.2.3. Hình thức thụ tinh cho trứng cá Ngạnh ...............................................
3.2.5. Các kết quả thí nghiệm ương nuôi cá bột ...........................................
3.2.6. Kết quả thí nghiệm ương nuôi cá Ngạnh từ cá hương lên cá giống
Kết luận và kiến nghị ................................................................................
Phụ lục

5

40
41
41
42
45
46
49
51



g

Gam

MAX

Giá trị lớn nhất

MIN

Giá trị nhỏ nhất

TN

Thí nghiệm

SGR

Tốc độ tăng trưởng tương đối ngày.

SD

Độ lêch tiêu chuẩn

TLS

Tỷ lệ sống




Trang
28
28
37
40
41
42

số thành thục sinh dục của cá Ngạnh
Bảng 3.5. Thời gian hiệu ứng và năng suất trứng của cá cái khi sử dung kích dục tố
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của hình thức ấp trứng đến tỷ lệ nở và tỷ lệ cá dị hình
Bảng 3.7. Tăng trưởng của cá ương ở các hình thức khác nhau
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng về khối lượng và dài thân toàn

43
46
47
50

7


phần của cá Ngạnh từ cá hương lên cá giống

8


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters)


Trang
13
22
22
24
24
27
30
30
31
31
31
31
32
32
33
33
34
34
34
34
36
37
37
37
38
42
44
45

quá khả năng khôi phục của các quần thể cá đã làm giảm sút sản lượng cá tự
nhiên. Dưới áp lực khai thác đó, một số loài cá đã bị tiêu diệt, nhiều loại cá
khác trở nên khan hiếm, khó bắt gặp và đang ở trong tình trạng báo động mức
V và E (Vulnerable và Endangred). Trong đó có loài cá Ngạnh (Cranoglanis
sinensis Peters, 1880) được ghi trong sách đỏ Việt nam với mức độ có nguy cơ
bị tuyệt diệt loại V. Do vậy việc nghiên cứu sự phân bố, các đặc điểm sinh học,
tình hình khai thác, đánh giá các tác động bất lợi và đề xuất các giải pháp bảo
vệ, tái tạo nguồn lợi các loài cá ở hệ thống sông Nghệ An là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu khoa học và thực tiễn trên chúng tôi chọn thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh sản
cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters, 1880) trong điều kiện nhân tạo tại
Nghệ An”. Qua đó bước đầu xây dựng cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và
phát triển nguồn lợi loài cá này đồng thời làm tiền đề nghiên cứu sản xuất
giống phục vụ cho mục tiêu đa dạng hóa đối tượng nuôi ở Nghệ An.
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu được một số đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sinh
10


sản nhân tạo cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters, 1880) tại Nghệ An.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản cá Ngạnh
- Xác định tuổi, kích thước và khối lượng thành thục;
- Xác định các đặc điểm sinh học của tế bào sinh dục;
- Xác định hệ số thành thục và sức sinh sản;
- Xác định mùa sinh sản trong năm;
3.2. Thử nghiệm sản xuất thử nghiệm cá Ngạnh giống trong điều kiện
nhân tạo
- Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ thành thục đàn cá bố mẹ và cho đẻ cá Ngạnh.
- Nghiên cứu kỹ thuật ấp trứng cá Ngạnh.

phần loài (280 loài thuộc 14 bộ 60 họ, 230 giống), hiện nay do sự di nhập nhiều
loài do phát tán hoặc di nhập nuôi (cá thương phẩm, nuôi làm cảnh, ...) mà số
lượng loài tăng khá nhiều. Có thể chia khu hệ cá vùng đồng bằng sông Hồng ra
4 nhóm sinh thái: Nhóm cá miền núi, nhóm cá đồng bằng, nhóm cá biển di cư
vào nước ngọt và nhóm cá phân bố rộng. Hoặc chia theo hệ sinh thái như: cá
12


sống ở sông suối, nhóm cá sống ở sông hồ, nhóm cá sống ở ao, ruộng và nhóm
cá sống vùng cửa sông. Chia theo tính chất của hệ sinh thái sông ta có các nhóm
cá: Nhóm cá sống phần hạ lưu sông hồ, nhóm cá sống ở trung lưu sông hồ và
nhóm cá sống phần thượng lưu sông hồ: Khu hệ cá phần hạ lưu sông Hồng khá
phong phú về thành phần loài bao gồm: các loài đặc hữu, các loài cá ở nước lợ
(Cá nguồn gốc ở biển di cư vào vùng cửa sông) và những loài cá sống ở sông và
đồng ruộng trũng. Khu hệ cá phần trung lưu: gồm các loài cá sống ở sông và
đồng ruộng trũng, đa số là những loài phân bố rộng như cá Mương, cá Ngão, cá
Thiểu, cá Dầu sông và một số loài di cư từ cửa sông vào như cá Mòi, cá Cháy.
Đa dạng về thành phần loài, có nhiều loài cá kinh tế như: cá Chép, cá Trắm cỏ,
cá Măng, cá Mương, cá Ngạnh; cá quý hiếm như cá Lăng chấm, cá Chiên, cá
Bỗng, cá Chình; cá đặc hữu như cá Rầm xanh, Rầm vàng, cá Hoả [13, 24, 25].
Đồng bằng sông Cửu Long:
Có 175 loài cá vùng ĐBSCL thuộc 109 giống, 48 họ, 17 bộ. Trong đó bộ
cá chép (Cypriniformes) có thành phần loài đa dạng nhất chiếm 36% tổng số
loài; tiếp theo là bộ cá nheo (Siluriformes) chiếm 27%; bộ cá vược
(Perciformes) chiếm 19%, bộ cá cơm (Clupeiformes) chiếm 6%; bộ cá bơn
(Pleuronectiformes) chiếm 3%, 12 bộ còn lại chỉ chiếm 1% tổng số loài. Hầu hết
thành phần loài cá thuộc nhóm cá trắng chiếm 74%, nhóm cá đen chiếm 7%.
Ngoài ra nhóm cá nước lợ chiếm 11% như cá đối (Mugil spp.), cá mề gà (Coilia
spp.), cá mặt quỷ (Eleutheronema tetradactylum), cá lạt vàng (Congresox
talabonoides). Nhóm cá có nguồn gốc nước mặn chiếm 7%, tiêu biểu là cá thu

Trong đó có 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học. Phần lớn các loài
đặc hữu đều có phân bố ở các vùng nước sông, suối, vùng núi [24, 25].
Theo kết quả hiện có, số lượng các loài động vật và tảo đơn bào (trừ vi
sinh vật và thực vật bậc cao) sống trong các thủy vực nội địa có trên 2.740 loài
và dưới loài, trong đó tảo đơn bào và khuẩn Lam (Cyanophyta) có 1.403 loài và
dưới loài, giáp xác (Crustacea) 292 loài, trùng bánh xe (Rotatria) là 109 loài,
giun nhiều tơ (Polychaeta) là 30 loài, giun ít tơ (Oligochaeta) là 47 loài, đỉa
(Hyrudinae) là 9 loài, thân mềm (Mollusca) là 147 loài, động vật nguyên sinh
(Protozoa) là 157 loài và cá nước ngọt (Pisces) là 547 loài. Thực vật bậc cao khá
đa dạng, có thể từ vài chục loài đến vài ba trăm loài.
Nhìn chung, các nghiên cứu về thành phần loài thực vật, động vật tập trung
14


ở vùng đồng bằng. Nhiều ngọn nguồn sông suối, nơi giàu các loài đặc hữu còn
chưa được khảo sát đầy đủ. Hơn nữa, nhiều nhóm loài còn chưa được nghiên cứu
sâu. Ngay số lượng các loài cá nước ngọt cũng không dừng ở 546 loài.
1.2. Nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt tại Nghệ An
Nghệ An là tỉnh có tiềm năng lớn về diện tích nuôi trồng thủy sản nói
chung và diện tích mặt nước lớn nói riêng với 1.250 hồ chứa thủy lợi, thủy điện
vừa và nhỏ, nhiều sông suối lớn được phân bố đều trên các huyện đồng bằng,
trung du và miền núi. Trong đó, có 944 hồ dung tích 462.110.000 m 3 nước, diện
tích mặt thoáng 11.783,49 ha có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản. Đây
được xem là địa phương có nguồn lợi cá tự nhiên phong phú. Các loài cá ở đây đóng
vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản lượng cá tự nhiên, thuần hoá để nuôi
và làm tăng sự đa dạng sinh học các loài thuỷ sinh [20].
Nguồn lợi cá nước ngọt của Nghệ An khá phong phú, phân bố tự nhiên
dọc theo các hệ thống sông suối. Khu hệ cá sông Lam gồm có 157 loài và phân
loài thuộc 52 họ và phân họ nằm trong 17 bộ. Khu hệ cá sông Lam cũng rất đa
dạng về sinh thái học, có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá Ghé, cá

mới Pseudotropichthys với loài điển hình Pseudotropichthys multiradiatus,
nhưng kết quả nghiên cứu của ông đã không so sánh với các loài thuộc giống
Cranoglanis và lại xếp giống mới Pseudotropichthys vào họ phụ Bagrina.
George Myers (1931) đã thống nhất giống Pseudotropichthys với giống
Cranoglanis, và đưa ra họ mới Cranoglanididae [26, 27].
Herre (1934) đã hoài nghi về loài cá Ngạnh có nguồn gốc ở Hồng Kông.
Dựa trên các dữ liệu cơ bản về mẫu ở tỉnh Quảng Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung
Quốc. Ông cho rằng nguồn gốc của cá Ngạnh là ở tỉnh Quảng Châu. Tuy nhiên,
ông tin rằng giống Cranoglanis không xuất hiện ở các đảo gần biển, đặc biệt là
mẫu của Koller thu thập ở đảo Hải Nam. Mặc dù thực tế là cá Ngạnh xuất hiện phổ
biến ở sông West và các nhánh của sông này, sông Fu ở Quảng Châu, Trung Quốc.
Jayaram (1955) đã thống nhất gộp 2 loài C. multiradiatus C. và C.
sinensis thành loài C. bouderius. Gần đây, C. bouderius và C. multiradiatus đã
được coi là loài riêng biệt.
Trên thế giới có 15 giống thuộc họ cá da trần nước ngọt (Bagridae), phân
bố chủ yếu ở sông ngòi châu Á, châu Phi, một số loài sống được ở nước lợ.
16


Thuộc họ này, ở Việt Nam có 4 giống: Giống cá Ngạnh (Cranoglanis), giống cá
Đủng Đeng (Liobagrus), giống cá Lăng (Hemibagrus) và giống cá Bò
(Pseudobagrus).
Cá Ngạnh, Cranoglanis bouderius hay C. sinensis (Siluriformes,
Cranoglanididae), là một loài đặc hữu trong hệ thống sông Pearl (Quảng
Châu, Trung Quốc), sông Hồng (Việt Nam) và hệ thống kênh mương ở đảo
Hải Nam. Đó là một trong những loài cá ăn được trong lưu vực sông Pearl,
nhưng số lượng cá Ngạnh suy giảm đáng kể trong vài thập kỷ qua, do sự bùng
nổ đột ngột của dân số và kỹ thuật đánh bắt hủy diệt. Hiện nay, cá Ngạnh
được xếp vào nhóm có nguy cơ bị tuyệt chủng (Nhóm V) ở sách đỏ của Trung
Quốc (Yue và Chen, 1998) [27].

Cranoglanis bằng hình thái còn gây ra nhiều tranh cãi của các nhà khoa học.
Hiện nay, bằng sự hỗ trợ của chỉ thị phân tử, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau để nghiên cứu định loài các loài thuộc giống này, có thể
liệt kê một số nghiên cứu như sau:
Vào những năm 1990 của thế kỷ 20, nhiều nhà khoa học đã sử dụng
marker phân tử (bộ genome DNA mitochondrial để định loại các quần thể cá
(Ferris và Berg, 1987; Whitmore và cs., 1992; Cronin và cs., 1993; Cantatore và
cs., 1994; Murdoch và cs., 1994).
Thời gian sau đó, nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng vùng D-loop có
chứa sự biến động di truyền lớn nhất để định loài các loài cá (Ferris và Berg,
1987; Meyer, 1993).
Tại Trung Quốc, Cheng Fei và cs., (2009) đã tiến hành phân tích di truyền
loài cá Ngạnh (Cranoglanis bouderius) bằng chỉ thị AFLP sử dụng kết hợp 18
đoạn mồi để phân tích mỗi quan hệ phát sinh chủng loài của 60 cá thể được thu
thập ở hai vùng sinh thái khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa hình của
cả 2 quần thể cá thu thập. Chỉ số giống nhau tương ứng là 0,9462 ± 0,0237 và
0,9465 ± 0,0226 trong các quần thể cá Ngạnh ở sông Pearl (Quảng Châu) và
quần thể cá Ngạnh ở đảo Hải Nam. Chỉ số giống nhau giữa các quần thể cá thấp
hơn trong từng quần thể. Khoảng cách di truyền giữa quần thể cá Ngạnh ở sông
Pearl (Quảng Châu) và quần thể cá Ngạnh ở đảo Hải Nam là 0,0634 ± 0,0230.
18


Kết quả phân tích cây phát sinh chủng loài cho thấy các cá thể trong cùng một
quần thể kết hợp với nhau trước, sau đó kết hợp với các cá thể ở ngoài quần thể.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hai quần thể cá này là một loài.
1.3.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, việc gia tăng các phương tiện khai thác, số lượng
người đánh bắt cá tăng và trình độ khai thác của nhân dân được nâng lên đã dẫn
đến nguồn lợi bị suy giảm trên hầu hết các vực nước tự nhiên, khai thác quá khả

Da mõm và môi trên liền nhau và trùm vào thân môi trên. Lỗ mũi ở phía trên
đường viền của mắt. Lỗ mũi tới mút mõm bằng tới góc miệng. Răng cá tra nghệ
nhỏ, kết thành đám. Răng hàm trên kết thành đám có hình chữ V nhưng hơi bẹt
về hai bên mép miệng. Răng lá mía gồm hai đám tách rời nhau. Răng hàm dưới
cũng tương tự như răng hàm trên, nhỏ, mịn, nhưng kết thành đám có hình vòng
cung. Mắt tròn to phân bố đều ở hai bên đầu, nằm phía trên đường trục và hơi
thiên về phía trước của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng, hơi bằng. Đỉnh đầu
nhẵn. Lỗ mang rộng. Màng mang rách rời khỏi eo mang, có thể tách rời hoặc
liền với nhau. Vây lưng cao, có 1 gai cứng ở đầu mút cả 2 mặt đều có răng cưa
thưa và nhỏ. Gai cứng của vây ngực đầu mút hai mặt cũng có răng cưa. Vây
bụng gần vây hậu môn, kéo dài quá khởi điểm vây hậu môn một ít. Vây hậu
môn dài, số tia vây nhiều. Vây đuôi chẻ sâu, 2 thuỳ bằng nhau và mút nhọn. Vây
mỡ nhỏ. Cuống đuôi co hep lại. Đường bên thẳng, rõ. Cá không có vẩy và có
màu xám sẫm ở lưng, nhạt ở bụng. Các vẩy có màu xám.
Tập tính bắt mồi: Cá Ngạnh kiếm ăn cả ban ngày và ban đêm, ở những
nơi nước trong. Cá kiếm ăn mạnh vào ban đêm và đi theo đàn.
Cá Ngạnh thuộc nhóm ăn tạp. Thức ăn chủ yếu là các động vật không
xương sống, côn trùng, cá con. Trong ống tiêu hóa của cá còn gặp một số loài
động vật nhỏ thuộc họ Crustaceae (Cyclops, Ostrracoda...), ấu trùng côn trùng.
Cá còn ăn vẩn cặn hữu cơ, nguyên sinh động vật, ấu trùng giáp xác, thực vật,
các mảnh vụn hữu cơ lắng đọng và cả động vật thượng đẳng.
Chiều dài ruột tăng dần theo tuổi, song chỉ ngắn hơn chiều dài thân một ít.
Cá tích cực kiếm mồi nên dạ dày thường có độ no cao. Chúng hay tập trung ở
các bến phà, bến tắm rửa ở hai ven sông và ăn tất cả những thải bỏ của con
người và động vật.
20


Cá Ngạnh có kích thước trung bình, con lớn nhất nặng 4 kg. Cá 1 năm
có chiều dài 15,5-21,0 cm, đạt trung bình khoảng 19 cm, năm thứ 2 bằng

1.4.1. Định danh trong hệ thống phân loại

Hình 1.1. Cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters)

Cá Ngạnh được định danh như sau:
Ngành động vật có dây sống: Chordata
Lớp cá vây tia: Actinopterygii
Bộ cá Nheo: Siluriformes
Họ cá da trần nước ngọt: Bagridae
Giống cá Ngạnh: Cranoglanis
Loài: Cranoglanis sinensis Peters
Tên tiếng anh: Cranoglanidid catfish
Tên đồng vật [8]:
Anopleutropius henrici Vaillant, 1893.
Pseudotropichthys multiradiatus Koller, 1927.
Cranoglanis multiradiatus Myers, 1931 .
Cranoglanis sinensis (non Peters, 1880).
Cranoglanis bouderius multiradiatus .
Craniglanis henrici.
Tên địa phương:
Cá Ngạnh (cá lớn), cá hau (cá nhỏ), cá hau mùn, cá hau trung hoa (tên
Việt), Papé (tên Thái) .

22


1.4.2. Đặc điểm phân bố, tập tính sống và hiện trạng nguồn lợi
* Phân bố
- Trên thế giới có 15 giống thuộc họ cá da trần nước ngọt (Bagridae),
phân bố chủ yếu ở sông ngòi Châu Á, Châu Phi, một số loài sống được ở nước

Mõm tù ,miệng ở dưới rộng ngang, chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng đầu ở
đó. Hàm trên dài hơn hàm dưới và hơi nhọn về phía trước. Môi trên dầy, môi
trên và môi dưới liền nhau ở góc miệng .Da mõm và môi trên liền nhau và trùm
vào thân môi trên .Lỗ mũi ở phía trên đường viền của mắt. Lỗ mũi tới mút mõm
bằng tới góc miệng. Răng cá tra nghệ nhỏ, kết thành đám.Răng hàm trên kết
thành đám có hình chữ V nhưng hơi bẹt về hai bên mép miệng.Răng lá mía gồm
hai đám tách rời nhau. Răng hàm dưới cũng tương tự như răng hàm trên, nhỏ,
mịn, nhưng kết thành đám có hình vòng cung. . Mắt tròn to phân bố đều ở hai
bên đầu , nằm phía trên đường trục và hơi thiên về phía trước của đầu. Khoảng
cách hai mắt rộng, hơi bằng. Đỉnh đầu nhẵn.Lỗ mang rộng. Màng mang rách rời
khỏi eo mang, có thể tách rời hoặc liền với nhau.
Vây lưng cao, có 1 gai cứng ở đầu mút cả 2 mặt đều có răng cưa thưa và
nhỏ. Gai cứng của vây ngực đầu mút hai mặt cũng có răng cưa. Vây bụng gần
vây hậu môn, kéo dài quá khởi điểm vây hậu môn một ít. Vây hậu môn dài, số
tia vây nhiều. Vây đuôi chẻ sâu, 2 thuỳ bằng nhau và mút nhọn. Vây mỡ nhỏ.
Cuống đuôi co hep lại. Đường bên thẳng, rõ. Cá không có vẩy và có màu xám
sẫm ở lưng, nhạt ở bụng. Các vẩy có màu xám.
1.4.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Tập tính bắt mồi: Cá Ngạnh kiếm ăn cả ban ngày và ban đêm, ở những
nơi nước trong. Cá kiếm ăn mạnh vào ban đêm và đi theo đàn .
Cá thuộc nhóm ăn tạp. Thức ăn là các động vật không xương sống, côn
trùng, cá con là chủ yếu. Trong ống tiêu hóa của cá còn gặp một số loài động
vật nhỏ thuộc Crustaceae (Cyclops, Ostrracoda...), ấu trùng côn trùng. Cá còn ăn
vẩn cặn hữu cơ, nguyên sinh động vật ,ấu trùng giáp xác , thực vật, các mảnh
vụn hữu cơ lắng đọng và cả động vật thượng đẳng.
Cá Ngạnh ăn tạp và rất phàm ăn nên phổ thức ăn rất rộng. Thành phần
thức ăn đa dạng, gồm thực vật, mảnh vụn hữu cơ và động vật. Thức ăn thực vật
là lá, hạt, quả; thức ăn động vật gồm nhiều nhóm ấu trùng, côn trùng và côn
trùng trưởng thành (thuộc Epherneroptera, Odonata, Coleopreta, Micronecta,
24

thuộc 5 nhóm tuổi từ 1+-5+. Chiều dài hàng năm của cá 1 tuổi 15,4-20,8 cm (18,8
cm), cá 2 tuổi 22,2-27,9 cm (24,7 cm), cá 3 tuổi 27,1-28,8 cm (28,0 cm), cá 4
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status