BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN PHI TRƯỜNG
VẬN DỤNG DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG PHẦN KIM LOẠI
HÓA HỌC 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt gần 2 năm học tập nghiên cứu tại khoa Sau đại học - trường Đại học
vinh, mỗi học viên được rèn luyện, được tu dưỡng, được tích lũy kiến thức và hiểu biết
thêm phương pháp nghiên cứu khoa học, đó chính là hành trang mới để học viên bước
tiếp vào công việc của mình, tiếp nối sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ đổi mới. Sau 2
năm, sự trưởng thành của mỗi học viên được đánh giá và hội tụ trong luận văn của mình.
Để hoàn thành luận văn này, học viên cần rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô,đồng nghiệp,
gia đình và bạn bè.
Với tấm lòng tri ân và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn: PGS.TS Trần Trung
Ninh - thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và luôn khích lệ, động viên tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, các thầy cô giáo trong
tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy khoa Hóa học, khoa sau Đại học, trường Đại học
Vinh đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường THPT Anh Sơn 1,THPT Anh
Sơn 3, thầy giáo Đoàn Văn Cường THPT Anh Sơn 1 và thầy giáo Bùi Hồng
Quang THPT Anh sơn 3 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm.
THPT
TL
PT
GDCD
TN
Bổ sung
Cơ bản
Công thức cấu tạo
Công thức phân tử
Đối chứng
Dạy học
Dạy học tích hợp
Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
Giáo viên
Hoạt động cá nhân
Học sinh
Khoa học
Kết luận
Nhận xét
Nhà xuất bản
Phương pháp
Phương pháp dạy học
Phương trình hóa học
Sách giáo khoa
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thảo luận
Phổ thông
Giáo dục công dân
F.Gợi ý về kiểm tra, đánh giá..............................................................................58
B. Nội dung chính của chủ đề..................................................................................59
C. Chuẩn bị..............................................................................................................59
E.Gợi ý các hoạt động dạy học..............................................................................60
................................................................................................................................... 82
DANH MỤC HÌNH
B.Nội dung chính của chủ đề...................................................................................41
C.Chuẩn bị...............................................................................................................41
D.Hình thức tổ chức, phương pháp, kĩ thuật dạy học...........................................41
E.Tiến trình dạy học................................................................................................42
F.Gợi ý về kiểm tra, đánh giá..............................................................................58
B. Nội dung chính của chủ đề..................................................................................59
C. Chuẩn bị..............................................................................................................59
E.Gợi ý các hoạt động dạy học..............................................................................60
................................................................................................................................... 82
88
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo đóng vai trò rất quan trọng, là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế
giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại
có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vậy?
- Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế.
- Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội.
- Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người.
Bởi vì, sức mạnh của một dân tộc, năng lực cạnh tranh của một quốc gia đang chuyển mạnh
từ nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động sang tri thức, trí tuệ, nguồn nhân lực chất lượng cao.
Và đó phải là sản phẩm của một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại.
Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực
nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong
thực tiễn cuộc sống.
Lý thuyết tích hợp là một triết lý được Ken Wilber đề xuất. Quan điểm tích hợp cho
phép con người nhận ra những điều then chốt và các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố
trong hệ thống và trong tiến trình hoạt động thuộc một lĩnh vực nào đó. Việc khai thác hợp
lý và có ý nghĩa các mối liên hệ này dẫn nhà hoạt động lý luận cũng như thực tiễn đến
những phát kiến mới, tránh những trùng lắp gây lãng phí thời gian, tài chính và nhân lực.
Đặc biệt, quan điểm này dẫn người ta đến việc phát triển nhiều loại hình họat động, tạo môi
trường áp dụng những điều mình lĩnh hội vào thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực
tiễn. Do vậy, tích hợp là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý chi phối,
định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người.
Chính vì những lí do trên mà tôi lựa chọn đề tài: “Vận dụng dạy học tích hợp trong phần
kim loại hóa học 12”
2. Lịch sử vấn đề
Việc xây dựng chương trình giáo dục theo tư tưởng tích hợp bắt đầu được đề cao ở
Mỹ và các nước châu Âu những năm 50 - 60, ở Châu Á ở những năm 70 và ở Việt Nam từ
những năm 80 của thế kỉ XX. Có thể nói, tích hợp đã trở thành xu thế phát triển giáo dục
trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua.
Cho đến nay xu hướng tích hợp trong các môn Khoa học tự nhiên thực hiện theo 3
mức độ sau:
1. Có môn học tên Khoa học từ tiểu học đến Trung học phổ thông: Xu hướng này thể
hiện rõ ở Mĩ, Anh, Úc, Singapo, Nhật Bản, Hàn quốc…
2. Có tên môn Khoa học hoặc tên gọi khác ở tiểu học, đến THCS tách ra thành môn
Lý - Hóa (KH vật thể), Sinh – Địa ( KH sự sống và KH về Trái đất). Xu hướng này thể hiện
ở Pháp, Đan Mạch, Phần lan, một số nước châu Phi.
12.
3. Mục đích nghiên cứu
- Hình thành và phát triển năng lực học sinh, nhất là năng lực giải quyết các vấn đề
thực tiễn liên quan đến cuộc sống;
- Tạo mối quan hệ giữa các môn học với nhau và với kiến thức thực tiễn;
- Tránh trùng lặp về nội dung thuộc các môn học khác nhau;
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quan điểm DHTH
- Nghiên cứu phần kim loại Hóa học 12 và những nội dung liên quan
Xây dựng nội dung, bài dạy vận dụng quan điểm DHTH trong chương kim loại Hóa
học 12
Thực nghiệm sư phạm về vận dụng DHTH trong phần kim loại Hóa học 12
3
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT ở địa phương
* Đối tượng nghiên cứu
- Việc vận dụng DHTH trong phần kim loại hóa học 12
Phạm vi nghiên cứu
- Các chương thuộc phần kim loại hóa học 12 (chương trình cơ bản)
- Bài 7: Dòng điện không đổi, nguồn điện - Vật lí 11
- Bài 14: Dòng điện trong chất điện phân - Vật lí 11
- Bài 17: Điện trong chất bán dẫn - Vật lí 11
- Bài 22: Xã hội Việt nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân pháp – Lịch
sử 11
- Bài 37: Phóng xạ - Vật lý 12
- Bài 46: Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên - Sinh học 12
- Bài 1: Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập – Địa lí 12
8. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa đầy đủ các cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp.
- Nghiên cứu vận dụng quan điểm dạy học tích hợp để thiết kế và thử nghiệm trong
dạy học 02 chủ đề về kim loại hóa học 12(chương trình cơ bản).
- Thực nghiệm sư phạm đã chứng tỏ tác dụng phát triển năng lực vận dụng kiến thức
để giải quyết vấn đề thực tiễn của các chủ đề dạy học tích hợp đã xây dựng.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng dạy học tích hợp phần kim loại
hóa học 12
Chương 2: Vận dụng dạy học tích hợp trong phần kim loại hóa học 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
VẬN DỤNG DẠY HỌC TÍCH HỢP PHẦN
KIM LOẠI HÓA HỌC 12
1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Các quốc gia trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Các
nước phương Tây rất chú trọng đến việc xây dựng và phát triển các phương pháp giáo dục.
Mỗi loại triết lý giáo dục thường đi kèm theo những phương pháp dạy và học khác nhau.
Nhật Bản- một quốc gia nằm ngoài khơi Thái Bình Dương trong khu vực Đông Bắc
Á, với gần 130 triệu dân nhưng Nhật Bản lại không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào
đáng kể, hơn nữa lại chịu rất nhiều thiên tai như: động đất,sóng thần,núi lửa, giông bão…
Nhưng trong suốt chiều dài lịch sử của mình Nhật Bản đã nhiều lần để nhân loại chứng kiến
những thay đổi thần kì.
5
Ta nhận thấy rằng, trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình, Nhật bản đã có nhiều
bước chuyển vĩ đại. Có người ví hệ thống giáo dục là chìa khóa giúp cho nền kinh tế Nhật
Bản đạt được những thành tựu to lớn. Có người lại gọi đó là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội Nhật Bản phát triển.
6
Trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc đầu
tư cho giáo dục và nước Mỹ có một nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.
- Chương trình cấp 1-2 của Mỹ cũng bao gồm kiến thức tổng quát ở trình độ thiếu
nhi. Lớp học có khoảng 20-30 học sinh do đó thầy cô biết rõ từng em một và khuyến khích
tự suy nghĩ, chất vấn, phát biểu ý kiến dù đúng hay sai, thuyết trình, và tham gia vào nhiều
hoạt động nhóm để phát huy phong cách con người và khả năng giao tiếp từ bé.
- Chương trình cấp 3 của Mỹ theo hệ thống tín chỉ, có nhiều môn tự chọn (30% của
chương trình), và cho HS rất nhiều lựa chọn như: khi nào sẽ học một môn, môn nào hợp sở
thích và khả năng, trình độ nào (học ra làm công nhân, học để vào trường tiểu bang hay học
để có thể được nhận vào Harvard), những môn nào hợp một chuyên ngành ở Đại học, thậm
chí có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian ra trường. Chương trình học đầy linh động này
thích ứng được với sự khác biệt về thông minh, tài chính, sự trưởng thành về mặt tâm lý,
hoàn cảnh gia đình của mỗi HS, vả từ đó phát huy được sự đam mê học và khả năng sáng
tạo.
- Học sinh Mỹ được khuyến khích tham khảo, chất vấn, thảo luận và phát biểu những
gì mình thích hay bức xúc mà không bị chính quyền, nhà trường hay thầy, cô cấm đoán.
Trường thường có nhiều hoạt động nhóm do học sinh làm chủ như hiệp hội trong và liên
trường. Học sinh tự chọn lãnh đạo của hiệp hội qua tranh cử, và thực tập khả năng giao tiếp
và lãnh đạo ở tuổi thiếu niên.
Tại Singapore: [8]
Về chương trình của THCS, THPT được thiết kế theo 3 nhóm môn chủ yếu: Các môn
học về thể lực, cá nhân và xã hội như: Giáo dục y tế và thể dục thể thao; Phát triển sự giao
tiếp; Học tập cá nhân; Giáo dục công dân và bổn phận công dân.
Các môn học truyền thống: Nghệ thuật; Anh ngữ; Nhân văn- Kinh tế; Nhân văn - Địa
Với quan điểm “giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”,
Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và
công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không
ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
Trước hết cần nhận thức sâu sắc tính cách mạng và khoa học của quá trình đổi mới
căn bản và toàn diện nền giáo dục. Đây không phải là những sửa đổi, điều chỉnh nhỏ, đơn
lẻ, cục bộ, mang tính bề mặt. Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới tầng sâu bản chất của
hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của hệ thống giáo dục, để đưa hệ thống
giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn.
Bối cảnh đổi mới Giáo dục và đào tạo [4]
Thứ nhất, những thuận lợi:
- Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm
qua, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và
đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực giai
đoạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Việt Nam;
8
- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục và đào
tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước
trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" và hội nhập quốc tế mạnh mẽ;
- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông
phát triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận
lợi để đổi mới giáo dục;
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng tạo cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với các
xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại và tranh thủ
các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục;
- Nhân dân ta với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, sẽ tiếp tục dành sự
- Đổi mới quan điểm phát triển giáo dục;
- Đổi mới mục tiêu giáo dục;
- Đổi mới và lành mạnh hóa môi trường giáo dục.;
- Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục;
- Đổi mới cơ chế phát triển giáo dục;
- Đổi mới động lực - nguồn lực phát triển giáo dục;
- Đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới giáo dục.
Đổi mới toàn diện nền giáo dục được hiểu là đổi mới về tất cả các mặt, các yếu tố cấu
thành hệ thống giáo dục và các quá trình giáo dục như:
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia;
- Đổi mới ở tất cả các cấp, bậc học, các hình thức giáo dục, đào tạo;
- Đổi mới đồng bộ về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo.
Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 [1]
- Giáo dục phổ thông tập trung nâng cao dân trí, phát hiện và bồi dưỡng năng
khiếu, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng,
ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), tin học, năng lực thực hành và vận dụng kiến thức vào
thực tiễn.
Xây dựng mới chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm
cho học sinh kết thúc lớp 9 phải có tri thức phổ thông nền tảng, cơ bản; học sinh trung học
phổ thông phải được tiếp cận nghề nghiệp và được chuẩn bị tốt cho giai đoạn học sau phổ
thông. Thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, phấn đấu đến năm 2020 có 80% thanh niên trong độ
tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương
1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới PPDH là một trọng tâm của đổi mới giáo dục. Luật giáo dục [1] (điều 28)
yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
hình thành hiểu biết, năng lực và
phẩm chất.
Tổ chức hoạt động nhận thức cho
Truyền thụ tri thức, truyền thụ và
Bản chất
học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra
chứng minh chân lí của giáo viên.
chân lí.
Chú trọng hình thành các năng lực
(sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
pháp và kĩ thuật lao động khoa học,
năng, kĩ xảo. Học để đối phó với
dạy cách học. Học để đáp ứng những
Mục tiêu thi cử. Sau khi thi xong những điều
yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
đã học thường bị bỏ quên hoặc ít
tương lai. Những điều đã học cần
dùng đến.
thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và
cho sự phát triển xã hội.
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học phù hợp,
thí nghiệm, bảng tàng, thực tế…gắn
Nội dung
Từ sách giáo khoa và giáo viên
với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu
cầu của HS.
- Tình huống thực tế, bối cảnh và
kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm
công dân, làm người lao động, làm cha mẹ có năng lực sốn tự lập;[2]
- Ngoài ra, DHTH còn giúp người học xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã
học. Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt đọc những môn học khác nhau trong mỗi
môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống
trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau. Thông tin càng đa
dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm
chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một
tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.[2]
1.3.4. Các quan điểm dạy học tích hợp
Theo Dhainaut (1997, xuất bản lần thứ 5, 1998), có thể chấp nhận 4 quan điểm tích
hợp khác nhau đối với các môn học:
- Quan điểm “ nội môn ”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội dung của môn học. Quan
điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ;
- Quan điểm “đa môn”, trong đó chúng ta đề nghị những tình huống,những “đề tài”
có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau. Ví dụ, giáo dục hướng nghiệp có
thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khác nhau (Sinh học, Giáo dục công dân, Văn
học, Toán học, Địa lý, Vật lý, Hóa học, ….) Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục
15
được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên
cứu các đề tài. Như vậy , các môn học không thực sự được tích hợp;
- Quan điểm “liên môn”, trong đó chúng ta đề xuất những tình huống chỉ có thể được
tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học. Ví dụ, câu hỏi: “Tại sao con
voi được bảo vệ?” chỉ có thể giải thích dưới ánh sáng của nhiều môn học: Địa lý, Lịch sử,
Toán học, Sinh học,… Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho
chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước: các quá trình học tập sẽ
không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề
phải giải quyết;
“học” và “hành”, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa bài học và sự liên hệ với đời sống –
xã hội... chưa thật sự được quan tâm đúng mức. Vì vậy, phần lớn học sinh đều bỡ ngỡ
trước các tình huống, sự kiện thực tế, đặc biệt là những vấn đề môi trường nóng bỏng của
địa phương, hoặc không biết đến những giá trị di sản thiên nhiên, lịch sử, văn hóa,xã hội
mà địa phương mình có… Học sinh càng ít cơ hội được hình thành và rèn luyện kỹ
năng phân tích, giải quyết những vấn đề thực tế, kể cả kỹ năng sống. Trong khi đó, chúng
ta hoàn toàn có thể tạo cơ hội để học sinh có được những kinh nghiệm đó thông qua dạy
học bộ môn bằng các hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khóa… Hơn
nữa, nhiệm vụ của giáo dục vì sự phát triển bền vững là tạo nên các thế hệ trẻ có đầy đủ
kiến thức, kỹ năng và hành vi phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của
địa phương. Việc dạy và học dựa trên thực tiễn địa phương chính là cách tiếp cận hiệu quả
để đạt mục tiêu thực hiện nhiệm vụ trên
Dạy và học dựa trên giải quyết vấn đề thông qua thực tế địa phương là một cách tiếp
cận không mới trong giảng dạy và học tập ở các trường phổ thông. Đó là việc sử dụng các
bối cảnh, tư liệu… của thực tế địa phương để tạo nên các tình huống có vấn đề trong các
bài giảng trên lớp hoặc là nơi tổ chức các hoạt động thực hành, ngoại khoá cho học sinh.
Nói một cách khác, một vấn đề cụ thể của địa phương sẽ được từng bộ môn khai thác theo
thế mạnh và sự phù hợp với bộ môn bằng các hình thức khác nhau. Hầu hết các môn học
đều có thể dựa vào thực tế của địa phương để tiến hành các hoạt động học tập và môn hóa
học là một trong số đó.
Dạy và học dựa trên giải quyết vấn đề từ thực tế địa phương thực chất là một quá
trình nhằm củng cố và phát triển ở học sinh sự hiểu biết và quan tâm trước hết tới những
vấn đề môi trường xung quanh mình, bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi, kỹ năng và ý
thức trách nhiệm để học sinh có thể tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải
quyết vấn đề môi trường xung quanh mình trước mắt cũng như lâu dài (Bộ Giáo dục và
Đào tạo/Chương trình phát triển Liên hợp quốc 1998).
Mục tiêu của dạy và học dựa trên thực tế địa phương là mà mỗi hoạt động cần đạt
tới là: Giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng hiểu biết và cảm nhận về môi trường xung
quanh mình cùng các vấn đề của nó (nhận thức); tiếp thu những khái niệm cơ bản về
môi trường xung quanh mình và cách bảo vệ môi trường xung quanh mình (kiến thức);
bộ cộng đồng được gắn liền với trách nhiệm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia,
mỗi con người cụ thể.
1.4.1.2 Nhận dạng những vấn đề ở địa phương
Để thực hiện việc dạy học dựa trên thực tế địa phương, bước đầu tiên đóng vai trò
tiên quyết là phát hiện vấn đề. Trước tiên, cần phải căn cứ vào nội dung môn học, chủ đề
của hoạt động làm cơ sở lựa chọn các vấn đề trong thực tiễn có liên quan trực tiếp đến
những nội dung đó.
Một việc cũng không kém quan trọng và có thể tiến hành song song với phát hiện
vấn đề, đó là phân tích tình hình thực tế địa phương; nghiên cứu để nhóm các vấn đề có
18
trong thực tế địa phương. Các nhóm vấn đề của địa phương thường bao gồm:
Nhóm vấn đề về môi trường tự nhiên xung quanh,
Nhóm vấn đề về các hoạt động kinh tế, các vấn đề xã hội, giáo dục,lịch sử…,
Nhóm vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực như nghèo đói, biến đổi khí hậu, bệnh
dịch…
Các nhóm vấn đề trên được thể hiện trong 3 giai đoạn của kịch bản, bao gồm các vấn đề
đang xảy ra tại địa phương (thường là không bền vững), những mong muốn về một tương
lai bền vững và cuối cùng là những nỗ lực để thúc đẩy quá trình. Các vấn đề ô nhiễm
không khí,đất,nước, tiếng ồn... thuộc nhóm vấn đề về môi trường tự nhiên. Ý thức chấp
hành pháp luật, xử phạt không nghiêm, cơ sở hạ tầng yếu kém… thuộc nhóm vấn đề về
kinh tế xã hội. Các vấn đề về qui hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản, lũ lụt, ngập úng
do biến đổi khí hậu và quản lý yếu kém… thuộc các vấn đề đa ngành, đa lĩnh vực. Các vấn
đề này được thể hiện ở 3 trạng thái: hiện trạng, mong muốn và nỗ lực để đạt được mong
muốn tốt đẹp hơn. Thực ra, việc phân chia chỉ mang tính chất tương đối, khi sử dụng vào
điều kiện cụ thể ở địa phương chúng ta có thể điều chỉnh cho phù hợp.
19
Liên ngành- đa lĩnh vực
• Nghèo đói,chiến tranh ....
Bảng 1: Cách phân loại các vấn đề khi tiếp cận với tình hình của địa phương
1.4.2. Dạy học theo dự án
1.4.2.1.Khái niệm dự án và dạy học theo dự án
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh và ngày nay
được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, trong đó đề án,
dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra. Khái niệm dự án
được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội: trong sản xuất, doanh
nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội…
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không
chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp
hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc-xây
20