BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THÚY
XÂY DỰNG - TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN ESTE - LIPIT,
AMIN - AMINO AXIT- PEPTIT- PROTEIN
HÓA HỌC 12 NÂNG CAO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THÚY
XÂY DỰNG - TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN ESTE - LIPIT,
AMIN - AMINO AXIT- PEPTIT- PROTEIN
HÓA HỌC 12 NÂNG CAO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa Học
Mã số: 60.14.01.11
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU................................................................................................................................9
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................9
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................................10
3. Mục đích nghiên cứu....................................................................................................11
4. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................................11
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu..............................................................................12
6. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................12
7. Giả thiết khoa học.........................................................................................................12
8. Những đóng góp mới của luận văn ............................................................................12
NỘI DUNG..........................................................................................................................13
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.......................................................................................13
1.1. Vai trò của tự học......................................................................................................13
1.1.1. Tự học giúp học sinh có kiến thức trong học tập...................................13
1.1.2. Tự học giúp người học có kinh nghiệm sống.........................................13
1.1.3. Tự học giúp phát triển tư duy .................................................................13
1.1.4. Tự học giúp học sinh khả năng sáng tạo, nhận biết tìm tòi, phát hi ện
và giải quyết vấn đề...............................................................................13
1.2. Các hình thức tự học..................................................................................................14
1.2.1. Khái niệm tự học......................................................................................14
1.2.2. Các hình thức tự học................................................................................14
1.3. Năng lực tự học.........................................................................................................19
1.3.1. Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông ...........19
1.3.2. Các kĩ năng cần thiết để tự học tốt........................................................20
1.4. Bài tập hóa học..........................................................................................................21
1.4.1. Khái niệm về bài tập hóa học.................................................................21
1.4.2. Phân loại bài tập hóa học........................................................................21
2.5.2. Amino axit.................................................................................................73
2.5.3. Peptit và protein........................................................................................87
2.6. Sử dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học phần este - lipit, amin - amino
axit -peptit- protein............................................................................................................96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2...................................................................................................97
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM................................................................................................98
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ...............................................................................98
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm ..............................................................................98
3.3. Tiến trình thực nghiệm sư phạm...............................................................................98
3.3.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng...............................................98
3.3.2. Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm.................................................99
3.3.3. Chuẩn bị nội dung thực nghiệm..............................................................99
3.4. Tiến hành thực nghiệm..............................................................................................99
3.4.1. Tiến hành giảng dạy................................................................................99
3.4.2. Tổ chức kiểm tra......................................................................................99
3.5. Kết quả thực nghiệm ...............................................................................................99
3.6. Xử lí kết quả thực nghiệm.......................................................................................100
3.6.1. Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm....................................................100
3.6.2. Phân tích kết quả thực nghiệm ............................................................105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.................................................................................................106
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ NGHỊ....................................................................................107
1. Kết luận......................................................................................................................107
2. Một số đề nghị............................................................................................................107
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................108
PHỤ LỤC
6
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Bài tập hoá học
Công thức cấu tạo
Công thức phân tử
Công thức tổng quát
Dạy học hoá học
Đối chứng
Điều kiện tiêu chuẩn
Định luật bảo toàn khối lượng
Giáo dục - Đào tạo
Giáo viên
Học sinh
Hệ thống bài tập
cần thiết, nó gần như mang tính quyết định cho sự thành công của cả một quá trình
dạy học.
Một trong những phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học của HS môn Hóa
học ở trường THPT là sử dụng HTBT phù hợp. BTHH đóng vai trò vừa là nội dung
vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kĩ năng thực hành
bộ môn một cách hiệu quả nhất. BTHH không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận
dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới. Mặt
khác, do thời gian dạy học môn Hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ
thống hoá lý thuyết và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ
thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà GV truyền thụ ở
trên lớp. Vì vậy việc xây dựng tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS là rất quan trọng và cần thiết.
9
Ngoài ra phần este-lipit, amin-aminoaxit và protein (Hóa hữu cơ 12) được
đánh giá là phần kiến thức khó, rất quan trọng, có tính vận dụng cao trong thực tiễn
sản xuất và đời sống. Nội dung này cũng thường xuyên có mặt trong các đề thi kì
thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh ĐH-CĐ, thi chọn HSG,... Với những lí do nêu trên, tôi
quyết định chọn đề tài: “XÂY DỰNG- TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG HỆ
THỐNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN
ESTE-LIPIT, AMIN-AMINOAXIT-PEPTIT-PROTEIN HÓA HỌC 12 NÂNG
CAO Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”.
Đây là ý tưởng thiết thực giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm, bồi dưỡng và phát huy năng lực tự học cho HS để học tập suốt đời, rèn
luyện khả năng hợp tác trong học tập hiện nay và năng lực làm việc nhóm trong lao
động sau này.
Tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần giúp các em nâng cao năng lực nhận thức và tư
duy, năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc
sống. Mặt khác cung cấp cho các em một hệ thống bài tập để ôn luyện, phục vụ cho
các mức độ tư duy trong dạy học chương chương "Anđehit - Xeton - Axit
cacboxylic" lớp 11 THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
8. Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kĩ năng giải bài tập hoá học ở trường
phổ thông trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
9. Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học
gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ
khoa học,ĐHSP TpHCM.
10. Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện
tư duy trong việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận án
tiến sĩ. ĐHSP Hà Nội.
11. Hoàng Kiều Trang (2004), Tăng cường năng lực tự học phần hoá vô cơ
(chuyên môn I) cho HS ở trường Cao đẳng Sư phạm bằng phương pháp tự học có
hướng dẫn theo môđun, Luận văn thạc sĩ giáo dục, ĐHSP Hà Nội.
Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng hệ thống BTHH hóa học phần este-lipit,
amin-amino axit-peptit-protein Hóa hữu cơ lớp 12 nâng cao ở các trường THPT
nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HSvẫn chưa được quan tâm đúng mức.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về lí luận và thực tiễn của việc tự học từ đó thiết
kế và sử dụng một hệ thống bài tập hóa học hữu cơ phần este-lipit, aminaminoaxit và protein Hóa học 12 nâng cao giúp HS tự học hiệu quả nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và điều tra thực trạng việc dạy học hóa học cũng
như tình hình sử dụng bài tập để bồi dưỡng năng lực tự học.
4.2. Xây dựng cơ sở khoa học cho việc xây dựng hệ thống bài tập gồm:
- Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập.
- Quy trình xây dựng bài tập hóa học mới.
- Phương pháp xây dựng bài tập hóa học mới.
4.3. Hệ thống hóa lí thuyết cơ bản, tuyển chọn và biên soạn bài tập mới theo
các chủ đề, các dạng đồng thời đưa ra phương pháp giải tổng quát cho mỗi dạng và
phương pháp giải từng bài cụ thể thuộc phần este-lipit, amin-amino axit-peptitprotein giúp HS có được một tài liệu có chất lượng để bồi dưỡng năng lực tự học.
chất lượng thì sẽ phát huy được tính tích cực sáng tạo của HS. Đồng thời tài liệu sẽ
giúp nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra, tự nghiên cứu.
8. Những đóng góp mới của luận văn
- Về mặt lí luận: Làm sáng tỏ một số khái niệm và nguyên tắc của phương
pháp tự học cũng như tầm quan trọng của nó trong dạy học.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài đã góp phần xây dựng một hệ thống kĩ năng và bài
tập phần este-lipit, amin-amino axit-peptit và protein.
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Vai trò của tự học
Về mặt lí luận cũng như thực tiễn, tự học là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng
trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo, nó giúp cho con người
không những có tri thức trong học tập mà ngay cả trong đời sống hàng ngày.
1.1.1. Tự học giúp học sinh có kiến thức trong học tập
Thực tế cho thấy, phần lớn kinh nghiệm và kiến thức có được ở mỗi người là
nhờ tự học. Tự học có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng học tập của HS, chỉ
có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường nhiều hình thức như ôn lại bài,
làm bài tập trong sách giáo khoa, sách nâng cao, hay các em đọc các tài liệu khác thì
mỗi HS mới có thể tự bù đắp được những thiếu khuyết về kiến thức khoa học về đời
sống xã hội, chỉ cần có sự cố gắng bền bỉ tự học, thì dù điều kiện chưa tốt, chưa đầy
đủ thì giá trị của việc tự học sẽ mang lại cho người học có những kiến thức chiếm
lĩnh những tri thức đó và từng bước có năng lực mới, phẩm chất mới, từ đó mang lại
hiệu quả cho học tập. Chính những khả năng này giúp các em có thời gian tìm tòi,
khám phá kiến thức, biến kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình.
1.1.2. Tự học giúp người học có kinh nghiệm sống
1.2.1. Khái niệm tự học
- Theo Từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển Bách khoa 2001 “Tự học là quá trình
tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”.
- Theo GS.TS. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,...) và có khi cả cơ
bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến
thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi
đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó
của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [29, tr.59-60].
-Theo GS- TSKH Thái Duy Tuyên: “ Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lực trí
tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp …) cùng với các phẩm chất động cơ, tình
cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm
lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
[39, tr.13-15].
- Theo GS Trần Phương: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức
là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của
mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri
thức ấy” [18, tr-3].
Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi có thể định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh
tri thức bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
1.2.2. Các hình thức tự học
Theo tài liệu Lí luận dạy học hóa học- tự học có 3 hình thức:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu và
vận dụng các kiến thức trong đó.
14
* Đọc sách để từ đó biết cách khai thác và mở rộng kiến thức
Trong quá trình học tập, HS luôn phải sử dụng SGK, nhưng các em đọc không
có nghĩa một cách thụ động mà từ SGK phải biết mở rộng, đào sâu kiến thức mà
kiến thức cơ bản là từ SGK, từ kiến thức cơ bản SGK HS có thể tư duy phát triển
suy lí những kiến thức sâu hơn hoặc những bài toán hóa học khó. Từ đó kiến thức
SGK đến các em một cách tự nhiên không thụ động.
15
* Quá trình học luôn lấy sách giáo khoa làm cơ bản.
Đối với HS khá giỏi, các em luôn có xu hướng tìm hiểu kiến thức vượt khỏi
SGK, nhưng chúng ta không ít gặp những trường hợp làm bài toán khó thì được
nhưng làm bài toán cơ bản thì lại không thể làm được, vì sao vậy ? Vì bản thân các
em là những HS có tố chất thông minh nhưng do quá trình kiến thức cơ bản không
được coi trọng, các em không đi từ gốc tới ngọn mà chỉ hớt phần ngọn. Tình trạng
như vậy ta gặp không ít, quá trình làm bài toán như cái máy nhưng không rõ vì sao
như vậy và bắt đầu từ đâu. Do đó quá trình học tập GV phải có sự hướng dẫn và chỉ
cho các em thấy được kiến thức SGK là cơ bản và việc phát triển kiến thức cũng
phải từ kiến thức cơ bản là SGK. Làm như vậy các em sẽ hiểu một cách cặn kẽ, sâu
sắc từ gốc đến ngọn, đi theo đướng xoắn ốc.
Trong các kì thi Đại học, cao đẳng hiện nay với hình thức thi trắc nghiệm
khách quan thì cách học bám sát SGK sau đó bằng cách suy luận sáng tạo thông
minh và các mẹo giải nhanh, kiến thức phải toàn diện thì mới có kết quả cao.
- Tự học với tài liệu.
Kiến thức trong SGK là cơ bản, nhưng chỉ dừng lại ở kiến thức đó thì chưa đủ,
muốn học tốt môn Hóa học cũng như các môn khác ngoài việc sử dụng SGK HS
còn phải biết sử dụng các cuốn sách tham khảo phục vụ cho quá trình học tập của
mình, nhưng làm thế nào để có thói quen và hứng thú đọc sách và sử dụng sách như
thế nào cho hiệu quả thì khi đó HS phải có sự hướng dẫn của GV.
Thực tế ta thấy, việc HS đọc sách tham khảo còn rất ít, các em chưa ý thức
ngoài tạo lòng say mê đọc sách còn hướng dẫn cho HS đọc sách như thế nào để có hiệu quả.
b. Tự ôn bài và tự làm bài tập
Việc tự ôn bài và làm bài tập ở nhà là viêc làm rất cần thiết và quan trọng đối
với HS, tạo cho các em có khả năng cơ bản của của việc tự học.
Đó là thời gian các em độc lập làm việc, tự bản thân các em ôn lại kiến thức
sau mỗi bài học ở trên lớp tìm ra mối liên hệ kiến thức giữa bài trước và bài sau,
giữa các chương, giữa các phần với nhau. Giúp các em có hệ thống về kiến thức.
Ngoài ôn lại kiến thức các em còn phải làm bài tập, sau mỗi bài, mỗi chương và các
bài tập tham khảo việc các em làm bài tập là rất cần thiết nhằm giúp các em ghi sâu
kiến thức, biết vận dụng kiến thức đã học. Do đó ngoài thời gian học trên lớp thầy
cô và gia đình cần dành thời gian và hướng dẫn các em tự học ở nhà, mặt khác để
HS làm bài tập có hiệu quả thì thì GV phải chuẩn bị và giao bài tập một cách hợp lý
nhằm phát huy hết khả năng của các em cũng như là khai thác hết tiềm năng, ứng
dụng của kiến thức và việc ôn lại bài nhằm giúp các em củng cố lại kiến thức, giúp
các em nâng cao trí nhớ và sắp xếp, hệ thống lại kiến thức.
Để HS ôn lại bài và làm bài tập có hiệu quả thì khi giao bài tập cho HS ta cần
đảm bảo các nguyên tắc sau:
Tạo nên việc học liên tục, bài vừa đưa học ở trên lớp, tức là bài tập đưa ra
cần có sự liên hệ mật thiết với bài HS đang học, bài tập có thể phát triển từ bài học
khác hoặc bài học đang thể hiện tính khoa học, phù hợp với hoạt động học nhưng
bài tập cũng không quá dễ để HS phải nhàm chán hoặc không nên quá khó làm HS
nản lòng.
Chuẩn bị bài học tiếp theo lúc này:
Ngoài bài tập củng cố kiến thức cho bài hôm nay bài tập còn có thể cho HS
thông tin tổng quát và sự hiểu biết về bài học sắp được học.
17
Cung cấp và hướng dẫn HS việc tự học, việc giao bài tập có thể là cung cấp
trực tiếp và chủ yếu việc tự học cho HS khi giao bài tập ta ra lượng vừa đủ, vừa sức,
từ giao tiếp đến những nếp sống hàng ngày, nếu các em không học thế giới xung
quanh thì các em không thể tồn tại được. Vì vậy việc hướng dẫn, bồi dưỡng cách
thức học thế giới xung quanh là điều kiện cần thiết giúp HS làm quen thế giới xung
quanh, mặt khác dể các em thấy được mối liên hệ giữa kiến thức sách vở với đời
sống bên ngoài.
18
Tự học thế giới xung quanh có thể tự học ngôn ngữ, cách giao tiếp, nếp sinh
hoạt trong gia đình và bên ngoài, làm quen với thiên nhiên, tìm hiểu thế giới xung
quanh như có thể tổ chức cho các em đi tham quan tìm hiểu thực tế như thăm các
nhà máy, các công tình, cách vận dụng máy móc, cách sản xuất làm ra sản phẩm,
tìm hiểu thiên nhiên,...
Sau những chuyến thăm quan như vậy rất bổ ích đối với các em, giúp các em
tìm hiểu thế giới xung quanh, thấy được ứng dụng của kiến thức sách đối với thực
tế đời sống, ghi sâu kiến thức, tạo tính tò ham học hỏi đối với các em để từ đó có
khát vọng phấn đấu học tập trong tương lai.
1.3. Năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ có khi cả năng
lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
1.3.1. Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương pháp, cách thức tốt nhất để tạo ra động
lực mạnh mẽ cho quá trình học tập.
Để có động lực học tập mạnh mẽ, trước tiên cần khuyến khích tất cả HS phải
có mơ ước (trở thành người như thế nào trong tương lai ?: sau khi tốt nghiệp THPT
em muốn học tiếp trường nào ? làm nghề gì ? làm việc cho cơ quan, tổ chức nào ?
sống ở đâu ?, ...), khi đã có mơ ước, em hãy đề ra mục tiêu cụ thể, kế hoạch cụ thể
để phấn đấu đạt được mơ ước đó.
Để thực hiện mục tiêu (do HS tự đề ra cho bản thân), GV cần đào tạo, rèn
1.3.2. Các kĩ năng cần thiết để tự học tốt
Kĩ năng là tổng hợp các thao tác, cử chỉ phối hợp hài hòa hợp lý nhằm đảm
bảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ít
nhất trong những điều kiện thay đổi.
Để đạt kết quả tốt trong tự học, HS cần nắm vững những kĩ năng, phải rèn luyện
để hình thành cho mình những kĩ năng. Theo chúng tôi, các kĩ năng cần có đó là
Thứ nhất: Kĩ năng kế hoạch hóa việc tự học. Kĩ năng này cần tuân thủ các
nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn
học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ
nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập,
biết tự kiểm tra.
Thứ hai: Kĩ năng nghe và ghi bài trên lớp. Quy trình nghe giảng gồm các khâu
như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đối với bài mới. Khi
nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của GV, liên hệ với kiến thức đang
nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình dung trước. Cần lưu ý cách ghi bài khi
nghe giảng như ghi một cách chọn lọc, sử dụng kí hiệu riêng, ghi cả chính đề lẫn
phản đề, ghi thắc mắc của chính mình.
Thứ ba: Kĩ năng ôn tập. Kĩ năng này được chia làm hai nhóm là kĩ năng ôn, kĩ
năng tập luyện. Kĩ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm
lĩnh kiến thức bài giảng của thầy. Đó là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại
bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin
nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài. Việc
tái hiện bài giảng dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận
20
từ bài giảng của thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy
bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ lô gic có thể có cả kiến
thức cũ và mới.
Kĩ năng tập luyện có tác dụng trong việc hình thành kĩ năng tương ứng với những
về nội dung, thích hợp về phương pháp và bám sát mục đích, nhiệm vụ dạy học ở
trường phỏ thông.
21
- Yêu cầu thứ nhất: Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp về mối liên hệ giữa những đại lượng và khái niệm đặc trưng cho quá trình hoặc
hiện tượng, sao cho từng bước HS hiểu được kiến thức một cách vững chắc và có kĩ
năng, kĩ xảo vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đó.
- Yêu cầu thứ hai: Mỗi bài tập được chọn phải là một mắt xích trong hệ thống
kiến thức của HS, giúp cho HS hiểu được mối liên hệ giữa các đại lượng, cụ thể hóa
các khái niệm và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làm sáng tỏ.
-Yêu cầu thứ ba: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS trong học tập.
- Yêu cầu thứ tư: Hệ thống các bài tập được lựa chọn phải giúp cho HS nắm
được phương pháp giải từng loại, dạng cụ thể.
- Yêu cầu thứ năm: Nội dung bài tập phải phù hợp với các đối tượng HS, thời
gian học tập của HS ở lớp và ở nhà.
Như vậy hệ thống bài tập được xây dựng vừa để thõa mãn các yêu cầu trên,
vừa nhằm đáp ứng được mục tiêu bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy sáng tạo
của HS thông qua việc sử dụng hợp lý hệ thống bài tập trong dạy học.
1.4.2.2. Phân loại bài tập hóa học
Việc phân loại bài tập hóa học chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên có thể căn cứ
vào các đặc điểm, dấu hiệu cơ bản để phân loại theo: Nội dung, mục đích dạy học,
phương thức cho điều kiện hay phương pháp giải, đặc điểm và phương pháp nghiên cứu
vấn đề, yêu cầu rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy HS, mức độ khó dễ.
- Phân loại theo nội dung: Bài tập tài liệu hóa học (bài tập hóa học vô cơ, bài
tập hóa học hữu cơ,...) bài tập cụ thể- trừu tượng, bài tập kĩ thuật, tổng hợp, …
- Phân loại theo mục đích dạy học: Bài tập củng cố, bài tập nâng cao.
- Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải: Bài tập bằng
học. Bởi vậy giải bài tập là một hình thức tự lực cơ bản của HS. Trong thực tiễn dạy
học, tư duy hóa học được hiểu là “ kĩ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích
một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định
lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước các hệ quả từ các lý thuyết và áp
dụng kiến thức của mình”. Trước khi giải bài tập HS phải phân tích các dữ kiện của
đề bài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến
hành thí nghiệm … Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của HS
được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao.
Bài tập hóa học là một phương tiện rất tốt để rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo
liên hệ lý thuyết với thực tế, vận dụng kiến thức đã học vào đời sống, lao động sản
xuất. Bởi “kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo
chúng vào việc hoàn toàn những bài tập lý thuyết và thực hành”. Từ đó có tác dụng
giáo dục tổng hợp và hướng nghiệp cho HS.
Bài tập hóa học còn có tác dụng cho HS về phẩm chất tư tưởng, đạo đức.
thông qua giải các bài tập, còn rèn luyện cho HS phẩm chất độc lập suy nghĩ, tính
kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kích thích hứng thú
học tập môn Hóa học nói riêng và học tập nói chung.
Bài tập hóa học còn là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kĩ
năng của HS một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá
việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS có một ý nghĩa rất quan trọng. Một trong
23
những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là cho HS giải các bài
tập. Thông qua việc giải bài tập của HS, GV còn biết được kết quả giảng dạy của
mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy của mình cũng
như hoạt động học của HS.
Ngoài ra ở mức độ cao hơn mức luyện tập thông thường, HS phải biết vận
dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình
huống mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng của mình, biết đề xuất các giải
Kiểm tra, xác nhận kết quả
Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải theo một
hoặc một số phương án sau:
- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi của đè bài yêu cầu chưa, đã xét hết
các trường hợp chưa.
- Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không.
- Kiểm tra thứ nguyên xem có phù hợp không.
- Xét kêt quả về ý nghĩa thực tế xem có hợp lý không.
- Kiểm tra bằng thực nghiệm xem có phù hợp không.
- Thử giải bài tập theo cách khác xem có cùng kết quả.
1.5. Thực trạng về khả năng tự học của học sinh ở bậc Trung học phổ thông hiện nay
1.5.1. Mục đích điều tra
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn hóa hiện nay của một số
trường phổ thông: Trường THPT Nghi Xuân, Trường THPT Nguyễn Công Trứ,
Trường THPT Nguyễn Du (Nghi Xuân- Hà Tĩnh). (Phụ lục 1) - Từ đó làm cơ sở để
phát triển đề tài.
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng, sử dụng hệ thống bài tập
bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy hoá học trong bối cảnh hiện nay.
- Tìm hiểu về tinh thần, thái độ, cách sử dụng thời gian của HS đối với việc tự
học. (Phụ lục 1).
1.5.2. Khó khăn
Thực tiễn cho thấy BTHH không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức đã
học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tự học và rèn trí
thông minh cho HS. Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH như là một phương pháp dạy
học hiệu quả thì chưa được chú ý đúng mức.
-Về phía giáo viên
Nhiều GV chưa đưa ra được hệ thống kiến thức trọng tâm hay những nội dung
cần chú ý cho HS để HS cảm thấy dễ hiểu, từ những nội dung nhỏ, hẹp rồi phát