Giải pháp quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện lộc hà tỉnh hà tĩnh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________________________________

NGUYỄN DUY NGỌC

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_____________________________________________

NGUYỄN DUY NGỌC

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

MỤC LỤC


Trang
2.1.1.2. Quản lý giáo dục................................................................................13
1.2.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, quản lý hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp ở trường trung học phổ thông.......................................15
1.2.2.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp................................................15
3.2.2. Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp..........................................................................................................71
3.2.2.1. Mục đích của giải pháp................................................................71
3.2.2.2. Nội dung của giải pháp.................................................................72
3.2.3.4. Điều kiện thực hiện........................................................................74


CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL

Cán bộ quản lý

CHN-HĐH

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CSVC

Cơ sở vật chất

ĐH, CĐ


PCGD

Phổ cập giáo dục

QLGD

Quản lý giáo dục

TB

Trung bình

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TBDH

Thiết bị dạy học

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHHGD

học để cùng chung sống”[29]. Mục tiêu của giáo dục phổ thông chuyển
hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang hình thành năng lực, phẩm chất
cho người học. Phương pháp giáo dục phổ thông đổi mới theo hướng phát huy
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm của
lứa tuổi, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành thái độ, hành vi đúng
đắn và các kỹ năng hoạt động, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội
về chính trị, đạo đức, pháp luật..., thì các nhà trường còn phải giúp HS bổ
sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp; như vậy quá trình giáo dục
không những được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà
còn thông qua các hoạt động GDNGLL.
Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học
các môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽ


2

với hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường, nhằm tạo
môi trường thích hợp cho người học, gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất
giữa nhận thức với hành động và cơ hội trải nghiệm, sáng tạo, góp phần tích
cực vào việc hình thành và phát triển kỹ năng sống, khả năng tự giáo dục, tự
rèn luyện của HS. Hoạt động GDNGLL còn giúp nhà trường và GV phát triển
chương trình giáo dục phổ thông và góp phần xây dựng văn hóa nhà trường.
Hoạt động GDNGLL là cầu nối để tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà
trường và xã hội; Là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộng
đồng cùng tham gia vào quá trình phát triển nhà trường.
Hoạt động GDNGLL được quy định cụ thể tại Điều lệ trường THCS,
trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo
Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ GD&ĐT, tại Điều

những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn
hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh” [9].
Nhiều nước trên thế giới cũng đã rất coi trọng nội dung hoạt động
GDNGLL trong chương trình giáo dục, đó là các nước: Pháp, Thụy Sĩ, Đức,
Ý, Hoa Kỳ, Canađa, Úc, Singapore,...
- Trong thực tiễn hoạt động giáo dục của trường THPT nói chung và
các trường THPT ở huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, hoạt động
GDNGLL tuy đã được duy trì có nề nếp nhưng chưa đổi mới, chưa thực sự
phát huy hiệu quả và chưa được thực hiện nghiêm túc; Nhận thức và năng lực
của đội ngũ CBQL và GV còn nhiều hạn chế, chất lượng hoạt động GDNGLL
chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục toàn diện HS. Điều đó thể hiện ở sự hạn
chế nhiều về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, năng
lực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác,... của HS đang học phổ thông cũng như


4

sau khi tốt nghiệp THPT.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp
quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường Trung học phổ
thông huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất được những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động GDNGLL, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện tại các trường THPT huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này gồm: Phương pháp điều tra, tổng kết kinh
nghiệm giáo dục, phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, phương pháp tổng kết
kinh nghiệm,.. nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng xây dựng cơ
sở thực tiễn của đề tài.
7.3. Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu điều tra, thu thập được.
8. Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động
GDNGLL ở trường THPT;
- Về thực tiễn: Luận văn đánh giá thực trạng quản lý hoạt động
GDNGLL; phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất các giải pháp
quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT huyện Lộc Hà, tỉnh Hà


6

Tĩnh;
- Đây có thể là tài liệu tham khảo cho CBQL và GV các trường THPT.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở trường trung học phổ thông
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
các trường trung học phổ thông huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3. Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh



8

câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và ở Công xã F.E.Dzerjinski như: tổ
đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng tự do, tổ khoa học thực nghiệm
tự nhiên, tổ vật lý, hóa học, tổ thể dục thể thao,... Việc phân các em vào các tổ
chức ngoại khóa, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các
em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các tổ phải kỷ luật trong quá
trình hoạt động [1].
Vào những năm của thập niên 60 - 70 của Thế kỷ XX, nước Liên Xô
đang trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội, việc giáo dục con người
phát triển toàn diện được Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết quan tâm; Các
nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và hoạt động GDNGLL nói riêng
được đẩy mạnh. Trong sách “Giáo dục học” tập 3, tác giả T.A.Ilina đã đề cập
tới khái niệm, nội dung và các hình thức cơ bản của hoạt động GDNGLL.
Trong quyển “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”, tác
giả I.X. Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và
ngoài giờ học, nội dung và các hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL, vị trí
của người hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức
Đoàn, Đội.
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về hoạt động GDNGLL đã thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà giáo trong cả nước bắt đầu từ những năm 80 của Thế kỷ
XX đến nay. Tuy vậy, trước đó, từ năm 1945 đã có một số tài liệu đề cập đến
vấn đề hoạt động GDNGLL; ở giai đoạn này cách mô tả tên gọi và nội dung
của khái niệm “hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” chưa được rõ ràng,
nhưng nội hàm cơ bản của khái niệm đã được đề cập đến; trong “Thư gửi học
sinh” nhân ngày khai trường vào tháng 9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Người viết: “Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào
các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp


định.


11

Còn F.W. Taylor (1856 - 1915) định nghĩa: Quản lý là biết được chính
xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn
thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
H. Fayol (1845 - 1925) là cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho
rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối
hợp và kiểm tra.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung
là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[18].
Tác giả Thái Văn Thành cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đề ra”[25].
Theo các tác giả Trần Hữu Cát, Hoàng Minh Duệ thì: Quản lý là hoạt
động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, trong đó quan trọng
nhất là khách thể con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí khi nhấn mạnh đến chức năng
của hoạt động quản lý cho rằng: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm
tra.
Tác giả Nguyễn Bá Sơn định nghĩa: Quản lý là sự tác động có hướng
đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải
pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận
mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người,…
Từ đó, có thể hiểu: Quản lý là việc nhằm đạt đến mục tiêu đã xác định
thông qua sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đốỉ

người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự
giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.
- Chức năng kiểm tra: Nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra.


13

Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục
tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức.
Tất cả các chức năng nêu trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin
đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch;
thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan
hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và
thông tin phản hồi diễn biến hoạt động của tổ chức và thông tin từ kết quả
hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu
của toàn bộ tổ chức.
2.1.1.2. Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận về QLGD của Liên Xô đã đưa ra một số khái niệm,
như M.M.Mechti Zade đã nêu: QLGD là tập hợp những biện pháp (tổ chức,
phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính,...) nhằm bảo đảm sự
vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự
tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt
chất lượng.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng, QLGD là khái niệm đa cấp (bao
hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó đặc biệt là
quản lý trường học): Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống
vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các
tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến

và giáo dục là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và
phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này. Vì vậy, quản lý
nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt
động học tập - tự giáo dục của trò diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục.
Có thể nói rằng quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình dạy học -


15

giáo dục.
Quản lý nhà trường bao gồm:
* Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà
trường.
- Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản
lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục
của nhà trường.
- Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực
thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như
cộng đồng được đại diện dưới hình thức là Hội đồng giáo dục nhằm định
hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện
phương hướng phát triển đó.
* Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm
các hoạt động sau: quản lý GV; quản lý HS; quản lý quá trình dạy học, giáo
dục; quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, tài chính trường học;
quản lý lớp học; quản lý mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội.
Tóm lại: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình; đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với với từng HS
cũng như với thế hệ trẻ.

thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức và tiến hành ngoài
giờ lên lớp nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo nhân cách học sinh, đáp
ứng những yêu cầu đa dạng của đời sống xã hội.
Hoạt động GDNGLL tạo điều kiện cho HS hoạt động theo hứng thú, sở
thích của mình. Nhờ đó bồi dưỡng được nhanh chóng năng lực riêng của từng
HS và góp phần hướng nghiệp cho họ. Hoạt động GDNGLL còn có thể giúp
HS củng cố, mở rộng, khắc sâu thêm tri thức, gắn liền lý luận với thực tiễn,


17

phát huy tác dụng của học tập đối với đời sống.
Hoạt động này do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên
lớp theo chương trình, kế hoạch dạy học. Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối
tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường chỉ đạo.
Hoạt động GDNGLL có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục HS
nói chung và càng quan trọng đối với lứa tuổi HS THPT; ở lứa tuổi này,
khuynh hướng của các em là ham hoạt động, ham hiểu biết, năng động, tự lập,
có trình độ tư duy phát triển, đã hình thành và phát triển các kỹ năng học tập,
thói quen tự học từ các lớp dưới và ngày càng có điều kiện thu thập thông tin
đa dạng và phong phú. Vì thế, quá trình giáo dục đối với lứa tuổi này sẽ gặp
không ít khó khăn, đòi hỏi phải có sự khéo léo, kịp thời và đúng đắn, lôi cuốn
các em vào hoạt động nhằm phát huy khuynh hướng tự lập của các em thành
những cá tính sáng tạo và ý thức tập thể. HS THPT là đối tượng có nhiều biến
đổi về chất trong quá trình học tập và rèn luyện; các em mạnh dạn hơn, suy
nghĩ mở hơn, có những nhu cầu mới hơn, đặc biệt là nhu cầu về hoạt động,
giao lưu. Mặc dù hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo, song nội dung
và tính chất hoạt động học tập ở lứa tuổi này khác rất nhiều so với các lứa tuổi
trước. Nó đòi hỏi ở các em tính năng động và độc lập cao hơn, tư duy lôgic
nhiều hơn. Những yêu cầu đó vừa phải được thực hiện trong hoạt động học

các bộ môn văn hóa ở trên lớp, là sự tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt
động học tập trên lớp, là con đường gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn,
nhận thức với hành động,… Hoạt động này được tiến hành nối tiếp hoặc xen
kẽ hoạt động dạy - học trong phạm vi nhà trường hoặc xã hội, nó diễn ra trong
suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho
quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc. Trong quá trình tổ chức hoạt
động có thể có sự tham gia, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục khác nhau
nhưng nhà trường vẫn giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời hoạt động GDNGLL là
điều kiện thuận lợi để HS phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạt động,


19

nâng cao được tính tích cực hoạt động, qua đó rèn luyện những nét nhân cách
tốt đẹp của con người.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường trung
học phổ thông
Quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT là hệ thống những tác
động có hướng đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm làm cho hoạt động GDNGLL thực hiện được mục tiêu đặt ra.
Nội dung của quản lý hoạt động GDNGLL, có thể bàn đến các nội
dung quản lý hoạt động này theo các cách tiếp cận khác nhau:
a) Theo chức năng quản lý: Quản lý hoạt động GDNGLL chính là thực
hiện 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động
GDNGLL.
b) Quản lý theo nội dung hoạt động GDNGLL:
-Hoạt động chính trị - xã hội.
-Hoạt động phục vụ học tập, sáng tạo khoa học.
-Hoạt động công ích xã hội.
-Hoạt động văn hoá nghệ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status