biện pháp quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởngtrường trung học phổ thông lí thường kiệt thành phố bắc ninh, bắc ninh - Pdf 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
  

NGUYỄN VĂN TÁM

BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÍ THƢỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ BẮC NINH – BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn nghiên cứu khoa học:
TIẾN SĨ: NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành của một học viên, tôi vô cùng cảm ơn Ban
giám hiệu, các thày cô giáo của phòng Quản lí khoa học, Khoa quản lí giáo
dục; Khoa tâm lí giáo dục; Thư viện trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã giúp tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
này. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tuyết Mai – Người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và chuyªn viên Sở
Giáo dục và §ào tạo Bắc Ninh; Các đồng chí cán bộ quản lí; giáo viên; các
bạn đồng nghiệp ở các trường THPT và những người thân đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu
sót và hạn chế, tôi rất mong được sự thông cảm, góp ý phê bình của các thầy
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để công trình nghiên cứ tiếp theo của tôi được
tốt hơn.

Giỏo viờn ch nhim
GVCN
Giỏo viờn b mụn
GVBM
Hc sinh
HS
Hot ng
H
Hot ng giỏo dc
HGD
Hot ng giỏo dc ngoi gi lờn lp
HGDNGLL
Ph huynh hc sinh
PHHS
Qun lớ giỏo dc
QLGD
Trung hc c s
THCS
Trung hc ph thụng
THPT
Xó hi húa giỏo dc
XHHGD
Thành phố
Tp
Cơ sở vật chất
CSVC
Kinh tế Xã hội
KTXH
hành động, giữa qúa trình dạy học và quá trình giáo dục, nhằm thực hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
nguyên lý giáo dục: “ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục
gia đình và xã hội” [24]. Đặc biệt là tạo ra môi trường thân thiện nhằm thúc
đẩy học sinh hứng thú, sây mê học tập. Nhận thức rõ tầm quan trọng của
HĐGDNGLL trong việc giáo dục toàn diện HS, nên ngày 19/11/2002 Bộ
GD&ĐT đã ban hành quyết định số 47/2002/QĐ - Bộ GD &ĐT quyết định
chính thức đưa HĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và giáo dục ở các trường
THCS và THPT được bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 với số tiết và chủ đề
qui định kèm theo cho từng khối lớp.
Theo quyết định trên Sở GD& ĐT tỉnh Bắc Ninh đã triển khai thực hiện
đưa HĐGDNGLL vào các trường THPT trên toàn tỉnh nói chung và trường
THPT Lí Thường Kiệt nói riêng. Tuy nhỉên trong quá trình thực hiện có một
bộ phận cán bộ quản lí, một số giáo viên và học sinh cũng như cha mẹ HS
chưa nhận thức đúng đắn vai trò của HĐGDNGLL, những hoạt động này còn
được coi là hoạt động phụ khoá, mất thời gian, ảnh hưởng đến các hoạt động
học tập nên còn bị xem nhẹ, coi thường và bỏ qua. Bên cạnh đó dù vẫn thực
hiện theo quy định của chương trình song nhiều GVCN không mấy hứng thú,
không chủ động, tự giác xây dựng các hoạt động giáo dục NGLL bởi công
việc đòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức trong khi chế độ thanh toán, đãi
ngộ vẫn chưa được cải tiến, sửa đổi phù hợp; Bên cạnh đó, một số GVCN
còn hạn chế về năng lực tổ chức chỉ đạo hoạt động cho HS, hơn nữa kinh phí tổ
chức HĐGDNGLL cũng là một khó khăn đáng kể cho các trường THPT, nhà
trường phải hoàn toàn tự túc vấn đề kinh phí, trong khi việc tổ chức
HĐGDNGLL lại rất tốn kém. Mặt khác, vẫn có nhiều HS không tự giác, tích cực
tham gia vào các HĐGDNGL do giáo viên chủ nhiệm và nhà trường tổ chức.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài như lý luận về quản lý, biện pháp
quản lý giáo dục, quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT.
5.2 Nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông - Thành phố Bắc
Ninh và Trường THPT Yên Phong số II - Huyện Yên Phong; Trường
THPT Nguyễn Văn Cừ - Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân
của thực trạng đó.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT
Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh.
6. Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
6.1 Địa bàn nghiên cứu
Tính đến thời điểm này, tỉnh Bắc Ninh có 34 trường THPT trong đó có 23
trường Quốc lập; 11trường Dân lập (không kể các trung tâm GDTX). Trong
điều kiện và thời gian có hạn, tôi chỉ khảo sát thực trạng quản lí hoạt động
GDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông;
Yên Phong số II; Nguyễn văn Cừ. Từ đó, đề xuất biện pháp quản lí
HĐGDNGLL của hiệu trưởng TrườngTHPT Lí Thương Kiệt - TP Bắc Ninh -
Tỉnh Bác Ninh nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng trong việc quản lí
HĐGDNGLL của nhà trường trong những năm học tiếp theo.
6.2 Thời gian nghiên cứu khảo sát
Đề tài đi nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lí HĐGDNGLL của hiệu
trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông; Yên Phong số II;
Nguyễn Văn Cừ qua cỏc năm học: 2008 - 2009: 2009 – 2010 và 2010 – 2011
nhằm có đánh giá sát thực về công tác chỉ đạo, quản lí HĐGDNGLL của nhà
trường . Đồng thời qua đây rút ra được những kinh nghiệm, bài học và biện

7.3. Nhóm phương pháp xử lí thông tin và đánh giá
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí số liệu khảo sát, thực nghiệm
nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu một cách chính xác hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
8. Những đóng góp của đề tài
Phát hiện được thực trạng biện pháp quản lí HĐGDNGLL ở trường
THPT Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh; trường THPT Yên Phong số 2 - Huyện
Yên Phong; trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Huyện Từ Sơn; trường THPT Lí
Nhân Tông - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng quản lí
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của
Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt, trường THPT Lí Nhân Tông,
trường THPT Nguyễn Văn Cừ, trường THPT Yên phong số II tỉnh Bắc Ninh
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của
Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh – Bắc Ninh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP


thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hungari, Ông đã rất coi trọng HĐGDNGLL
đối với HS. Ông cho HS tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ
sâu sắc những nội dung cần thiết. Ông thấy rằng những chàng trai thường
ngày so đo, rụt rè ngại giao tiếp, phát biểu trước đám đông nay ra trước công
chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh, những con người mới mấy tuần lễ trước
còn đọc câu ngắc ngứ bây giờ đã có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không
phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm hùng hồn đầy tính thuyết phục. ở
thời đó Cômenxki đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở
rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dạy và phát huy những khả
năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện nhân cách cho HS. Ông đã chứng minh cho
quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “ Học tập không
chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu
trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ ” [6; 93].
Pétxtalôzi (1746 - 1827) một nhà giáo dục lớn của Thuỵ sĩ và thế giới ở
cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỷ XIX, với lòng nhân ái sâu sắc ông muốn cứu vớt
trẻ em mồ côi, bất hạnh hay con nhà nghèo bằng con đường giáo dục thông qua
thực nghiệm. Đó là việc ông xây dựng ra những “ trại mớ ”, ở đây trẻ em vừa
được học văn hoá, vừa được lao động ở ngoài lớp, ngoài trường học. Ông cho
rằng HĐGDNGLL không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo
dục toàn diện HS [22].
Robert Owen (1771 - 1858), một nhà giáo dục lớn, một nhà xã hội theo
chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ XIX muốn cải tạo xã hội bằng con đường
giáo dục đi từ cuộc thực nghiệm giáo dục trong công xưởng của ông ở nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Anh. Qua cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại này, ông đặt ra một phương thức
giáo dục bất hủ là: “ Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất ”, “ kết hợp giáo
dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội ” [22].

một số biện pháp cần thiết cho nhà quản lý. Vấn đề đặt ra ở đây là người Hiệu
trưởng phải làm gì để tổ chức và quản lý chỉ đạo tốt các hoạt động này nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục trong cơ sở của mình.
1.1.2. Ở Việt Nam
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, khi xây dựng chương trình giáo dục,
Bộ giáo dục đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong
môn học đạt kết quả đầy đủ thì nhà trường cần tổ chức ngoại khoá cho các
môn học. Hoàn cảnh kháng chiến trước đây chưa cho phép chúng ta thực hiện
đầy đủ công tác này cho nên trong chương trình cũng chưa ghi phần ngoại
khoá. Từ lúc hoà bình lập lại vấn đề này được nêu ra và được các địa phương
thực hiện nhưng không đồng đều và không theo chủ đề thống nhất. Trong
chương trình mới, công tác ngoại khoá trở thành một phần quan trọng, khăng
khít với chính khoá. Công tác ngoại khoá không nên vì cái tên ngoại khoá
của nó mà bị đặt vào vị trí quá ư thấp kém như một số trường vẫn làm như
vậy. Công tác ngoại khóa không hề mâu thuẫn gì với nội dung giáo dục, giáo
dưỡng của nhà trường XHCN mà trái lại bổ sung và nâng cao chất lượng nội
khoá lên một bước”[10].
Tác giả Nguyễn Lê Đắc với công trình nghiên cứu: “Cơ sở tâm lý học của
công tác giáo dục HS ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư”[8] đã khẳng định
quan điểm nhóm là chủ thể của hoạt động, tập thể cơ sở là chủ thể của quá
trình giáo dục”. Nó vạch ra vai trò của chủ thể của hoạt động ngoài giờ lên
lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát triển tâm lý HS. Từ đó khẳng định sự
cần thiết phải có một cơ chế tổ chức để thực hiện tốt lĩnh vực giáo dục này.
Tác giả Phạm Lăng [19] khi tìm hiểu HĐGDNGLL ở trường Trung học
Chu Văn An Hà nội đã xác định nhiều hình thức HĐGDNGLL và nhấn mạnh:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
“ Nếu tổ chức hoạt động này một cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất

giáo dục HS ngoài giờ lên lớp có hiệu quả” [12] đã xuất phát từ đặc điểm HS
ham thích hoạt động ngoài giờ lên lớp nên nhà trường cần tổ chức các hoạt
động phù hợp với sở thích của các em, phù hợp với trình độ, đáp ứng nhu cầu
nguyện vọng của các em. Các hình thức hoạt động: Bình thơ, trưng bầy tranh
ảnh, đóng kịch, tiếp súc với người thực việc thực, tham quan sẽ có tác dụng tốt
đối với viêc củng cố, bổ sung kiến thức trên lớp, giáo dục tình cảm, truyền
thống và ý thức tập thể; cộng đồng của HS.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục ở nước ta, lần đầu tiên HĐGDNGLL
được chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ
thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc thống nhất trong toàn quốc đối với khối
PTCS là từ năm học: 2003-2004, khối THPT là từ năm học 2006- 2007.
Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo
dục” [37] đã đề cập đến sự cần thiết về mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc
tổ chức hoạt động giáo dục và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục của
GVCN lớp.
Ngoài ra còn có một số tác giả như Đỗ văn Lợi, Lê thị Mỹ Phương… đã có
nghiên cứu về các khía cạnh của HĐGDNGLL, có một số tác giả nghiên cứu
về công tác quản lý các HĐGDNGLL ở các trường Tiểu học, THCS hoặc các
trường dân tộc nội trú. Tuy nhiên, việc nghiên cứu biện pháp quản lý
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng ở trường THPT còn ít được nghiên cứu vì
HĐGDNGLL mới được coi là môn học bắt buộc quy định trong kế hoạch giáo
dục ở trường THPT từ năm học 2006-2007, hơn nữa chưa có công trình nghiên
cứu về vấn đề này tại trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh.
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 . Khái niệm quản lý và biện pháp quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lí

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “ Quản lí là sự tác động có mục đích đến tập
thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao
động”[31].
Theo tác giả Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuấn: “ Quản lý là việc bảo đảm
hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống
và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng
với hoàn cảnh mới ”.
* Từ những định nghĩa nêu trên ta thấy:
Quản lý là quá trình tác động, có định hướng có tổ chức, của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có
hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ
thống ổn định, phát triển đạt được những mục tiêu đã định.
1.2.1.2. Khái niệm biện pháp quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể”. Như vậy, biện pháp quản lý là cách làm cụ thể được chủ thể sử
dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định. Tính hiệu quả của quản lý
một phần quan trọng phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh
hoạt các biện pháp quản lý. Thực tế cho thấy, các đối tượng quản lý phức tạp,
đòi hỏi những biện pháp quản lý cũng rất đa dạng và linh hoạt. Các biện pháp
quản lý có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện
pháp. Các biện pháp này sẽ giúp cho người quản lý thực hiện tốt các biện
pháp quản lý của mình mang lại kết quả tối ưu cho bộ máy [42].
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý trường học
1.2.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Thực tế khái niệm “Quản lý giáo dục”, được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục”, “Quản lý giáo
dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là hoạt động diễn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



16
xem như quản lý một hệ thống giáo dục. gồm tập hợp các cơ sở giáo dục như
trường học, các trung tâm kỹ thuật - hướng nghiệp dạy nghề mà đối tượng quản
lý là đội ngũ giáo viên, HS cơ sở vật chất kỹ thuật các phương tiện, trang thiết
bị phục vụ cho giảng dạy và học tập
1.2.2.2 . Khái niệm quản lý trường học
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, HS và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
Có nhiều cấp quản lý trường học trong hệ thống giáo dục: Cấp cao nhất là
BGD&ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô. Có hai cấp trung
gian quản lý trường học là sở GD&ĐT ở cấp tỉnh và các phòng giáo dục ở cấp
quận, huyện. Cấp quản lý quan trọng, trực tiếp của hoạt động giáo dục là bộ
phận quản lý trong các nhà trường.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đã và đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
triển mạnh mẽ các nguồn lực và đưa các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng
cường chất lượng giáo dục.
Công tác quản lý nhà trường bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên và tập
thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ kế hoạch trong chương trình công tác của nhà
trường. Giáo dục HS phấn đấu, học tập tu dưỡng để trở thành những công dân tốt.
- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình của BGD&ĐT
làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp giáo
dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Biện
pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để
uốn nắn những lệch lạc, thiếu xót



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
hành vi xã hội Các chủ thể của hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về
hoạt động giáo dục. Chủ thể giáo dục chính là các nhà giáo dục, GVvà các chủ
thể có liên quan khác như: Cha mẹ HS, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ
sở giáo dục. Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục đã
được nhận thức và kiểm soát. Hoạt động giáo dục cơ bản của xã hội được thực
hiện bởi nhà trường và trong nhà trường.
Các hoạt động giáo dục trong nhà trường được phân làm hai bộ phận chủ yếu sau:
- Các hoạt động trong hệ thống các môn học và các lĩnh vực học tập, giáo
dục trên lớp
- Các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá
như: giáo dục thể chất, đạo đức, thẩm mỹ, dân số, môi trường, pháp luật.
Những hoạt động này được thực hiện trong và ngoài các môn học và chiụ sự
quản lí, chi phối chính của nhà trường và GV.
Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt động học của người học
qua đó người học được học tập, giáo dục và trưởng thành. Khi tham gia các
hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những
nguyên tắc mục tiêu, chuẩn mực và giá trị chung, như vậy HS được giáo dục
theo những tiêu chí chung và diễn ra ở cấp độ cá nhân.
Như vậy hoạt động giáo dục muốn có hiệu quả phải được tổ chức phù hợp
với tâm lý lứa tuổi của HS đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh
tham gia.
Cơ cấu các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần được xác định theo
mục tiêu giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định. Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt của HS và chính
những hoạt động của HS quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân.
1.2.3.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

hình thành và phát triển nhân cách” [21].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL các tác giả đưa ra khái niệm: “
HĐGDNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trong lớp,
là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp là con đường gắn lý thuyết với thực
tiễn, tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS.”.
Trong chương trình THPT các tác giả đưa ra khái niệm: “ HĐGDNGLL
là một bộ phận của quá trình giáo dục ở trường phổ thông. Đó là những hoạt
động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối bổ sung,
hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn,
tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phằn hình thành tình
cảm, niềm tin đúng đắn ở HS ”.
Như vậy: HĐGDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học
trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa
nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở HS.
1.2.3.3. Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lí HĐGDNGLL là một bộ phận của quản lí trường học, bao gồm
hàng loạt những hoạt động tiến hành khai thác, lựa chọn tổ chức và thực hiện
các nguồn lực, các tác động của BGH và tập thể sư phạm, của lực lượng giáo
dục khác trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình
giáo dục để tác động đến tập thể GV và HS trong khuôn khổ thời gian ngoài
giờ học trên lớp nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết. Nó
được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà
trường hoặc trong đời sống xã hội, do nhà trường quản lí, diễn ra trong suốt
năm học và cả ba tháng hè.
Công tác quản lí HĐGDNGLL bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên

ở trường THPT nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra.
HĐGDNGLL được quy định thực hiện vào tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status