BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN MẠNH HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN MẠNH HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG
ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. MAI VĂN TƯ
MỤC LỤC
Tiểu kết chương 2.........................................................................................
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BGH
: Ban giám hiệu
ĐHCN
: Đại học Công nghiệp
HĐQT
: Hội đồng Quản trị
GD
: Giáo dục
ĐH
: Đại học
vi
kê
trình
độ
nghiệp
vụ
sư
phạm
ngoại
ngữ.
Tin
học.
43
Bảng
2.7
Thống
vii
Bảng 0.2: Đánh giá tính khả thi các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng
viên
trường
ĐHCN
Vinh
......................................................................................................................
83
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới, giáo dục
- đào tạo vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, là con đường quan
trọng để phát huy nguồn lực con người. Chính vì vậy, sự đi lên bằng giáo dục
đã trở thành con đường tất yếu của thời đại. Trí tuệ con người đã trở thành tài
sản quý giá của mỗi quốc gia. Nâng cao và phát triển dân trí là điều kiện tiên
quyết để đưa đất nước tiến lên trong xu thế hội nhập hiện nay. Từ xu thế tất
yếu của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII của Đảng đã
xác định “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đến
nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Phát
triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người,
vai trò then chốt tạo ra chất lượng, hiệu quả của giáo dục đại học chính là bồi
dưỡng đội ngũ ngũ giảng viên.
Phát triển Giáo dục và đào tạo là đòn bẩy phát triển đất nước. Đây là
nguyên lý chung của tất cả các quốc gia, dân tộc. Quan điểm chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục đại học cũng hoàn toàn thống
nhất với nguyên lý chung này. Theo đó, việc phát triển đội ngũ giảng viên với
yêu cầu ngày càng cao và tập trung ở những khía cạnh: (1) Nâng cao vị trí xã
hội của người giảng viên; (2) Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hóa đội
ngũ giảng viên; (3) Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giảng
viên; (4) Quản lý, sử dụng, đại ngộ đội ngũ giảng viên. Nghị quyết Hội nghị
lần thứ bảy BCH TW Đảng khóa X nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ trí thức
vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước,
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống
chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền
vững”. Nhận thức được vấn đề mang tính quyết định của giáo dục đại học đối
với tiến trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 02/11/2005 Chính
phủ ban hành Nghị quyết 14/2005/NQ-CP phê duyệt “Đề án đổi mới căn bản
3
và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoàn 2006 – 2020”; một bản Đề
án kết tinh sức lực, trí tuệ của các chuyên gia, nhà giáo, nhà quản lý, nhà
nghiên cứu tâm huyết với nghề. Đây là văn kiện pháp lý định hướng xuyên
suốt cho giáo dục đại học Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và quốc
tế, mà trong đó đã coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là
một mục tiêu hết sức quan trọng: “Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ
quản lý đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có
trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến”, với
mong muốn thúc đẩy một hệ thống giáo dục đại học hướng nhiều hơn đến
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Công nghiệp Vinh.
4. Giả thuyết khoa học
Việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Công nghiệp
Vinh sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu đề xuất được các giải pháp có tính hệ thống,
có cơ sở khoa học và khả thi, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp thì sẽ
góp phần nâng cao trình độ và năng lực giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giảng viên: Các
khái niệm, vị trí, vai trò và sự cần thiết phải tập trung bồi dưỡng đội ngũ
giảng viên.
- Nghiên cứu thực trạng công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở Trường Đại
học Công nghiệp Vinh, chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở trường Đại
học Công nghiệp Vinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến đề tài và khái quát
hóa những nhận định độc lập.
5
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Khảo sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, nghiên cứu sản phẩm
của hoạt động, lấy ý kiến chuyên gia.
7. Dự kiến đóng góp của luận văn
Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, chính phủ Hoa Kỳ đã lấy giải
pháp nhà giáo làm then chốt. Đó là tiêu chuẩn hoá, chuyên nghiệp hoá và
nâng cao chất lượng nhà giáo trên các vị thế nghề nghiệp, nhân cách và xã
hội. Người ta xem giáo viên là lực lượng quyết định đến chất lượng đào tạo vì
thế họ luôn chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên; có nhiều công
trình đã đi sâu nghiên cứu những yêu cầu mà người giáo viên phải đáp ứng
trong bối cảnh của tiến bộ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế tri thức . Các nước
này xem việc đãi ngộ về vật chất, điều kiện làm việc và địa vị xã hội cho nhà
giáo là giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Phần Lan đã đào tạo ra được những giáo viên có trình độ cao mà ít có
quốc gia nào theo kịp. Ở Phần Lan giáo viên được xã hội đặc biệt coi trọng và
là nghề có tính cạnh tranh cao: một vị trí giáo viên có thể phải cạnh tranh với
khoảng 40 đồng nghiệp. Việc bổ túc và bồi dưỡng giáo viên được tổ chức rất
công phu nhằm bảo đảm cho giáo viên liên tục được cập nhật kiến thức và
phương pháp giảng dạy mới nhất. Giáo viên Phần Lan không chỉ đơn thuần là
một nhà giáo mà còn được xem là một nhà nghiên cứu độc lập về giáo dục...
7
Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng về vấn đề phát
triển, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo. Đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt
thực hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo, là người xây dựng cho người học thế
giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị tri thức và phương pháp tư duy
khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo. Đảng ta xác định “Giáo viên
là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”.
Sau hai mươi năm đổi mới và 7 năm thực hiện “Chiến lược phát triển
giáo dục 2001 – 2010”, giáo dục đại học nước ta đã phát triển rõ rệt về quy
mô, đa dạng hoá về loại hình và các hình thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh
hiện có hiệu quả công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo,
cán bộ quản lý giáo dục”, “bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”. Tại phiên họp Chính phủ
tháng 7 năm 2005, Chính phủ đã ra Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới
cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Nghị
quyết chỉ rõ: Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại
học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản
lý...
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã ra
Nghị quyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc rất lớn và chủ yếu vào đội ngũ
giảng viên, "Không có hệ thống giáo dục nào vươn cao quá tầm những giáo
viên làm việc cho nó". Luật Giáo dục cũng đã quy định "Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục". Vì vậy, muốn đổi mới,
nâng cao chất lượng giáo dục đại học thì phải bồi dưỡng nâng cao chất lượng
đội ngũ giảng viên.
Ở trong nước các tác giả khẳng định điều kiện quyết định để nâng cao
chất lượng giáo dục đại học là chất lượng và động lực dạy học của đội ngũ
9
giảng viên. Theo tác giả Trần Hồng Quân, giải pháp cơ bản để nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo là củng cố, đổi mới hệ thống sư phạm. Tác giả Trần
Bá Hoành khẳng định để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phải thực
hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên; phải tiếp
tục củng cố, tập trung đầu tư nâng cấp các trường sư phạm, xây dựng một số
trường ĐHSP trọng điểm, phải đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, sử dụng giáo viên đúng năng lực…
Theo luật giáo dục 2005 thì “ Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia
trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như
thế nào và có khả năng cống hiến tài năng và sức lực của họ cho sự nghiệp
giáo dục” [15]
Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo
dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực
hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó. Họ làm việc có kế hoạch
và gắn bó với nhau thông qua về lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn
khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội.
Nói cách khác theo nghĩa hẹp, đội ngũ giảng viên là những thầy cô
giáo, những người làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo dục trong các
trường đại học, cao đẳng, bồi dưỡng cán bộ.
Theo quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban Tổ chức
cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) đội ngũ giảng viên được xếp ở 3
ngạch:giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp.
1.2.2. Bồi dưỡng và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
1.2.2.1. Bồi dưỡng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Bồi dưỡng là tăng thêm năng lực và phẩm
chất, là “làm cho tốt hơn, giỏi hơn”. Theo nhóm tác giải đề tài XK 07-14,
‘Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã
lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề
nghiệp theo các chuyên đề”.
11
Bồi dưỡng thực chất là bổ sung “bồi đắp” những thiếu hụt về tri thức,
cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái cũ còn phù hợp để mở
mang có hệ thống những tri thức, kĩ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết,
nâng cao hiệu quả lao động.
1.2.3.1. Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt giải pháp được xem là “phương pháp giải
quyết một công việc một vấn đề cụ thể nào đó” [21].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm “ Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa của
hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau dẫn, dẫn tới sự
khắc phục một khó khăn” [10].
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp chúng ta cần phân biệt với một
số khái niêm tương tự như: phương pháp, biện pháp. Điểm giống nhau của
các khái niệm này đều nói về cách làm cách tiến hành cách giải quyết một
công việc, một vấn đề. Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn
mạnh đến cách làm cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn
mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công
việc có mục đích.
Theo Hoàng Phê “ Phương pháp là cách thức nhận thức, nghiên cứu
hiện tượng của tư nhiên và đời sống xã hội ” [21].
Còn theo Nguyễn Văn Đạm “ Phương pháp được hiểu là trình tự cần
theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục
đích nhất định”[10].
Như vậy khái niệm giải pháp tuy có điểm chung với các khái niệm nêu
trên nhưng nó cũng có điểm riêng. Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là
nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó
khăn nhất định. Trong một giải pháp có nhiều biện pháp, giải pháp được đánh
giá bởi các tiêu chí sau:
+ Tính hiện thực: giải pháp giải quyết được vấn đề đặt ra.
+ Tính hiệu quả : giải pháp giải quyết được vấn đề đặt ra và không làm
nảy sinh vấn đề mới phức tạp hơn.
+ Tính khả thi: giải pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ở
góc độ cao.
lực và quy hoạch mạng lưới các trường đại học trong từng thời kỳ, Bộ trưởng
14
Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục các
trường đại học trọng điểm của nhà nước.
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của các trường Đại học:
Theo điều lệ ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg,
ngày 22/09/2010 của Thủ tướng chính phủ có quy định về nhiệm vụ của các
trường đại học như sau:
- Xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược và kế hoạch tổng thể phát
triển nhà trường qua từng giai đoạn, kế hoạch hoạt động hàng năm.
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,
chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền.
- Tuyển dụng, quản lý công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ giảng
viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu độ tuổi và giới, đạt chuẩn về trình độ được đào tạo; tham gia vào
quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà
giáo, cán bộ, nhân viên.
- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong đội ngũ công chức, viên chức và
người học của trường.
- Tuyển sinh và quản lý người học.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của
nhà trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục
theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa;
- Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động
giáo dục và đào tạo.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
1.3.3. Vai trò
Trường đại học là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong
bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu. Nhận thức về vai trò và sứ mạng
của trường đại học là nền tảng để hoạch định chính sách giáo dục, để tìm
16
kiếm giải pháp xây dựng những trường đại học thực sự có chất lượng, đáp
ứng được nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội.
a) Trường đại học là nơi kiến tạo tri thức mới
Không thể phủ nhận chức năng đào tạo nguồn nhân lực của trường đại
học, nhất là trong thời đại công nghệ kỹ thuật cao ngày nay, Hệ thống đại học
có thể phân tầng gồm nhiều loại, có trường định hướng nghiên cứu, có trường
thiên về giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, nhưng hệ thống
ấy bao giờ cũng được dẫn dắt bởi những trường đại học tinh hoa mà chức
năng chủ yếu là dẫn đầu con đường khám phá khoa học và chân lý. Với tư
cách là bộ máy kiến tạo tri thức mới, trường đại học là động lực tạo ra thay
đổi và tiến xã hội không chỉ trên bình diện khoa học kỹ thuật và kinh tế, mà
cả trong lãnh vực văn hóa và chính trị.
Khi khẳng định vai trò của trường đại học là kiến tạo tri thức mới, chúng
ta không chỉ nói về vai trò của trường đại học đối với xã hội, mà cả đối với
từng cá nhân. Đại học không phải là nơi chuyển giao tri thức theo kiểu đổ đầy
một cái bình chứa, mà là nơi mỗi người tự kiến tạo tri thức cho mình và học
cách nghiên cứu để giải quyết những vấn đề của mình. Không phải tất cả mọi
sinh viên đều trở thành những nhà khoa học, những người nghiên cứu trong
tương lai, nhưng tất cả đều cần có tư duy nghiên cứu, hiểu theo nghĩa biết
cách phân tích, tổng hợp, phán đoán, biết xử lý thông tin để tìm ra kết luận
trường đại học đích thực phải có thể truyền đạt cho sinh viên của mình một
tầm nhìn quốc tế và lòng tôn trọng sâu sắc đối với con người và các giá trị
nhân văn.
1.4. Giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học
1.4.1 Vai trò của người giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học,
hội nhập quốc tế
Thế kỷ 21 với những đặc điểm nổi bật:
- Sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ; Sự xuất hiện một thế
giới phụ thuộc lẫn nhau; Sự đối mặt với những vấn đề lớn có tính toàn cầu,
vượt ra ngoài phạm vi mỗi quốc gia, của từng khu vực, như dân số, môi
trường…
18
- Con người là trung tâm của sự phát triển, một xã hội phát triển dựa vào
sức mạnh của tri thức, bắt nguồn từ khai thác tiềm năng của con người, lấy
việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển
nhanh chóng và bền vững. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển. Việc đặt con người vào trung tâm của sự phát triển khiến cho giáo
dục phải rà soát lại nhận thức về mục tiêu: Từ chỗ "học để biết" sang nhấn
mạnh "học để làm", rồi "học để cùng chung sống", "học để tự khẳng định
mình", có nghĩa là "khuyến khích sự phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo
của mỗi con người". Vì lợi ích của bản thân và tương lai của dân tộc, giáo dục
phải là công cụ vừa cho cá nhân, vừa cho tập thể nhằm xây dựng nguồn lực
con người thành động lực cho sự phát triển bền vững.
Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ 21 đang đặt ra những yêu cầu mới về
phẩm chất, năng lực và làm thay đổi vai trò, chức năng của người giảng viên.
Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, tạo ra những phương tiện,
phương pháp giao lưu mới, tạo có hội cho mỗi người có thể học dưới nhiều