1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
ĐINH VIẾT XUÂN
HÀ NỘI - 2009
5
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trước những đòi hỏi này, những
năm qua đội ngũ giảng viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đã
thực sự là nòng cốt trong việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ đào tạo thế hệ sinh
viên mới. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới về nâng cao chất lượng đào tạo
của bản thân nhà trường cũng như những đòi hỏi của quá trình xây dựng nền
kinh tế ở nước ta, đội ngũ giảng viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục để thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo như đề án:
“Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
giai đoạn 2005 - 2010” của Chính phủ phê duyệt ngày 11 tháng 01 năm 2005
theo quyết định số 09/2005/QĐ-TTg.
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp cũng nằm trong tình trạng
nói trên, còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng và cơ cấu chưa thật hợp
lý, còn nhiều bất cập. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang
đòi hỏi nền giáo dục quốc dân nói chung, giáo dục đại học nói riêng phải
nhanh chóng khắc phục những mặt yếu kém, khiếm khuyết, phải “thực hiện
chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá giáo dục” (Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX, trang 190), nhanh chóng củng cố, “phát triển đội ngũ giáo
viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm”.
Trong bối cảnh chung cũng như trong điều kiện phát triển của Nhà
trường, chất lượng đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó không thể
không kể đến vai trò của đội ngũ cán bộ QLGD và đội ngũ giảng viên trực tiếp
tham gia giảng dạy. Chất lượng đội ngũ giảng viên phụ thuộc vào trình độ
chuyên môn của họ cùng với việc rèn luyện năng lực sư phạm. Tuy nhiên
trước những yêu cầu ngày càng cao của sự đổi mới thì đội ngũ giảng viên còn
bộc lộ một số mặt hạn chế như chất lượng đội ngũ giảng viên chưa mạnh, công
tác đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế chưa chủ động được kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng nâng chuẩn đội ngũ giảng viên
7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giảng viên (quản lý nhân sự) nói
chung và quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của
đội ngũ giảng viên nói riêng tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp giai đoạn 2008 - 2015
4.2. Xác định thực trạng công tác bồi dưỡng và quản lý công tác bồi dưỡng
đội ngũ giảng viên và quản lý hoạt động bồi dưỡng giảng viên ở trường Kinh
tế Kỹ thuật Công nghiệp. Đánh giá mặt mạnh, mặt tồn tại và nguyên nhân
4.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giảng viên để
chuẩn hoá và nâng cao trình độ giảng viên
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện tốt một số biện pháp bồi dưỡng giảng viên trên cơ sở phân
tích tình hình thực tế, đánh giá đúng thực trạng và theo quan điểm quản lý
nhân sự tổng thể thì sẽ đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá và nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ
thuật Công nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài xây dựng cơ sở khoa học - thực tiễn và đề xuất một số biện pháp
quản lý bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật
Công nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường
trong thời gian tới
- Đưa vào áp dụng thử nghiệm một vài biện pháp tại Trường Đại học
Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Xác định cơ sở lý luận về bồi dưỡng
giảng viên và quản lý hoạt động bồ dưỡng giảng viên tại trường Đại học Kinh
tế Kỹ thuật Công nghiệp thông qua các Văn kiện của Đảng, Nhà nước, nghiên
cứu sách báo, tài liệu và các báo cáo khoa học trong và ngoài nước có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu
ngũ giảng viên
9
Chƣơng 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
cho đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG VÀ QUẢN
LÝ BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Từ khi xuất hiện hoạt động lao động tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống
đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức
nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn. Do đó cần có
người đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…, xuất hiện người
quản lý và sự quản lý.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: QL khi là động từ mang ý nghĩa:
- “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
- “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá
trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi
sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa
sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “vận động và phát triển”. Nếu người
quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì
trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ
chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ vận động và
phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý”
phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động. Hệ
11
“Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là
nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản
lý” thì “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ
thể QL đến khách thể QL về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát
triển của đối tượng”.
- Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho
rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm
năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến
động của môi trường”.
- Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo
quan niệm: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”; “Quản lý là một quá
trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành
viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt dược
những mục tiêu cụ thể”.
Khi bàn đến hoạt động QL và người QL cần khởi đầu từ khái niệm “tổ
chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ
chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì
một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích đó một con người riêng
lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra
sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức hoạt động và đạt được
mục đích của mình.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất
cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm QL, đó là trả lời câu hỏi:
13
được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định
nghĩa như sau:
Trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả M.I
Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán
bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường
của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”.
Theo X.T.Groupe Lewin trong cuốn “Hỗ trợ từ xa - Giải thích thuật ngữ
tâm lý giáo dục” của Dự án Việt Bỉ thì “Quản lý giáo dục là quá trình nghiên
cứu khoa học về các sự kiện và phương pháp tham gia và quyết định tổ chức
hoạt động giáo dục và khoa học quản lý chương trình giáo dục”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính
chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất”.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Đối với tác giả Phạm Minh Hạc thì “Quản lý giáo dục là quản lý trường
học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của
mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục
tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với
từng học sinh”.
Theo UNESCO: QLGD là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là
các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế… và cách thức vận hành của hệ thống
giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống.
15
nói chung. Mặt khác phương tiện lao động của giáo viên chủ yếu là phương
tiện tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, thái độ, bằng “điểm tựa”, bằng cảm
hóa… Thời gian lao động của người giáo viên cũng khác, nó không được
tách bạch, rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm. Với bất kỳ lúc
nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình…, người giáo viên
có thể vẫn nghĩ về công việc sư phạm của mình. Vì vậy trong công tác quản
lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo
viên, đặc biệt là tạo điều kiện để nâng cao tiềm lực của họ, để họ toàn tâm,
toàn ý cống hiến cao nhất cho sự nghiệp “trồng người”.
- Sản phẩm của GD có tính đặc thù nên QLGD phải chú ý ngăn ngừa sự
rập khuôn, máy móc trong công việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được
phép tạo ra phế phẩm.
- QLGD đòi hỏi cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính
kế thừa, tính linh hoạt và tính phát triển.
- QLGD và phát triển quan điểm quần chúng, kết hợp nhân tố bên trong
và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong có tính chất quyết định. Nên cần phải
phối hợp chặt chẽ và đồng bộ các lực lượng trong nhà trường, gia đình và xã hội.
- QLGD là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham
gia của rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời
sống xã hội.
- Quản lý giáo dục có tính xã hội rất cao, bởi vì: mọi người trong xã hội
đều tham gia vào hoạt động GD, đặc biệt ở nước ta GD đã phổ cập đến bậc
THCS. Tất nhiên nhà nước, các tổ chức xã hội và tư nhân phải cùng nhau tham
gia các hoạt động GD thì công tác GD mới có hiệu quả.
- QLGD là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tượng của hoạt động
QLGD là con người với các mối quan hệ phức tạp của nó. QLGD phải là một
hoạt động mang tính sáng tạo mới phát huy được sự sáng tạo của con người.
- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức;
Trong các trường nghề chính là Hiệu trưởng, phụ trách các phòng khoa ; các
tổ chức đảng, công đoàn, các hội đồng
- Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên
các mối quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm người với nhau. Trong
các cơ sở đào tạo chính là đội ngũ giảng viên.
- Nội dung quản lý là các yếu tố cần quản lý của khách thể, đối tượng
quản lý như quản lý đội ngũ giảng viên, trong đó bao gồm tuyển dụng, sử
dụng, đào tạo
- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý như mênh lệnh, quyết định, chính sách, điều lệ
- Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý
- Mục tiêu của quản lý là cái đích cần đạt tới để thực hiện nhiệm vụ của
quản lý, được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do nhà quản lý áp
đặt hoạc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là những kết
quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận động của đối
tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý
1.1.1.4. Chức năng cơ bản của quản lý
Thông thường quản lý có các chức năng cơ bản sau: Lập kế hoạch, Tổ
chức, Lãnh đạo (chỉ đạo), Kiểm tra
- Theo Stoner và Freemance: “Chức năng quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ
chức và của việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục
tiêu mà tổ chức đã đề ra”
Kế hoạch
quá trình thiết kế tổ chức. Tổ chức là một công cụ của quản lý.
- Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người, huy động và giúp đỡ cán
bộ và nhân viên dưới quyền, khơi dậy lòng nhiệt tình, tinh thần tự giác phấn
đấu tích cực cho mục tiêu của tổ chức. Như vậy lãnh đạo chính là quá trình ra
19
quyết định, truyền đạt, hướng dẫn và thuyết phục về các mục tiêu cần đạt
được, tác động, thúc đẩy các thành viên trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự
giác nỗ lực phần đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.
Là quá trình tác động đến con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực
phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức.
- Kiểm tra là chức năng của quản lý nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, mặt
hạn chế để điều chỉnh phù hợp quá trình quản lý, làm cho mục đích của quản ký
đựơc thực hiện một cách đúng hướng và có hiệu quả. Chúng ta có thể hiểu kiểm
tra là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp nhằm theo dõi, giám sát
các thành quả hoạt động của các bộ phận và tiến hành những hoạt động sửa chữa,
uốn nắn khi cần thiết để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Là những hoạt động của chủ thể quản lý, nhằm đánh giá và xử lý những
kết quả của quá trình vận hành tổ chức.
- Các chức năng cơ bản của quá trình quản lý có quan hệ mật thiết với
nhau và cùng với các yếu tố khác có liên quan tới 4 chức năng đó là thông tin
kích thích và ra quyết định.
Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, là sức mạnh của công tác
quản lý, nếu thiếu hoặc sai thông tin thì công tác quản lý gặp khó khăn, tạo nên
những quyết định sai lầm, công tác quản lý kém hiệu quả và thất bại. Thông tin là
mạch máu của chu trình quản lý, lưu thông tin tức giữa các bộ phận đảm bảo cho
toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Quá trình quản
lý phụ thuộc chặt chẽ vào các thông tin. Các thông tin quản lý là các tin tức về
chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, các yếu tố chi phối qúa trình quản lý đảm
bảo cho quản lý có hiệu quả.
người đã qua đào tạo, đã có quá trình hành nghề) và về mục đích, quy mô tổ
chức, cấp độ hình thức tổ chức và về chứng nhận kết quả (chứng chỉ).
Bồi dưỡng là quá trình quản lý việc bổ xung kiến thức, kỹ năng đạo đức
nghề nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý tưởng nghề
21
nghiệp so với yêu cầu mới họ còn hẫng hụt, còn bất cập trong lĩnh vực người
lao động đang hoạt động.
Tại điều 80 của Luật Giáo dục đã nêu rõ: “Nhà nước có chính sách bồi
dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ và chuẩn hoá nhà giáo. Nhà giáo
được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được
hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ”
Như vậy bồi dưỡng là quá trình nhằm nâng cao năng lực chuyên môn
giúp cho người lao động củng cố kiến thức, mở rộng kiến thức hoặc nâng
cao kiến thức một cách có hệ thống những tri thức mới. Bồi dưỡng là hoạt
động mang sắc thái của quá trình dạy học – giáo dục nhằm cập nhật hoặc
bổ sung kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu cho những người
lao động đã qua đào tạo để họ nâng cao được chất lượng và hiệu quả hoạt
động nghề nghiệp.
1.1.3. Giảng viên
1.1.3.1. Khái niệm giảng viên
Theo Luật Giáo dục 2005 thì GV là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và
nghiên cứu khoa học trong các trường cao đẳng, đại học. GV có nhiệm vụ
quyền hạn theo luật định. Điều lệ trường Đại học cũng đã xác định tiêu chuẩn,
nhiệm vụ, quyền hạn của ĐNGV.
* Tiêu chuẩn giảng viên
- Có phẩm chất đạo đức, tư tưởng sức khỏe tốt và lý lịch bản thân rõ ràng.
- Tối thiểu phải có bằng tốt nghiệp đại học và phải được bồi dưỡng về
nghiệp vụ sư phạm.
* Quyền của giảng viên
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy dịnh pháp luật và điều
lệ nhà trường.
23
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách
của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích
chính đáng của người học.
- Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người đọc.
Nhiệm vụ học tập và bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng và chuyên môn
nghiệp vụ của giảng viên không chỉ được thực hiện theo chương trình và kế
hoạch của Bộ Giáo dục & Đào tạo, nhà trường mà mỗi giảng viên cần phải tích
cực, thường xuyên tự học tập, tự bồi dưỡng nâng cao sự hiểu biết về chính trị,
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm không ngừng nâng cao về
chất. Đây cũng là điều kiện cần thiết để xây dựng đội ngũ giảng viên ngày
càng hoàn thiện và đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng đào tạo của xã hội.
- Tham gia quản lý công tác đào tạo của nhà trường.
Việc quản lý công tác đào tạo của nhà trường được thực hiện thông
qua các tổ chức chuyên môn như: Khoa, bộ môn, hội đồng khoa học, các
phòng ban chức năng và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường; và dưới
các hình thức như: Xây dựng, triển khai và giám sát việc thực hiện kế
hoạch giảng dạy, học tập và nghiên cứu; đánh giá kết quả giảng dạy và học
tập, chất lượng đào tạo.
- Tham gia các hoạt động xã hội và hoàn thành nghĩa vụ của một công
dân và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ của giảng viên có liên quan chặt chẽ với nhau. Người giảng
viên phải đồng thời thực hiện chức năng giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu và
quản lý. Với ý nghĩa đó, cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
giảng viên giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp, có đạo đức trong
Trong quá trình giảng dạy, giảng viên không chỉ là người truyền thụ kiến
thức đơn thuần mà còn là một người thiết kế, điều khiển để sinh viên tự giác và
25
tích cực tham gia học tập, kích thích, khơi dậy hứng thú học tập của sinh viên
để họ phát huy tính sáng tạo trong học tập.
Đội ngũ giảng viên có vai trò to lớn trong nhà trường đại học, bởi vậy,
trong công tác quản lý cần phải có giải pháp hợp lý để phát triển đội ngũ giảng
viên lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề.
1.2. Cơ sở pháp lý và các đặc điểm công tác bồi dƣỡng đội ngũ giảng
viên đại học
1.2.1. Đặc điểm giảng viên đại học
* Là người góp phần trực tiếp, tích cực vào việc hình thành và phát triển
nhân cách cho học sinh sinh viên
“Dạy người” hay “học lễ” là nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng nhất,
có tính tiên quyết của giáo dục - đào tạo Việt Nam đối với học sinh
sinh viên – những chủ nhân tương lai của đất nước. Dù HS, SV có học
giỏi, có kiến thức chuyên môn cao mà nhân cách đạo đức kém, động cơ
học tập và lao động mơ hồ, không đúng đắn… thì khó trở thành những
con người hữu ích cho xã hội. Điều này phù hợp với truyền thống tốt đẹp
của nhân dân ta: coi trọng đạo đức, nhân cách con người: “cái nết đánh
chết cái đẹp”. Đảng và Nhà nước ta đòi hỏi phải đào tạo và xây dựng một
đội ngũ cán bộ công chức “vừa hồng vừa chuyên”.
Nhân cách, đạo đức của HS, SV hình thành và phát triển như thế nào, tốt
hay xấu chịu sự chi phối, tác động của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng, tổ chức
xã hội tham gia: gia đình, làng xóm, bạn bè, đoàn thể, môi trường sống… và nhà
trường. Từ khi sinh ra đến khi đi vào cõi vĩnh hằng, con người chịu tác động của
ba hình thức giáo dục: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục của xã
hội. Mỗi loại giáo dục này chi phối, tác động đến con người ở một giai đoạn
nhất định: giáo dục gia đình chủ yếu chi phối con người ở tuổi ấu thơ và một
* Là người trực tiếp trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ cho
học sinh, sinh viên, từ đó góp phần tạo nên nguồn nhân lực cao cho đất nước
Mỗi loại lao động xã hội đều tạo ra những sản phẩm với những công
dụng khác nhau. Lao động của người nông dân tạo ra lúa gạo để nuôi sống
27
con người; lao động công nhân tạo ra vải vóc, nhà cửa phục vụ cho cái mặc,
cái ở của con người…; lao động của người thầy tạo ra những con người,
những chủ nhân tương lai của đất nước. Lao động của người thầy là lao
động đặc thù và đặc biệt quan trọng. Đặc thù bởi lao động của người thầy
không tạo ra của cải vật chất cụ thể, mà lại tạo ra con người và chính những
con người - sản hẩm lao động của người thầy - lại tạo ra của cải vật chất. Do
đó chất lượng, hiệu suất của cải làm ra phụ thuộc vào chính tri thức khoa
học của người lao động - những người đã qua lao động sáng tạo cuẩ người
thầy. Chính GD-ĐT và người thầy đã đào tạo ra nguồn nhân lực có chất
lượng cao, để rồi nguồn nhân lực ấy trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh
thần phục vụ cho xã hội.
Nói đến nhà trường là nói đến hai lực lượng: người học và người dạy.
Nếu người học là trung tâm của nhà trường thì người dạy là lực lượng quyết
định nội dung, chất lượng của người học, của quá trình GD-ĐT. Vai trò to lớn
của người thầy là ở đấy.
Thông qua ĐNGV, ngành giáo dục - đào tạo thực hiện chức năng nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Cả ba chức năng này có
quan hệ chặt chẽ với nhau và đều quan trọng. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
VII đã chỉ rõ điều này: “mục tiêu của giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, hình thành một đội ngũ tri thức, có tay
nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, có đạo đức cách mạng, tinh
thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”.
1.2.2. Chủ trương, chính sách và cơ sở pháp lý bồi dưỡng giảng viên đại học
* Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu