bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
==== ====
LU TH THY
KếT HợP PHƯƠNG PHáP THUYếT TRìNH
VớI PHƯƠNG PHáP NÊU VấN Đề TRONG GIảNG DạY
MÔN KINH Tế CHíNH TRị ở TRƯờNG CAO ĐẳNG NGHề
DU LịCH - THƯƠNG MạI NGHệ AN
luận văn thạc sĩ KHOA HọC GIáO DụC
NGHệ AN - 2015
bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
==== ====
LU TH THY
KếT HợP PHƯƠNG PHáP THUYếT TRìNH
VớI PHƯƠNG PHáP NÊU VấN Đề TRONG GIảNG DạY
MÔN KINH Tế CHíNH TRị ở TRƯờNG CAO ĐẳNG NGHề
DU LịCH - THƯƠNG MạI NGHệ AN
Chuyên ngành: ll&ppdh Bộ MÔN giáo dục chính trị
Mã số: 60.14.01.11
luận văn thạc sĩ KHOA HọC GIáO DụC
NGHÖ AN - 2015...........................................................................................................1
LƯU THỊ THỦY........................................................................................................................2
NGHÖ AN - 2015...........................................................................................................2
Nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “phấn đấu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước theo hướng hiện đại” [24,tr.31]S. Cho nên giáo dục và
đào tạo là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế giáo dục, phát triển
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Nghị quyết Trung ương VIII khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định “giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội”. Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục ra
Nghị quyết (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập quốc tế”..........................................................................................................................2
Do vậy, trong những năm gần đây, để theo kịp sự phát triển của xã hội, ngành giáo dục đào
tạo đã tiến hành đổi mới một cách toàn diện, từ nội dung chương trình sách giáo khoa,
phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá trong đó đổi mới
phương pháp giảng dạy được coi là trọng tâm nhằm mục đích phát huy tính tích cực, tự
giác, năng động, sáng tạo của người học. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế;
chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Nằm trong thực trạng chung đó,
việc giảng dạy môn Kinh tế chính trị trong các trường đại học, cao đẳng còn nhiều hạn chế,
chất lượng giảng dạy còn thấp, đặc biệt là trong các trường dạy nghề. Cho nên một trong
những yêu cầu bức thiết đặt ra là cần phải nâng cao chất lượng dạy và học môn Kinh tế
chính trị trong đó trọng tâm là phải đổi mới phương pháp giảng dạy....................................3
Chương IV. SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA SẢN
XUẤT HÀNG HÓA.............................................................................................................42
Sinh viên
DANH MỤC CÁC BẢNG
LƯU THỊ THỦY........................................................................................................................1
NGHÖ AN - 2015...........................................................................................................1
LƯU THỊ THỦY........................................................................................................................2
NGHÖ AN - 2015...........................................................................................................2
Nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa “phấn đấu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước theo hướng hiện đại” [24,tr.31]S. Cho nên giáo dục và
đào tạo là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế giáo dục, phát triển
đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Nghị quyết Trung ương VIII khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định “giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho
giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội”. Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục ra
Nghị quyết (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập quốc tế”..........................................................................................................................2
Do vậy, trong những năm gần đây, để theo kịp sự phát triển của xã hội, ngành giáo dục đào
tạo đã tiến hành đổi mới một cách toàn diện, từ nội dung chương trình sách giáo khoa,
phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá trong đó đổi mới
phương pháp giảng dạy được coi là trọng tâm nhằm mục đích phát huy tính tích cực, tự
giác, năng động, sáng tạo của người học. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế;
chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Nằm trong thực trạng chung đó,
3
Do vậy, trong những năm gần đây, để theo kịp sự phát triển của xã hội,
ngành giáo dục đào tạo đã tiến hành đổi mới một cách toàn diện, từ nội dung
chương trình sách giáo khoa, phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, cách
thức kiểm tra đánh giá trong đó đổi mới phương pháp giảng dạy được coi là
trọng tâm nhằm mục đích phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, sáng tạo
của người học. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa
chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Nằm trong thực trạng chung
đó, việc giảng dạy môn Kinh tế chính trị trong các trường đại học, cao đẳng còn
nhiều hạn chế, chất lượng giảng dạy còn thấp, đặc biệt là trong các trường dạy
nghề. Cho nên một trong những yêu cầu bức thiết đặt ra là cần phải nâng cao
chất lượng dạy và học môn Kinh tế chính trị trong đó trọng tâm là phải đổi mới
phương pháp giảng dạy.
Từ những năm cuối của thế kỷ XX, thế giới đã có rất nhiều nhà giáo dục
quan tâm nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học. Có thể kể ra một số tên
tuổi tiêu biểu như: L.V.Reebroa, P.M. Erdonier hay I.F. Khalarmov… Trong đó,
I.F. Khalarmov - nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại đã để lại cho chúng ta một công
trình khoa học có giá trị là “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”
(gồm 2 tập). Trong tác phẩm này ông đã chỉ ra rằng “Tri thức trở thành kiến
thức thực sự khi HS chiếm lĩnh nó bằng sức lao động, sáng tạo của mình”
[27;tr.13].
Trong cuốn: Phương pháp giảng dạy Kinh tế chính trị ở các Trường Đại
học, Cao đẳng các tác giả Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn
Phúc, có nhận định “ Phương pháp thuyết trình vẫn sẽ là một phương pháp phổ
biến trong giảng dạy môn Kinh tế chính trị nói riêng cũng như bộ môn Mác Lênin nói chung, vì xuất phát từ đặc thù môn dạy cũng như những ưu điểm của
nó. Nhưng hiệu quả của phương pháp thuyết trình sẽ được tăng lên nếu chúng ta
5
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều luận văn Thạc sĩ đề cập đến việc đổi mới
phương pháp giảng dạy nói chung và kết hợp phương pháp thuyết trình và
phương pháp nêu vấn đề nói riêng như: Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hồng
(2006); Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Minh.
Các tác phẩm, các bài viết, các công trình khoa học của các tác giả đã làm
rõ thêm cơ sở lý luận, từ đó các tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Nằm trong thực trạng chung
đó, việc giảng dạy môn Kinh tế chính trị ở Trường Cao đẳng nghề Du lịch Thương mại Nghệ An vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều giáo viên chưa tích cực sáng
tạo trong việc tìm tòi,vận dụng các phương pháp dạy học, chủ yếu là sử dụng
phương pháp thuyết trình, chưa lôi kéo được sinh viên vào bài giảng, chưa phát
huy được tinh thần học tập tự giác nơi người học. Đồng thời, việc dạy học thiên
về một phương pháp nào đó thường kết quả đưa lại không cao vì mỗi phương
pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng của nó, không có phương pháp nào
là tối ưu, hoàn mỹ. Bởi vậy, việc kết hợp các phương pháp trong dạy học nói
chung, kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề nói riêng
là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình dạy học.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu sự kết
hợp giữa phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy
Kinh tế chính trị ở trường Cao đẳng nghề Du lịch - Thương mại Nghệ An. Luận
văn tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu khoa học giáo
dục, vận dụng và phát triển để phù hợp với chủ trương đổi mới, nâng cao chất
lượng dạy học các môn lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay. Cho nên xuất
phát từ yêu cầu của của quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung,
cũng như từ thực trạng giảng dạy môn KTCT cho sinh viên Trường Cao đẳng
nghề Du lịch - Thương mại Nghệ An nói riêng. Tác giả đã chọn vấn đề “Kết
hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy
7
các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác.
6 . Giả thuyết khoa học
Kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp nêu vấn đề phù hợp
trong giảng dạy sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, học tập môn Kinh tế
chính trị ở trường cao đẳng nghề Du lịch- Thương mại Nghệ An.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KẾT HỢP
PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG GIẢNG DẠY MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm phương pháp
Trong quá trình sống và lao động, để tồn tại và phát triển, con người luôn
luôn biết tìm tòi, sáng tạo nhiều cách thức, phương thức, hay gọi chung là PP, để
tác động vào đối tượng, mục đích là giảm bớt thời gian, công sức đồng thời nâng
cao được hiệu quả hoạt động. Cho nên, PP trước hết là một thuật ngữ và sau đó
là một khái niệm xuất hiện từ rất sớm biểu hiện cả trong ngôn ngữ, nhận thức và
tư duy của con người.
Theo tiếng Hy Lạp thuật ngữ PP bắt nguồn từ là “method” có nghĩa là con
đường, là cách thức để đạt đến mục đích. Theo nghĩa chung nhất PP là cách thức
đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định. PP theo
8
ngha khoa hc c hiu l h thng nhng nguyờn tc c rỳt ra t tri thc
9
Theo Nguyễn Sinh Huy: "Phương pháp dạy học là tổ hợp những thao tác tự
giác liên tiếp được sắp xếp theo một trình tự hợp lý, hợp quy luật khách quan mà
chủ thể tác động lên đối tượng, nhằm tìm hiểu và cải biến nó"[8; tr.7].
Như vậy, phương pháp dạy học trong trường hợp này là cách thức tiến
hành trong giảng dạy nhằm truyền thụ kiến thức cho đối tượng.
1.1.2. Phương pháp thuyết trình
* Quan niệm về phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình, là một phương pháp dạy học ra đời sớm, được sử
dụng khá phổ biến và đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nhất là
trong giảng dạy các môn xã hội. Mặc dù mỗi nhà giáo dục lại có một quan niệm
khác nhau về PPTT. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi xin đưa ra một số
quan niệm cơ bản sau:
“PP thuyết trình là một PP giảng dạy mà người dạy dùng lời nói sinh động,
gợi cảm, thuyết phục để truyền thụ kiến thức cho học sinh theo mục đích nhất
định, khiến cho HS tiếp thu một cách có ý thức, có hiệu quả” [8;tr.108].
“Phương pháp thuyết trình là phương pháp GV sử dụng ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập.
Người học tiếp thu hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúng tùy theo
chủ thể người học và yêu cầu của họ” [ 23;tr.55].
“Thuyết trình là phương pháp GV dùng lời nói để trình bày, giải thích nội
dung bài học một cách có hệ thống lôgíc, theo chủ đích nhất định, nhờ vậy
người học sẽ tiếp thu bài giảng một cách có ý thức” [33;tr.58].
*Các hình thức thuyết trình
Thuyết trình là phương pháp bao gồm thuyết trình kể chuyện, thuyết trình
giảng giải và thuyết trình diễn giảng.
- Thuyết trình kể chuyện: Kể chuyện là một hình thức cơ bản của phương
pháp thuyết trình, trong đó giáo viên dùng lời nói biểu cảm và các thao tác dẫn
dắt SV tiếp cận và làm nổi bật nội dung của tri thức cần truyền thụ. Thông qua
11
nội dung tri thức với đời sống thực tiễn, sẽ khắc phục được sự khuôn sáo,bảo
thủ, đường mòn.
Đồng thời, khi sử dụng PPTT, thông tin trong giáo trình mà người học đọc
thường lạc hậu không thể theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của đời sống
kinh tế - xã hội, nên trong một ý nghĩa nhất định sách giáo khoa thường phản
ánh tri thức “ngày hôm trước” của khoa học, còn bài giảng phản ánh tri thức
ngày hôm nay, thậm chí cả tri thức ngày mai của khoa học kinh tế. Hơn nữa, bài
giảng KTCT luôn mang khuynh hướng trang bị những tri thức cần thiết, cơ bản
và có hệ thống của toàn bộ chương trình học tập môn KTCT, nó gắn liền với
mục tiêu đào tạo của nhà trường. Do đó khi sử dụng PPTT tốt sẽ cung cấp cho
người học những thông tin cập nhật, nóng hổi của hoạt động kinh tế xã hội mà
giáo trình chưa kịp cập nhật trong sách giáo trình cũng như từ các nguồn tài liệu
khác. Và nếu người học tự cập nhật thì người học cũng rất mất thời gian và công
sức. Chính vì vậy, PPTT đã và đang được sử dụng thường xuyên, rộng rãi trong
quá trình giảng dạy môn KTCT.
Phương pháp thuyết trình sử dụng trong giảng dạy môn KTCT giúp người
dạy trình bày được những đơn vị kiến thức mang tính khái quát hóa, trừu tượng
hóa cao theo một hệ thống logic mà nếu như để cho người học tự nghiên cứu thì
khó có thể tự mình tìm hiểu được một cách nhanh chóng và sâu sắc. Chẳng hạn
khi nghiên cứu xã hội tư bản, Mác đã dùng sức mạnh của phương pháp trừu
tượng hóa khoa học, thông qua phép quy nạp từ cái riêng đến cái chung, từ cụ
thể đến trừu tượng và ngược lại để luận chứng sự phát triển của xã hội loài
người như là một quá trình lịch sử tự nhiên. Nội dung của môn học KTCT là sự
khái quát những vấn đền cơ bản nhất của học thuyết kinh tế chủ nghĩa MácLênin, trong đó các khái niệm, các phạm trù và quy luật kinh tế chủ yếu của nền
sản xuất hàng hóa nói chung và của chủ nghĩa tư bản nói riêng được kết cấu chặt
chẽ, logic trong mối quan hệ biện chứng với nhau, chuyển hóa lẫn nhau cùng
vận động và phát triển. Vì vậy, để làm sáng tỏ những khái niệm, nội dung trừu
viên truyền thụ một chiều thường ít khi có sự giao lưu trực tiếp, do đó làm cho
13
SV dễ ỷ lại vào giáo viên như không tích cực suy nghĩ, đưa ra các quan điểm
của mình về những vấn đề trong bài học hạn chế sự phát triển kỹ năng giao tiếp
nơi các em.
Trong giảng dạy KTCT nếu quá lạm dụng PPTT, xem đó là phương pháp
tối ưu thì GV sẽ có ít điều kiện để thu được thông tin phản hồi từ SV do thuyết
trình là PPDH chủ yếu truyền thụ một chiều. Bên cạnh đó thuyết trình độc thoại
(thầy giảng, trò nghe) dễ làm cho người học có thói quen thụ động, chờ đợi thích
nghe hơn là thích đọc, ngại tìm tòi, nghiên cứu và do vậy chất lượng học tập
không cao.
Cho nên để nâng cao chất lượng giảng dạy môn KTCT khi sử dụng phương
pháp thuyết trình cần phải phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế của
phương pháp này và tất yếu là phải kết hợp nó với một phương pháp giảng dạy
khác.
1.1.3.Phương pháp nêu vấn đề
Phương pháp dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là phương pháp dạy học giải
quyết vấn đề , nó được nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XIX bởi các nhà
khoa học như A.Ja Ghecdo, B. E Raicop sau đó tiếp tục nghiên cứu và chính
thức ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XX khi xã hội bắt đầu phát triển mạnh
mẽ. Ngày nay nhiều nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu và đưa ra nhiều quan
niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề.
Tác giả Phùng Văn Bộ Trong cuốn “Một số vấn đề về phương pháp giảng
dạy và nghiên cứu triết học” cho rằng: “phương pháp nêu vấn đề là phương pháp
giảng dạy dùng lời nói hướng HS vào tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tạo
những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề, cuối cùng kiểm tra lại những vấn
đề đã được giải quyết để đi đến kết luận” [8;tr.91].
PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là hình thức dạy
trọn vẹn với kết cấu logic xác định.
- Nêu vấn đề toàn bộ
15
õy l hỡnh thc cú mc cao nht trong PPDH nờu vn . hỡnh thc
ny, di s hng dn, dn dt khộo lộo ca giỏo viờn, SV t mỡnh gii quyt
ton b mt vn nờu ra trong bi ging.
* u im v hn ch ca phng phỏp nờu vn
- u im
Khi s dng phng phỏp nờu vn trong ging dy KTCT, giỏo viờn
úng vai trũ l ngi hng dn, gi m cũn sinh viờn l ngi ch ng tỡm tũi
v gii quyt vn v thụng qua ú lnh hi c kin thc do chớnh mỡnh phỏt
hin ra. Cho nờn khi s dng phng phỏp ny s trong ging dy KTCT m
bo cho sinh viờn nm c h thng tri thc chớnh xỏc, sỏng to, linh hot, rốn
luyn c c phng phỏp t hc v kh nng din t ni cỏc em. Cho nên
phơng pháp giáo dục phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động, t duy sáng tạo
của ngời học đợc chú trọng nhằm bồi dỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập
và ý chí vơn lên.V do vy kớch thớch c s nhit tỡnh, hng khi cho sinh
viờn trong quỏ trỡnh hc tp, to iu kin cỏc em khỏc sõu kin thc. Vớ d
khi ging ni dung nn kinh t th trng Vit Nam t ra cỏc vn thng
xuyờn phi gii quyt: sn xut cỏi gỡ? S lng bao nhiờu? Sn xut bng cỏch
no? Sn xut cho ai v phõn phi nh th no luụn ũi hi ngi hc phi suy
ngh, hnh ng tớch cc t hiu qu cao, li ớch kinh t cao nht.
Khi s dng phng phỏp dy hc nờu vn trong ging dy KTCT giỏo
viờn cũn giỳp cho sinh viờn tip thu c mt h thng kin thc phong phỳ,
mang tớnh thi s núng hi trong cỏc lnh vc, c bit l lnh vc kinh t trong
nc v quc t. Do ú to ra c s ch ng, tinh thn t giỏc cng nh
ng c hc tp ỳng n v tinh thn trỏch nhim ca ngi hc ngy cng
c nõng cao.
Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, do đó để đem lại
hiệu quả môn học cao thì yêu cầu giáo viên phải lựa chọn các phương pháp sao
cho phù hợp với nội dung của từng phần, từng bài; đồng thời các phương pháp
đó phải được kết hợp với nhau một cách linh hoạt và mềm dẻo. Nhưng để làm
17
được điều đó, giáo viên cần hiểu rõ mối quan hệ giữa mục đích dạy học và
PPDH; giữa nội dung và PPDH cũng như mối quan hệ giữa các PPDH với nhau.
1.2.1.1. Mối quan hệ giữa mục đích dạy học và phương pháp dạy học
Để đáp ứng được nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nhiệm vụ đặt ra cho ngành giáo dục đào
tạo nước ta hiện nay là rất nặng nề. Do đó, mục đích của dạy học ngày nay là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt được
mục đích đó, tất yếu trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tiến hành đổi mới
PPDH.
Xuất phát từ yêu cầu về lí luận cũng như thực tiễn, Đảng và nhà nước ta
xác định đổi mới PPDH một trong những nhiệm vụ cấp bách của giáo dục đào
tạo, nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả
giáo dục thế hệ trẻ. Nhiệm vụ này đã được thể hiện rõ trong nhiều văn bản quan
trọng đặc biệt là trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Thực
hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học … nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện” [24;tr.216].
Gần đây, trong Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
tiếp tục ra Nghị quyết (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về “đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị
Hướng tiếp cận thứ hai là: Phương pháp là cách thức, là con đường, là
phương tiện để đạt tới mục đích nhất định. Với quan điểm này, chúng ta thấy
rằng phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung sự vật. Từ cách tiếp
cận này chúng ta thấy rằng mỗi một nội dung dạy học có nhiều phương pháp
triển khai khác nhau trong đó có một phương pháp giữ vai trò cơ bản. Vì thế,
muốn đạt kết quả cao trong giảng dạy thì người dạy phải trả lời được câu hỏi:
19
với phương pháp, phương tiện này thì dạy cho nội dung nào. Dùng phương pháp
phương tiện nào là tối ưu để chuyển tải được nội dung kiến thức đến với người
học.
Như vậy: Phương pháp dạy học không phải là hình thức bên ngoài của nội
dung. Nó phải xuất phát từ nội dung, từ những đặc trưng của tri thức môn học
mà có một phương pháp truyền đạt phù hợp.
Tuy rằng việc lựa chọn phương pháp giảng dạy phải xuất phát từ nội dung,
nhưng chúng ta cũng phải linh động trong việc lựa chọn và kết hợp các phương
pháp làm sao cho giờ giảng đạt được hiệu quả tốt nhất. Cho nên, trong quá trình
giảng dạy, người dạy không thể không chú ý đến mối quan hệ giữa nội dung và
phương pháp vì quan hệ giữa nội dung và phương pháp là quan hệ cơ bản nhất.
Nếu nội dung bài học trừu tượng thì phương pháp giảng phải chậm lại kết hợp
với nhiều câu hỏi nhỏ. Còn nếu nội dung bài giảng đơn giãn thì giáo viên sử
dụng nhiều dạng hoạt động khác nhau hoặc tổ chức thảo luận....
1.2.1.3. Mối quan hệ giữa các phương pháp
Để nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như nâng cao năng lực tự học, tích
cực, chủ động của sinh viên thì người GV phải truyền được cảm hứng, kích
thích sự tìm tòi, sáng tạo của sinh viên. Để làm được điều đó, GV nhất thiết phải
phải đổi mới PPDH, phải kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với
phương pháp dạy học hiện đại. Phải dạy cho sinh viên cách học, cách thu thập
và vì xử lý thông tin thay vì dạy kiến thức cho sinh viên; tích cực hóa hoạt động