Tác động của việc đổi mới chương trình giảng dạy môn tiếng Anh đến hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập ở trường Cao Đẳng Sư Phạm - Pdf 88



PHẦN I GIỚI THIỆU CHUNG

1. Lý do chọn đề tài
Chương trình đào tạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc
đảm bảo chất lượng đào tạo ở mọi cấp học và ngành học.
Bất kỳ một chương trình đào tạo nào cũng phải đảm bảo thực hiện được
mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế xã hội.
Vì vậy, yêu cầu một chương trình đào tạo mới phù hợp với sự phát triển
của thực tế xã hội, một chương trình đào tạo mới tăng tính chuyên sâu về môn
học và một chương trình đào tạo mới đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết với
thực nghiệm và gắn với thực tế xã hội Việt Nam là vô cùng cần thiết.
Nhận thấy tầm quan trọng của chương trình đào tạo và tính cấp thiết của
việc phải đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp với giai đoạn phát triển
xã hội hiện nay, vì vậy Chương trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở
(GVTHCS) trình độ Cao đẳng sư phạm (CĐSP) được ban hành theo Quyết
định số 15/2004/QĐ-BGD&ĐT, ngày 10/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo cho các khối ngành CĐSP nói chung và chương trình đào tạo cho
môn Anh văn nói riêng [1]. Sau 3 năm đưa vào thực hiện, việc đánh giá
chương trình đào tạo mới là việc làm cần thiết.
Mục đích của việc làm này là để khẳng định rằng chương trình đào tạo
mới phù hợp với nền giáo dục và sự phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, nó
cũng rất cần thiết đối với sự phát triển tiếp theo của những kết quả đầu ra.
Ngoài ra, thông qua việc đánh giá này những nhà lãnh đạo cũng muốn biết
xem chương trình mới có gì khác so với chương trình cũ và nó có đáng để
được sử dụng nữa hay không. Còn đối với các nhà trường, các khoa trực tiếp
giảng dạy theo chương trình mới họ cũng cần có những thông tin để trên cơ
sở đó họ có thể đưa ra những thay đổi hay những cải biến cần thiết về nội
dung và phương pháp giảng dạy.


trường CĐSP Bắc Giang.

2• nghiên cứu những tác động của chương trình giảng dạy mới tới hoạt
động học tập môn tiếng Anh của sinh viên các khoa không chuyên
tiếng Anh trường CĐSP Bắc Giang.
• trên cơ sở kết quả của những nghiên cứu trên, đưa ra một số khuyến
nghị và đề xuất một số giải pháp phù hợp với hoạt động giảng dạy và
học tập môn tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tiếng Anh tại
trường CĐSP Bắc Giang.

3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu trong trường CĐSP Bắc
Giang và trong các khoa không chuyên tiếng Anh của trường CĐSP Bắc
Giang; nghiên cứu những tác động của chương trình giảng dạy mới của môn
tiếng Anh đến hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập của giảng viên tiếng
Anh khoa ngoại ngữ và sinh viên các khoa không chuyên tiếng Anh trường
CĐSP Bắc Giang.

PHẦN II TỔNG QUAN

1. Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu, nhiều bài viết về việc đánh giá
chương trình đào tạo.
Năm 2005, PGS.TS Lê Đức Ngọc và cộng sự cũng đã đưa ra một tham
luận về việc đánh giá chương trình đào tạo và đánh giá chương trình giảng
dạy.Trong bản tham luận này, các tác giả đề cập đến mục tiêu, nội dung của
đánh giá chương trình đào tạo và chương trình giảng dạy đại học. Bên cạnh

Chương trình, SGK mới của giáo viên thông qua bảng hỏi;
nghiên cứu khảo
sát hiện trạng tổ chức dạy học ở các trường;
xây dựng báo cáo kết quả đánh
giá chất lượng, hiệu quả triển khai Chương trình, SGK mới ở Tiểu học và
THCS;
nghiên cứu đề xuất giải pháp điều chỉnh Chương trình, SGK mới [21].
Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ đưa ra những cơ sở lý luận chung
và những phương pháp đánh giá chung nhất cho bất kỳ một chương trình đào
tạo, hay một chương trình giảng dạy nào. Như vậy, những nghiên cứu về tác

4
2
. Những nghiên cứu nước ngoài
Benoit Galand, Chủ tịch phụ trách về hoạt động giảng dạy và học tập ở
trường đại học của UNESCO (Padova, Italy, 2003), đã nghiên cứu về “Tác
động của việc áp dụng chương trình giảng dạy của việc học tập trên cơ sở giải
quyết vấn đề đến động lực học tập và sự tự điều chỉnh của sinh viên”. Mục
đích của nghiên cứu này là đánh giá tác động của chương trình giảng dạy của
việc học tập trên cơ sở giải quyết vấn đề đối với động cơ và nhận thức của
sinh viên đang học tập trong trường đại học. Nghiên cứu này được tiến hành
trong khoa cơ khí nơi mà chương trình giảng dạy mới này vừa được áp dụng
được hai năm. Đối tượng nghiên cứu của tác giả là hai nhóm sinh viên, một
nhóm là những sinh viên đã được học chương trình giảng dạy cũ, nhóm thứ
hai là nhóm sinh viên được học chương trình mới. Qua kết quả nghiên cứu
của mình, tác giả cũng đã đưa ra những ý kiến của sinh viên về những ảnh
hưởng tích cực của chương trình mới, bên cạnh đó họ cũng chỉ ra những vấn

lượng tử, học phần Ngoại ngữ...
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khái niệm chương trình chương
trình giảng dạy được hiểu là chương trình môn học.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chương trình đào tạo hay
chương trình giảng dạy.
"Chương trình đào tạo là kế hoạch cho toàn bộ một khoá học. Đặc biệt,
chương trình này bao gồm những mục tiêu của khoá học, những chủ điểm,
những nguồn tài liệu được sử dụng trong khoá học và những tiêu chí kiểm tra
đánh giá. Chương trình đào tạo cũng có thể bao gồm những mục tiêu học tập,
những hoạt động học tập và những câu hỏi nghiên cứu. Chính vì vậy, chương
trình đào tạo đại diện cho kế hoạch của cả một khoá học, những yếu tố của cả
mục tiêu và phương tiện của khoá học" [13 ].
Theo PGS.TS Lê Đức Ngọc thì “Chương trình đào tạo là một văn bản
pháp qui về kế hoạch tổ chức đào tạo một văn bằng, bao gồm: mục tiêu đào
tạo; nội dung và yêu cầu bắt buộc, tự chọn hay tuỳ ý, phân bố thời lượng của

7các môn học; kế hoạch thực hiện chương trình và điều kiện xét cấp văn bằng.”
[8 ] . GS.TS Trần Bá Hoành cho rằng:
Chương trình đào tạo phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các thành
phần cấu trúc của quá trình đào tạo: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương
tiện, tổ chức, đánh giá, trong đó mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung -
phương pháp là cốt lõi. Chương trình đào tạo hướng về quá trình đào tạo diễn
ra tại cơ sở đào tạo (lớp học, phòng thí nghiệm) chứ không phải là bản thiết
kế nội dung đào tạo. Chương trình đào tạo quan tâm không chỉ hoạt động dạy
mà đặc biệt quan tâm đến sản phẩm đào tạo. Văn bản chương trình đào tạo
chứa đựng những thông tin cần thiết về mục tiêu, nội dung đào tạo, phương
pháp tổ chức hoạt động dạy và học, các phương tiện thiết bị để tiến hành đào

nhau một cách chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Sẽ là thiếu sót nếu chỉ đề
cập đến hoạt động dạy mà không nói đến hoạt động học. Vậy học là gì?
Theo Michel Develay, 1994 " Học là quá trình tự biến đổi mình và làm
phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường
xung quanh".
Hay "Học là một quá trình kết hợp giữa những kiến thức cũ và kiến thức
mới; là một quá trình hình thành những hệ thống, sự liên kết bên trong và
giữa các đơn vị hiểu biết lẫn nhau" [12]
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi xác định khái niệm học như sau:
"Học là quá trình nhận biết những kiến thức mới; là quá trình lâu dài và thay
đổi của những biến đổi trong hiểu biết".
1.1.4 Tác động là gì?
Tác động là một trong những thuật ngữ được dùng trong nghiên cứu của
chúng tôi. Có rất nhiều cách hiểu về thuật ngữ "tác động".
Trên quan điểm đánh giá trong giáo dục, Weiss đã định nghĩa "Tác động
là kết quả của một chương trình (ví dụ: đó là kết quả thu được đối với những
người tham dự một chương trình trừ đi những gì thu được của nhóm người

9không tham dự chương trình)"(1998:331). Cũng chính bà sau đó đã mở rộng
khái niệm này thành " Tác động có thể coi như là những kết quả của một
chương trình tới một cộng đồng lớn hơn".
"Tác động (cũng có thể xem như là kết quả) có thể như dự định hoặc
không như dự định; có thể là những tác động tích cực hoặc tiêu cực; có thể
đạt được ngay hoặc đạt được sau một thời gian nhất định; và có thể kéo dài
hoặc không kéo dài. Tác động có thể quan sát được, đo đếm được trong suốt
quá trình thực thi, khi dự án kết thúc hoặc sau một thời gian khi kết thúc dự
án" (Department for International Development (DFID) Glossary of terms

đào tạo, tỉ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên
ngành, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập. So với khung chương trình đào
tạo năm 1996 thì khung chương trình đào tạo năm 2004 có những thay đổi
nhất định, cụ thể là thời lượng của toàn khoá học là 173 đơn vị học trình, tăng
03 đơn vị học trình so với năm 1996. Vì vậy, thời lượng dành cho học phần
ngoại ngữ cũng thay đổi. Nếu trong khung chương trình của năm 1996 thời
lượng dành cho học phần ngoại ngữ chiếm 11,76 % (20/170 đvht) thời lượng
của toàn khoá học thì trong khung chương trình năm 2004 thời lượng dành
cho môn này giảm xuống còn 5,78 % (10/173 đvht) thời lượng của toàn khoá
học [1].
Lý giải cho sự thay đổi này, khi xây dựng chương trình khung cho các
ngành đào tạo đại học và cao đẳng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Đại học) cho
rằng trình độ ngoại ngữ của giáo sinh tuyển vào sư phạm ngày càng được cải
thiện chứ không phải là bắt đầu bằng số không như trước đây.Trên cơ sở
chương trình khung của Bộ ban hành, mỗi ngành đào tạo ở mỗi trường Cao
Đẳng Sư Phạm sẽ dựa vào đó để xây dựng mục tiêu cụ thể, cụ thể hoá mục
tiêu đào tạo đến từng môn học/học phần cần thiết cho ngành của mình cho
môn học/ học phần mà mình giảng dạy. Sau khi đã xác định được các mục

11tiêu cho từng môn học mỗi ngành có thể qui định về kế hoạch đào tạo, nội
dung và phương pháp đào tạo phù hợp với từng môn học .
1.3. Những thay đổi đối với học phần ngoại ngữ tiếng Anh trong nhà
trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Giang.
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Giang là trường sư phạm duy nhất của
tỉnh Bắc Giang. Trường có trách nhiệm đào tạo giáo viên THCS các ngành:
Ngoại Ngữ, Toán, Sinh, Hoá, Mĩ thuật, Âm nhạc... cho tỉnh. Từ năm 1991, do
nhu cầu đào tạo giáo viên tiếng Anh của tỉnh, Khoa Ngoại ngữ của trường

học, mỗi học kì gồm 4 đơn vị học trình (60 tiết). Giáo trình được lựa chọn sử
dụng cho khoá học là giáo trình LifeLines (Elemetary & Pre-intermediate),
Tom Hutchinson, Oxford University Press 1997. Với việc sử dụng giáo trình
này, sinh viên được cung cấp những cấu trúc ngữ pháp cơ bản, những chủ
điểm từ vựng phù hợp với nội dung của từng bài học. Ngoài ra, sinh viên còn
có cơ hội phát triển các kỹ năng như nghe, nói, đọc và viết thông qua những
tình huống cụ thể trong từng đơn vị bài học.
Trên cơ sở mục tiêu đề ra của môn học, giáo viên tập trung rất nhiều vào
việc rèn luyện phát triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên, luôn tạo mọi điều
kiện có thể để giúp sinh viên có thể giao tiếp được càng nhiều ,càng tốt.Với
phương pháp giảng dạy như trên thì phương pháp kiểm tra đánh giá cũng
hướng nhiều đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp.Sinh viên phải viết
nhiều, phải trình bày nhiều trong bài thi kiểm tra của mình.
Tuy nhiên, từ năm 2004, do chương trình khung thay đổi, do những nhà
soạn thảo chương trình có cái nhìn thay đổi về trình độ ngoại ngữ của các giáo
sinh ở các trường cao đẳng, nên thời lượng của môn ngoại ngữ cũng thay đổi
theo.
Chương trình giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ
trong nhà trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Giang được chia làm 2 giai đoạn
với tổng số 150 tiết. Giai đoạn 1 là 105 tiết được tiến hành giảng dạy trong

13học kì 1 và 2. Trong giai đoạn này sinh viên được học tiếng Anh cơ bản với
mong muốn đạt được trình độ trung cấp trước khi họ học giai đoạn 2. Mục
tiêu của giai đoạn này là cung cấp cho sinh viên những cấu trúc ngữ pháp cơ
bản (các thì; câu chủ động, bị động; lời nói trực tiếp, gián tiếp; mệnh đề quan
hệ; so sánh...), trang bị cho sinh viên vốn từ vựng nhất định để giao tiếp trong
các tình huống giao tiếp nhất định, phát triển cho sinh viên kỹ năng đọc,viết

tiếng Anh chuyên ngành Vật lý, tiếng Anh chuyên ngành Mỹ thuật, tiếng Anh
chuyên ngành Âm nhạc, tiếng Anh chuyên ngành Hoá học... .Với mỗi bộ giáo
trình tiếng Anh chuyên ngành bao gồm 14 đơn vị bài học. Mỗi đơn vị bài học
là một chủ đề về chuyên ngành bao gồm các phần: đọc hiểu; giới thiệu ngữ
liệu mới và luyện tập.
Như vậy, so với chương trình khung của năm 1996 thì chương trình
khung của môn tiếng Anh từ năm 2004 được thực hiện tại trường CĐSP Bắc
Giang đã thay đổi rất nhiều cả về thời lượng, mục tiêu, nội dung và giáo trình
giảng dạy. 15CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm trả lời cho các câu hỏi sau:
1. Chương trình đào tạo mới có tác động như thế nào đến hoạt động

16MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ
Thái độ của
giáo viên
CTĐT
HOẠT
ĐỘNG DẠY
Phương pháp giảng dạy &
phương pháp kiểm tra
đánh
giá
HOẠT
ĐỘNG HỌC

2.3. Các phương pháp thu thập thông tin
Dựa trên mô hình đánh giá đã nêu, chúng tôi đã thiết kế các bộ phiếu
khảo sát đối với giảng viên và sinh viên. Sau khi tham khảo ý kiến chuyên
gia, chúng tôi đã đưa ra được hai bộ phiếu khảo sát sau:
2.3.1 Phiếu khảo sát đối với giảng viên
Bộ phiếu khảo sát đối với giảng viên được thiết kế cho những giảng
viên, những người đã và đang tham gia tham gia giảng dạy môn tiếng Anh
theo chương trình giảng dạy cũ và mới cho sinh viên không chuyên tiếng Anh
tại trường CĐSP Bắc Giang. Bộ phiếu này gồm 2 phần: phần A là những
thông tin chung; phần B là phần nội dung. Trong phần B của bộ phiếu này
gồm 2 nhân tố: Phương pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra đánh giá;
Thái độ của giảng viên. Bộ phiếu này gồm 24 câu hỏi. Các câu hỏi từ 1 đến
18 là những câu hỏi về PP giảng dạy và PP kiểm tra đánh giá đối với chương
trình đào tạo cũ và mới, bao gồm những kiến thức giảng dạy, các nguồn sử

18dụng, thời gian phân phối, phương pháp giảng dạy, các thủ thuật giảng dạy,
các hình thức tổ chức hoạt động trên lớp, các kiến thức kỹ năng của bài kiểm
tra, đánh giá những ưu điểm và những hạn chế của bài kiếm tra ; từ câu 19
đến câu 24 là các câu hỏi về thái độ của giảng viên về việc thực hiện chương
trình đào tạo cũ và mới, đó là những hoạt động mà giảng viên thực hiện và
những tác động của chương trình mang lại .
2.3.2 Phiếu khảo sát đối với sinh viên
Bộ phiếu này được thiết kế cho cựu sinh viên (những người đã theo học
chương trình đào tạo cũ) và những sinh viên đang học trong nhà trường CĐSP
Bắc Giang (những người đang theo học chương trình đào tạo mới). Mục đích
của bộ phiếu này là nhằm tìm hiểu ý kiến của sinh viên về sự cần thiết đối với
việc học tiếng Anh của họ; phương pháp mà họ sử dụng để học tập; và

phố Bắc Giang) trong tỉnh (những người đã được đào tạo theo CTĐT cũ -
chương trình khung năm 1996 của Bộ GD&ĐT)
2.5. Qui trình tiến hành điều tra khảo sát
2.5.1 Các bước tiến hành khảo sát đối với giảng viên
Bộ phiếu khảo sát đối với giảng viên được phát cho toàn bộ 18 giảng
viên trong khoa ngoại ngữ trường CĐSP Bắc Giang trong buổi họp tổng kết
năm học 2007 - 2008. Trước hết, tất cả các giảng viên trong khoa đều đọc qua
toàn bộ các câu hỏi trong bộ phiếu này để xem xét lại những vấn đề mà họ
còn chưa rõ trong phiếu điều tra. Sau đó, giảng viên mang phiếu về nhà để
hoàn thành và sau 2 ngày họ đem nộp lại bộ phiếu mà họ đã hoàn thành.
Sau khi phân tích kết quả của bộ phiếu khảo sát, chúng tôi còn thấy có
một số những vấn đề chưa được rõ ràng, vì vậy chúng tôi đã tiến hành phỏng
vấn một số giảng viên trong khoa để làm rõ những vấn đề cần thiết.
2.5.2 Qui trình khảo sát đối với sinh viên
2.5.2.1 Đối với sinh viên đang theo học tại trường.
Bộ phiếu điều tra đối với sinh viên được chúng tôi phát trực tiếp tới từng
lớp sinh viên. Chúng tôi cho sinh viên cùng đọc các câu hỏi trong phiếu và

20giải thích cho sinh viên những chỗ mà sinh viên chưa hiểu rõ. Sau đó chúng
tôi yêu cầu sinh viên hoàn thành bộ phiếu điều tra trong 30 phút tại lớp.
Chúng tôi thu lại ngay bộ phiếu mà họ đã hoàn thành trên lớp.
Trên cơ sở những kết quả thu được của bộ phiếu khảo sát, chúng tôi
cũng muốn làm rõ hơn một số vấn đề, nên chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn
một số nhóm sinh viên trong các lớp.
2.5.2.2 Đối với những cựu sinh viên
Bộ phiếu này được chúng tôi phát trực tiếp cho các cựu sinh viên khi họ
tham gia vào các lớp tập huấn về thay sách giáo khoa của tỉnh được tổ chức

Mean .00
SD 1.30
SD (adjusted) 1.06
Reliability of estimate .66
Đối với bộ số liệu này ta có thể thấy rằng dữ liệu của các câu hỏi trong
bảng hỏi này là phù hơp với mô hình đánh giá và độ tin cậy của bộ số liệu
điều tra này là tương đối tốt (= 0.66).
Tuy nhiên trong bộ phiếu này vẫn còn một số phần trong một số câu hỏi
chất lượng câu hỏi chưa thực sự tốt đó là các phần 1,2 trong câu hỏi 1 và phần
5 trong câu hỏi 20 vì chúng nằm ngoài khoảng cho phép của mô hình.
Còn đây là kết quả tương quan của hai nhân tố (PPgiảng dạy và kiểm tra
đánh giá và Thái độ của giảng viên) mà chúng tôi thu được sau khi tính toán:

Bảng 3.1 Sự tương quan giữa các nhân tố của bộ số liệu của giảng viên
Nhân tố Độ tương quan
PP giảng dạy và
kiểm tra đánh giá
Thái độ của
giảng viên
Tương quan
Pearson
1.000 .766
PP giảng dạy và
kiểm tra đánh giá
Mức ý nghĩa .000 .000
Tương quan
Pearson
.766 1.000
Thái độ của giảng
viên

sinh viên theo CT mới và kỹ năng nghe con số này còn cao hơn đó là 72.2%
và 27.8%; Khi được hỏi tại sao giáo viên không chú ý nhiều đến việc giảng
dạy kỹ năng nghe và nói cho sinh viên khi dạy theo CT mới, giảng viên cho

23rằng các kỹ năng này không được thể hiện rõ ràng trong giáo trình môn học
như trong giáo trình của CT cũ, điều này có nghĩa là họ không bắt buộc phải
dạy và họ chỉ dạy khi họ có thời gian .
Bảng 3.3 Các nguồn sử dụng của giảng viên khi giảng dạy
Nguồn sử dụng CT cũ (có sử dụng - %) CT mới (có sử dụng - %)
Tài liệu tham khảo 100 100
Công nghệ thông tin 5.6 83.3
Giáo cụ trực quan 72.2 100

Kết quả thu đựơc trong bảng 3.3 cho ta thấy 100% giảng viên được hỏi
đồng ý rằng để giảng dạy được bộ môn tiếng Anh theo cả CT cũ và CT mới
họ đều cần đến tài liệu tham khảo. Nhưng chúng ta cũng có thể nhận thấy
được rằng để giảng dạy CT cũ giảng viên không nhất thiết phải sử dụng đến
CNTT vì chỉ có 5,6% giảng viên được hỏi nhận thấy sự cần thiết của CNTT
trong khi giảng dạy theo CT cũ, nhưng có đến 83,3% giảng viên cho rằng họ
cần đến CNTT khi giảng day theo CT mới.Vì theo họ việc sử dụng CNTT đã
giúp họ nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy và học tập, nhờ có công nghệ
mới mà SV có thể nhanh chóng chọn nhập và xử lý thông tin để biến thành tri
thức. Bên cạnh việc sử dụng tài liệu tham khảo và CNTT giảng viên còn cần
phải sử dụng giáo cụ trực quan trong giờ giảng của mình mặc dù số liệu thu
được là khác nhau, cụ thể là 100% giảng viên đồng ý với việc phải sử dụng
giáo cụ trực quan trong khi giảng dạy CT mới, nhưng chỉ 72,2% trong số họ
khi được hỏi đồng ý với việc phải sử dụng giáo cụ trực quan khi giảng dạy


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status