BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ BÉ OANH
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TRÀ
VINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
ĐỒNG THÁP 6 – 2015
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ BÉ OANH
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TRÀ
VINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.31.02.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
Đồng Tháp, 2015
Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức và lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân
tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ”
[ 21, 31].
Đây là một trong những định hướng có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay.
Hiện cả nước có hơn 230 trường đại học và cao đẳng, với tổng số gần
hai triệu sinh viên. Việc quan tâm giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
sinh viên có vị trí hết sức quan trọng đối với quá trình xây dựng, phát triển
đội ngủ trí thức trẻ, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ nói chung và
thanh niên, sinh viên nói riêng là góp phần thực hiện quan điểm của Đảng,
đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo: Nghị quyết TW 2 khóa VII nhấn mạnh
“Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy
thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng thiếu hoài bão
4
lập,
thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”.[ 16 tr 237]
Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang
đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với
những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúp
thanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nâng
lên.
Tuy nhiên, với thành tựu phát triển là mặt trái của cơ chế thị trường tác
động không nhỏ tới môi trường sống của toàn xã hội, đặc biệt là đạo đức của
thanh niên, sinh viên.
Trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh là trường Cao đẳng chuyên đào tạo về
trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị
học. Với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp
có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh trong bối cảnh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Toàn cầu hoá được xem là xu thế khách quan mà mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc, dù muốn hay không, cũng đều chịu sự tác động của nó. Việt Nam là
nước đang phát triển, quá trình toàn cầu hoá tạo cho chúng ta những thời cơ
thuận lợi có thể đi tắt đón đầu để phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách
thức. Thách thức đó bao gồm cả nguy cơ suy thoái, đặc biệt là suy thoái về
giá trị đạo đức truyền thống, chệch hướng đạo đức truyền thống, lối sống con
người Việt Nam hiện nay. Vấn đề đã và đang thu hút được sự quan tâm,
nghiên cứu của nhiều học giả trên nhiều lĩnh vực, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu như:
- Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho con người Việt Nam.
Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) (2001), “Một số vấn đề về lối sống, đạo
đức, chuẩn giá trị xã hội”, gồm một số nội dung quan trọng như: Sự tác động
của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống, đạo
đức, chuẩn giá trị xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước; kế thừa và phát triển nếp sống đạo đức và các giá trị truyền
thống dân tộc và cách mạng… tác giả đề ra phương hướng, quan điểm và giải
pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội mới.
6
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2002) “Giá trị
truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa” công trình đã đề cập
đến một số nội dung quan trọng: “Các giá trị truyền thống trước sự thẩm định
và thách thức của thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá”; “Một số suy nghĩ về
thuẫn nảy sinh trong xây dựng lối sống mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết
học số 8; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007), Toàn cầu hoá và nguy cơ suy
thoái đạo đức, lối lối con người Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học số 2;
Cao Thu Hằng (2003), Giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong điều
kiện hiện nay, Tạp chí Triết học số 11; Nguyễn Lương Bằng (2012), Tiêu chí
đánh giá, xếp loại đạo đức học sinh phổ thông- một số vấn đề đặt ra trong
bối cảnh hiện nay, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số 8 2012; Truyền thống đạo
đức trọng nhân nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên hiện nay, Tạp
chí Giáo dục, Số 4 (2006), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình
đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay (2001), Luận án Tiến sĩ Triết học. Các
tác giả Đoàn Minh Duệ, Nguyễn Lương Bằng, Đinh Thế Định, Nguyễn Thái
Sơn (2004), đã nghiên cứu đạo đức thanh thiếu niên ở nghệ An và đã xuất bản
sách “Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh
thiếu niên tỉnh Nghệ An”, Sách nghiên cứu, Nxb Nghệ An, 2004, … và một
số tài liệu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Ban tư
tưởng Văn hóa Trung ương soạn thảo.
Mỗi công trình, đề tài là một góc nhìn riêng của tác giả, là tiếng nói
hiện thực của từng nhà nghiên cứu góp phần xây dựng bức tranh thêm hài hòa
về hành vi, lối sống con người và đất nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
thế giới. Đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho tác giả trong quá trình
hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình, chưa có đề tài nào nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
- Từ lý luận và thực tiễn giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh
8
viên tại trường Cao đẳng Y tế tỉnh Trà Vinh, luận văn đề xuất quan điểm và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Cao đẳng Y tế.
6. Đóng góp của đề tài
- Luận văn đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm kế thừa và nâng cao
hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng
đạo đức mới cho sinh viên tại trường Cao đẳng Y tế tỉnh Trà Vinh trong giai
đoạn hiện nay.
- Luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho các tổ chức chính trị xã hội
trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho thanh niên, sinh viên.
- Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người
quan tâm đến công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên tại trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh.
Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh
viên tại trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh.
Chương 3: Những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Cao đẳng
Y tế Trà Vinh.
10
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến luận văn
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức gồm những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó
trị đạo đức truyền thống từ một quan điểm biện chứng và lịch sử thì nhất định
mắc vào những sai lầm của chủ nghĩa bảo thủ; không nhận thức được sự biến
đổi ấy của các giá trị đạo đức truyền thống, khư khư giữ những giá trị lỗi thời,
thì nhất định sẽ lạc lõng trong xã hội mới.
- Khái niệm truyền thống
Theo từ điển Hán - Việt: "Truyền thống: đời nọ truyền xuống đời kia"
Trong cuốn từ điển của Trung Quốc xuất bản năm 1989 định nghĩa: "Truyền
thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử. Nó tồn
tại ở các lĩnh vực, chế độ, tư tưởng, văn hóa, đạo đức. Truyền thống có tác
dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người. Truyền thống là
biểu hiện tính kế thừa của lịch sử" [9, tr. 10]. Dưới góc độ chính trị - xã hội,
Từ điển Chính trị vắn tắt định nghĩa: truyền thống - di sản về xã hội và văn
hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được duy trì trong suốt thời
gian dài. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thống.
Truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tượng như tính
cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứng
xử... được hình thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên - địa lý, kinh tế - xã
hội cũng như hoạt động của con người trong quá trình lịch sử và được lưu
truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác trong một cộng đồng người nhất định.
12
Trong "Đại từ điển tiếng Việt" định nghĩa "truyền thống nề nếp, thói
quen tốt đẹp được lưu giữ từ đời này qua đời khác" [23, tr. 1734]. Cách định
nghĩa này mới chỉ nêu lên những mặt tốt đẹp của truyền thống mà chưa nêu
được mặt hạn chế của truyền thống, trong quá trình phát triển xã hội.
Con người làm ra lịch sử của chính mình nhưng không phải làm theo ý
muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong
những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại.
nghĩa bảo thủ. Qua các kết quả nghiên cứu đó, chúng ta có thể rút ra được
những đặc trưng cơ bản của truyền thống:
- Truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền, tuy
nhiên những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi
những cơ sở, điều kiện hình thành nền truyền thống đó thay đổi sớm muộn
những nội dung của truyền thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh mới hoặc những truyền thống mới được hình thành, phát
triển. Cho nên truyền thống sẽ có tính hai mặt đối lập nhau đó là truyền thống
tốt và truyền thống xấu. Truyền thống tốt có tác dụng hình thành nên những
phẩm chất tốt ở con người và hành động của con người góp phần thúc đẩy xã
hội phát triển, và ngược lại truyền thống xấu sẽ kém hơn sự phát triển của xã
hội. Hai mặt này của truyền thống luôn luôn tồn tại, muân thuẫn biện chứng
với nhau trong quá trình lịch sử.
- Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người
trong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán,
thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý...
14
- Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người
(thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, dũng họ, gia đình, làng xóm...), là bản sắc của
các cộng đồng người.
- Truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của môi
trường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản
xuất và kết cấu kinh tế xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động
của môi trường văn hóa khu vực và trên thế giới.
- Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau, nó
ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục tập quán, nếp nghĩ... của con người.
"Mỗi nước, trong lịch sử phát triển của mình đều hình thành nên một hệ
chưa kịp thời bổ sung được những đặc điểm mới. Truyền thống thường gắn với
lợi ích của những giai cấp, những nhóm người trong xã hội nên những truyền
thống tốt thường được giai cấp tiến bộ lưu giữ, phát huy, còn những truyền
thống xấu bị các lực lượng phản động khuếch trương, truyền bá, cản trở sự
phát triển của lịch sử.
Các giá trị truyền thống sáng tạo ra những giá trị mới, đó là con đường
đặc trưng cơ bản nhất để con người tồn tại và phát triển. Bản chất con người
là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, truyền thống là một trong những yếu tố
cấu thành quan hệ xã hội và nó góp phần vào việc hình thành bản chất con
người ở các khía cạnh sau:
- Truyền thống là nền tảng vững chắc để hình thành các giá trị mới ở
con người.
- Các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là cơ sở tinh thần để ngăn
chặn, hạn chế những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp giữa người và người.
17
- Giữ sự phát triển đúng hướng, đóng vai trò điều tiết trong quan hệ
giao lưu văn hóa với thế giới bên ngoài, không bị nước khác đồng hóa, giữ
vững và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc.
- Tạo ra và tăng cường năng lực nội sinh, sức đề kháng của mỗi người,
mỗi gia đình, cộng đồng dân cư, là điểm tựa và là yếu tố nội lực của cá tính
sáng tạo của mỗi cá nhân.
- Hạt nhân hợp lý của truyền thống dân tộc có thể thúc đẩy tiến trình
hiện đại hóa. Trong truyền thống văn hóa dân tộc vừa có nội dung phản ánh
thời đại, cũng có nội dung phản ánh tính dân tộc và tính nhân loại, cái sau tiêu
biểu cho phương hướng phát triển của dân tộc đó và toàn nhân loại. Truyền
thống là ngọn nguồn, là động lực, kích thích sức sống của dân tộc, hình thành
dài, đã trở nên ổn định, mang đặc trưng riêng của dân tộc và được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác.
Truyền thống chính là sự nối tiếp hôm qua và hôm nay, là sợi dây nối
từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Truyền thống là một bộ phận thiết yếu
trong cuộc sống của chúng ta, nó bảo tồn cuộc sống của chúng ta. Truyền
thống của mỗi dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do con
người tự lựa chọn cho mình mà nó được hình thành, được quy định bởi chính
những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội mà dân tộc đó trải qua. Tuy nhiên, do
tồn tại xã hội luôn vận động và biến đổi nên những truyền thống được hình
thành trên cơ sở đó cũng không thể nhất thành bất biến, nhưng truyền thống là
cái mà trong quá trình vận động, biến đổi vẫn giữ lại những yếu tố nhân lõi
bên trong của nó. Như vậy, không có nghĩa là giá trị truyền thống là cái bất
biến vĩnh hằng. Thước đo của giá trị truyền thống không nằm ở đâu khác
ngoài thực tiễn, mà thực tiễn luôn luôn vận động và biến đổi, bởi vậy có
những truyền thống hôm qua còn giá trị nhưng hôm nay không còn giá trị nữa
19
hoặc có những tuyền thống bên cạnh mặt giá trị lại có cả mặt phản giá trị. Bởi
vì trong truyền thống không phải chỉ gồm toàn những cái tốt, cái hay mà lẫn
cái xấu, điều tiêu cực, lạc hậu.
Trong sự phát triển của lịch sử mỗi dân tộc cần phải giữ lại cho mình
những truyền thống tốt đẹp, những giá trị đã làm nên bản sắc văn hoá, làm
nên cốt cách tinh thần, bản lĩnh và nét đẹp nhân cách, trở thành động lực phát
triển của dân tộc, đồng thời cũng loại bỏ những truyền thống trở nên lạc hậu,
lỗi thời làm cản trở bước tiến của dân tộc. Đồng thời, mỗi dân tộc phải tự tạo
ra cho mình những truyền thống mới thực sự phù hợp và mang lại giá trị trong
hiện tại; phải không ngừng tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại
trong quá trình giao lưu văn hoá, hội nhập quốc tế để làm giàu thêm cho
Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc,
trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ...” [15,
tr. 126]. “...Đồng thời coi "Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại. Lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" [ 26, tr. 8]. Đấu tranh chống các
biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống, tác động tiêu cực của các
sản phẩm văn hóa thông tin đồi trụy, kích động bạo lực. Đẩy mạnh phòng,
chống tội phạm và các tệ nạn xã hội” [15, tr. 127].
Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải
vượt qua biết bao thử thách, hy sinh xương máu của biết bao thế hệ cha ông,
đấu tranh cho sự tồn tại và phát triển của mình, con người Việt Nam và dân tộc
Việt Nam đã tạo lập cho mình một loại truyền thống trên phương diện tư duy,
tâm lý, lối sống, cách ứng xử… chi phối hành vi và cuộc sống của con người
trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng và
với thiên nhiên. Đặc biệt là sự hình thành, phát triển các giá trị đạo đức truyền
thống mang bản sắc Việt Nam: lòng yêu nước, lòng nhân ái, sự khoan dung,
sống có tình có nghĩa, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, anh dũng, kiên cường
21
bất khuất, lao động cần cù, sáng tạo,... Đây không phải là những yếu tố siêu
nhiên, phi thường khác với mọi dân tộc khác, các giá trị đó đã ăn sâu vào trong
máu thịt qua các thế hệ và chính nó là sức mạnh Việt Nam suốt nhiều thế kỷ.
Đồng thời, những giá trị này được kết hợp hài hoà trong mối quan hệ biện
chứng với nhau, tạo nên những sắc thái độc đáo, lâu bền, tạo nên sức mạnh,
tinh thần của một dân tộc trường tồn trong lịch sử với những chiến công hiển
hách.
Những giá trị đạo đức truyền thống này vừa mang tính ổn định và lưu
truyền, vừa không ngừng phát triển và biến đổi, luôn luôn có sự kế thừa, loại
bỏ và bổ sung. Trong từng thời điểm nhất định, các truyền thống đạo đức đó
thống thường được đề cập đến và được coi là những giá trị nổi bật. Chẳng
hạn, Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư
tưởng đã khẳng định: Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân
tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý
thương người như thể thương thân, đức tính cần cù.
Như vậy, từ quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng như của Đảng ta,
có thể khẳng định, dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị đạo đức mang tính
truyền thống vô cùng phong phú, trong đó, các giá trị điển hình là: tinh thần
yêu nước, lòng thương người sâu sắc, tính khoan dung, tinh thần đoàn kết,
tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm.
Những giá trị đạo đức truyền thống là hành trang không thể thiếu của
tất cả mọi người, mọi thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ để tiến vào
tương lai, để thể hiện bản lĩnh con người Việt Nam trong xu hướng toàn cầu
hoá và hội nhập quốc tế, để xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, tức là
mỗi thanh niên phải có: “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát
khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu
tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; có ý thức tập
23
thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung; có lối sống lành mạnh, nếp sống văn
minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương, phép nước, quy
ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái; lao động chăm chỉ
với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao, vì lợi ích bản
thân, gia đình, tập thể và xã hội; thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết,
trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực”. [11, tr.58 - 59]
Đây là một trong những giá trị cốt lỗi làm nên bản sắc dân tộc Việt
Nam, làm nên những con người Việt Nam chân chính luôn hoàn thiện bản
những hành vi nào đó có phù hợp hay không phù hợp với sự tiến bộ của lịch
sử và hạnh phúc của nhân dân. Vì thế, có rất nhiều thứ đạo đức khác nhau
giữa các thời đại, các giai cấp, các dân tộc. Muốn hiểu đúng đắn một giá trị
đạo đức nào đó, chúng ta phải luôn luôn gắn bó với cơ sở ra đời của nó, và
phải đứng trên phương diện của dân tộc đó mà đánh giá… Nếu không nhận
thức được sự biện chứng ấy của giá trị đạo đức nói chung và giá trị đạo đức
truyền thống nói riêng mà khư khư giữ những giá trị lỗi thời, thì nhất định sẽ
lạc lõng trong xã hội mới. Vì vậy Lênin đã xác định giá trị của đạo đức ở chỗ
nó phục vụ cho tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc của con người. Đạo đức giúp cho
xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động.
Như vậy, khi bàn về đạo đức nói chung, đạo đức truyền thống nói riêng
Mác, Ăngghen, Lênin đã luôn luôn sử dụng những khái niệm củ, như thiện,
ác, vinh dự, lương tâm, chủ nghĩa vị tha và chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa khổ
hạnh và chủ nghĩa hưởng lạc… nhưng đi sâu vào những khái niệm này, chúng
ta thấy Mác, Ăngghen, Lênin trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử đánh giá lại toàn bộ những tư tưởng đạo đức từ xưa
đến nay, đặt nền móng cho một đạo đức khoa học nhất và nêu lên những nét
cơ bản của đạo đức Cộng sản chủ nghĩa. Lênin đã khẳng định rằng “Sự phát
triển hợp quy luật” của đạo đức cộng sản là ở chỗ, nó là quá trình kế thừa và
phát triển, vừa kế thừa vừa phát triển toàn bộ các giá trị đạo đức của nhân
25