BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN AN QUẾ VÂN
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TỰ KỶ LỚP 1, 2 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN AN QUẾ VÂN
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TỰ KỶ LỚP 1, 2 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
MÃ SỐ: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Hiền
Nghệ An, 2015
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TỰ KỶ LỚP 1, 2 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TP. HCM .. 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản ............................................................................ 12
1.2.1 Kỹ năng .......................................................................................................... 12
1.2.2 Giao tiếp .......................................................................................................... 12
1.2.3 Kỹ năng giao tiếp............................................................................................. 13
1.2.4 Phát triển kỹ năng giao tiếp ............................................................................. 13
1.2.5 Hòa nhập và giáo dục hòa nhập ...................................................................... 14
1.3 Một số vấn đề về trẻ mắc chứng tự kỷ ........................................................ 15
1.3.1 Tự kỷ................................................................................................................ 15
1.3.2 Hội chứng tự kỷ ............................................................................................... 16
1.3.3 Đặc điểm trẻ tự kỷ ........................................................................................... 19
1.4 Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lớp 1, 2 học hòa nhập ................. 24
1.4.1 Ý nghĩa của việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lớp 1, 2 học hòa
nhập ................................................................................................................. 24
1.4.2 Mục tiêu của phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lớp 1, 2 học hòa nhập25
1.4.3 Nội dung phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ lớp 1, 2 học hòa
nhập ................................................................................................................. 25
1.4.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ lớp 1, 2 ................................................. 26
1.4.5 Những khó khăn trong giao tiếp của trẻ tự kỷ ...................................... 28
Kết luận chương 1 ............................................................................................ 31
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO
HỌC SINH TỰ KỶ LỚP 1, 2 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TP. HCM ......... 32
2.1 Khái quát về địa bàn và đối tượng khảo sát ................................................ 32
2.2 Nội dung và phương pháp khảo sát ............................................................. 33
2.2.1 Nội dung khảo sát ............................................................................................ 33
3.2.5 Tổ chức các trò chơi phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ TK. .......... 74
3.2.6 Biện pháp phối hợp với phụ huynh để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ
tự kỷ trong sinh hoạt hàng ngày...................................................................... 77
3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất .............. 82
Kết luận chương 3 ............................................................................................ 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 89
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT NGUYÊN
COMPC
Communication Picture
(Giao tiếp bằng hình ảnh)
GT
Giao tiếp
GV
Giáo viên
XH
Thành phố Hồ Chí Minh
Xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng đánh giá thực trạng trẻ TK
Bảng 2.2. Thống kê số học sinh TK lớp 1, 2 học hòa nhập được khảo sát
Bảng 2.3. Số học sinh TK lớp 1, 2 học hòa nhập được khảo sát tại các trường
tiểu học trên địa bàn TP.HCM
Bảng 2.4. Bảng đánh giá thực trạng KNGT của học sinh TK lớp 1, 2
Bảng 2.5. Thực trạng KNGT học sinh TK tiếp nhận được trong các giờ học
Bảng 2.6. Các biện pháp giáo dục KNGT cho học sinh tiểu học thông qua dạy
học các môn học chiếm ưu thế.
Bảng 2.7. Nội dung giáo dục KNGT cho học sinh tự kỷ
Bảng 2.8. Thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục KNGT cho trẻ tự kỷ
Bảng 2.9. Biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ tự kỷ
Bảng 2.10. Hình thức giáo dục KNGT cho học sinh tự kỷ lớp 1, 2
Bảng 2.11. Bảng thống kê về các giáo viên được khảo sát
Bảng 2.12. Nhận thức, thái độ của giáo viên về ý nghĩa giáo dục KNGT
Bảng 2.13. Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc phát triển KNGT
cho trẻ TK
Bảng 2.14. Nhận thức về mức độ cần thiết của các KNGT cần giáo dục cho trẻ
TK
Bảng 2.15. Đánh giá của giáo viên về công tác hỗ trợ cho việc phát triển KNGT
của học sinh TK lớp 1, 2
Bảng 2.16. Ý kiến của giáo viên về mục tiêu phát triển KNGT cho học sinh TK
lớp 1, 2
kỷ có nhiều đặc điểm đa dạng, mức độ tự kỷ dao động khác nhau, từ nhẹ, trung
bình đến nặng.
Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu của con người. Thông qua giao tiếp mà
con người tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa tinh thần để hình thành, phát triển
2
nhân cách, hành vi, thói quen, có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội.
Do đó, giao tiếp rất quan trọng và cần thiết với trẻ em, nó lại càng cần thiết và
quan trọng hơn đối với trẻ tự kỷ nhưng hầu hết, trẻ tự kỷ đều gặp những vấn đề
về hành vi và gặp khó khăn trong giao tiếp. Trẻ có thể gặp khó khăn khi nói ra
cảm giác của mình và hiểu những lời người lớn nói cũng hạn chế. Do đó, trẻ rơi
vào trạng thái chán nản, bức bối nên trẻ tự kỷ thường cố gắng tìm mọi cách để
thể hiện nhu cầu của bản thân mà không cần phải dùng tới lời nói (khóc, lăn ra
đất, hét,…). Việc này xuất hiện nhiều lần sẽ tạo ra hành vi giao tiếp của trẻ. Nếu
với những hành vi đó, người lớn thường xuyên đáp ứng thì trẻ sẽ cảm thấy
không cần phải sử dụng lời nói mà chỉ sử dụng hành vi đó, trẻ sẽ dễ dàng đáp
ứng nhu cầu. Điều này làm hạn chế việc giao tiếp của trẻ. Ở nước ta, vấn đề
chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ là một lĩnh vực còn rất mới mẻ. Các công trình
nghiên cứu về giáo dục hòa nhập trẻ tự kỷ chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu
về vấn đề phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ.
Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ đã được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên,
theo thống kê của Vụ Giáo dục tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho đến nay,
mới có khoảng hơn 6000 giáo viên tiểu học được bồi dưỡng chuyên môn dạy
học hòa nhập trẻ khuyết tật theo các chương trình dự án (chiếm chưa đến 2%).
Bên cạnh đó, sự bùng nổ gia tăng trẻ tự kỷ học hòa nhập đặt ra nhiệm vụ cấp
thiết cần nghiên cứu là làm thế nào để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
trong môi trường hòa nhập.
Vì vậy, đề tài: “Phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh tự kỷ lớp 1, 2 ở
năng giao tiếp cho học sinh tự kỷ lớp 1, 2 ở các trường tiểu học TP. HCM.
Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học có trẻ tự kỷ học hòa nhập trên địa
bàn TP. HCM, gồm các trường: Nguyễn Thiện Thuật (Quận 3), Trần Quốc Toản
(Quận 5), Hồ Thị Kỷ (Quận 10), Phú Thọ (Quận 11), Yên Thế và Hoàng Văn
Thụ (Quận Tân Bình).
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp lý luận:
+ Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa.
4
Sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập, chọn lọc và khái quát hóa những
vấn đề lý luận cơ bản, những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về trẻ tự
kỷ, qua đó tìm ra biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Đó là các
văn bản của Đảng, nhà nước, của ngành Giáo dục - Đào tạo, các sách về tâm lý
học, giáo dục học, giáo dục đặc biệt trong và ngoài nước, các công trình nghiên
cứu, báo cáo khoa học,…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát sư phạm.
+ Phương pháp điều tra bằng Anket
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Sử dụng nhóm phương pháp này để tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp của trẻ
tự kỷ lớp 1, 2 ở các trường tiểu học TP. HCM.
- Phương pháp thống kê toán học: nhằm xử lý và kiểm định các số liệu thu thập
được trong quá trình nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Giao tiếp một cách có hiệu quả chính là bước quan trọng nhằm hướng tới xây
dựng các mối quan hệ và sự liên quan trong một cộng đồng.
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp: Thế kỷ XIX,
Các – mác ( 1818 – 1883), trong bản thảo Kinh tế – Triết học, năm 1884, đã bàn
về nhu cầu giữa con người với con người trong hoạt động xã hội. Ông cho rằng
con người buộc phải có giao tiếp trực tiếp với nhau trong sản xuất vật chất và tái
tạo con người. Con người chỉ trở thành con người khi có giao tiếp trực tiếp với
người khác.
Đến thế kỷ XX, vấn đề giao tiếp càng được các nhà nghiên cứu, các nhà
tâm lý học, xã hội học quan tâm nhiều hơn, Gmit (1863 - 1931) khẳng định vai
trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con người. Mác Tinbulow (1876 - 1965)
6
cho rằng tồn tại và đối thoại góp phần phát triển lý luận về giao tiếp. Nhà triết
học Nga V. M. Becchurep (1857 - 1927) cho rằng giao tiếp là ảnh hưởng tâm lý
giữa người này với người kia.
Nghiên cứu đặc điểm giao tiếp ở trẻ em, theo A. V. Daporodet, M. I.
Lixina, A. G. Ruxcaia,… trong suốt lứa tuổi tiểu học hình thành hai hình thức
giao tiếp cơ bản: giao tiếp giữa trẻ với người lớn và giao tiếp giữa trẻ với trẻ
cùng tuổi hoặc khác tuổi.
Các tác giả L. M. Sipisuna, O. V. Dairinxcaia, T. A. Nhicolova đặc biệt
quan tâm đến xúc cảm, tình cảm trong quá trình hình thành hành vi giao tiếp cho
trẻ và đưa ra phương pháp “ cùng – xúc – cảm – trong – tình – huống”. Điều
quan trọng mà các tác giả có cùng suy nghĩ là nhà giáo dục phải biết đặt mình
vào vị trí trẻ nhỏ để từ đó phân tích phản ứng của trẻ trong tình huống cụ thể để
tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp.
Các tác giả Tara Winterton, David Warden, Rae Pica chú ý đến vấn đề
hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ nhỏ. Họ đã chỉ ra những yếu tố cơ bản có
nơi mà trẻ không thể giao tiếp và tương tác thành công với những người xung
quanh. Trẻ TK có thể gặp khó khăn trong giao tiếp phi ngôn ngữ, chẳng hạn như
thông qua các cử chỉ, ánh mắt và nét mặt.
Tự kỷ được phát hiện và mô tả vào những năm 40 của thế kỷ trước nhưng
thực ra, đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người và càng ngày, số lượng trẻ TK
càng được phát hiện nhiều hơn. Có thể nói, TK đã trở thành “ căn bệnh của mọi
thời đại”. Vì vậy, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về trẻ TK.
Vào tháng 1 năm 1801, Jean Marc Gaspard Itard ( 1774- 1838) – bác sĩ
người Pháp – đã công bố trường hợp “ Cậu bé hoang dã vùng Aveyron”có tên
Victor, 12 tuổi. Theo mô tả, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn
ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, các ứng xử xa lạ với cuộc
sống của XH loài người. Nói chung, Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt XH
và không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường. Để khắc phục tình trạng
này, Itard đã tập trung vào các hoạt động như tạo hứng thú cho Victor giao tiếp
XH, đánh thức sự nhạy cảm về thần kinh, tăng cường mở rộng nhận thức cho
Victor, hướng dẫn Victor sử dụng ngôn ngữ, yêu cầu thực hiện thao tác trí tuệ
đơn giản. Những gì được viết trong cuốn sách “ Cậu bé hoang dã vùng
8
Aveyron” bởi nhà tâm lý học Harlan Lane đối chiếu với quan điểm hiện nay cho
thấy Victor có những hành vi giống những trẻ TK và dù câu chuyện đã xảy ra
cách đây 2 thế kỷ nhưng hành vi của cậu bé thì tương tự những dấu hiệu mà bất
kỳ cha mẹ nào có con bị TK cũng nói tới.
Cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “ rối loạn tâm thần” lần đầu tiên được sử dụng
bởi nhà tâm lý học Henry Maudslay để chỉ một số trẻ em có những hành vi
giống với hành vi của trẻ TK mà ta đã biết [23]
Sau này, để minh chứng cho các triệu chứng TK của Victor, Uta Frith
(1989) đã xác nhận những dấu hiệu của trẻ TK như sau: sút kém trầm trọng về
hoàn cảnh XH. Những trẻ này thường có những sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật
và toán học, đồng thời, có khả năng nhớ tốt một cách lạ thường. Người ta lấy tên
của ông – Asperger - để đặt tên cho hội chứng này [22]
Có thể nói, các nghiên cứu về TK được thực hiện ở các nước phát triển
như Anh, Pháp, Úc,… và đặc biệt ở Mỹ. Những nghiên cứu có đủ cả lý thuyết
và thực nghiệm với nội dung chủ yếu là phát hiện trẻ TK, đưa ra các tiêu chí
sàng lọc, xác định TK và phương pháp dạy cho trẻ TK.
Không phải mọi trẻ TK đều gặp vấn đề về ngôn ngữ nhưng tất cả trẻ TK
đều có điểm chung là hạn chế về giao tiếp. Khả năng giao tiếp của trẻ sẽ biến
đổi tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ và xã hội của trẻ. Trẻ TK chưa có ngôn
ngữ, chưa biết cách giao tiếp, trẻ TK gặp những trở ngại trong việc kết giao bạn
bè. Muốn giúp trẻ TK giao tiếp, phải tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, cho trẻ
học và chơi với các bạn sẽ làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Steven Gutstin cho
rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp, cần hình thành và phát triển mối
quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu được bản thân trẻ, hiểu được mối quan hệ giữa trẻ
và các đồ vật trong gia đình, mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng ở thế
giới xung quanh…
1.1.2 Ở Việt Nam
Từ cuối những năm 1970, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu ở Việt
Nam. Vấn đề đặc điểm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của trẻ
được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thạc,
Ngô Xuân Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết,… Qua đó, tác giả cho thấy vai trò của
10
nhóm bạn bè trong mô hình hoạt động ở lớp, đặc điểm giao tiếp ở trẻ, việc hình
thành tính tích cực giao tiếp ở trẻ.
Theo Lê Ngọc Trà - Giáo sư Tiến sĩ khoa học - Giao tiếp có quan hệ chặt
chẽ với giáo dục. Xét trên phương diện nào đó, giáo dục chính là giao tiếp.
hội chứng này như tác phẩm “ Trẻ tự kỷ – những thiên thần bất hạnh” của tác
giả Lê Khanh, cuốn sách được đánh giá như một cẩm nang để giúp các nhà tâm
lý học , giáo dục học, các nhà y học và phụ huynh nắm rõ hơn về tình trạng biểu
hiện bệnh TK ở trẻ gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý cho trẻ, làm cho trẻ rất khó
hòa nhập với cuộc sống. Qua đó, ta cũng có cái nhìn mới trong việc nuôi dưỡng
và chăm sóc những trẻ không may mắc phải hội chứng này.
Trong khoảng vài năm trở lại đây, Việt Nam ta có hai công trình nghiên
cứu luận án tiến sĩ về bệnh TK ở trẻ. Công trình thứ nhất của tác giả Ngô Xuân
Điệp, “ Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh”. Công
trình thứ hai của tác giả Nguyễn Minh Đức, “ Những khoảnh khắc lóe sáng
trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam”. Hai công trình nghiên
cứu này đã góp phần rất lớn về mặt lý luận cũng như đề xuất các phương pháp
trị liệu đối với các trẻ tự kỷ ở nước ta. Luận án đã được ứng dụng vào các trường
chuyên biệt dành cho trẻ TK trên địa bàn TP. HCM.
Bên cạnh đó, tác giả Vũ Thị Bích Hạnh với cuốn “ Trẻ tự kỷ – phát hiện
sớm và can thiệp sớm”, đã nêu ra những vấn đề cơ bản và chung nhất về cách
phát hiện sớm và can thiệp sớm cho trẻ TK. Tác giả người Úc gốc Việt, Võ
Nguyễn Tinh Vân, đã xuất bản cuốn sách “ Nuôi con bị tự kỷ”, “ Để hiểu chứng
tự kỷ”, “ Tự kỷ và trị liệu”, giúp hiểu rõ hơn về TK ở trẻ em và giúp các bậc phụ
huynh biết cách chăm sóc, nuôi con cũng như cách trị liệu cho trẻ TK. Ngoài ra,
ta còn có câu lạc bộ gia đình trẻ TK, các trang web nói về TK và trẻ TK như:
tretuky.com, daytretuky.com, bibi.vn, thamvantamly.com, thuocthang.com,…
Nhìn chung, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chăm
sóc và giáo dục cho trẻ TK nhưng vẫn còn thiếu những nghiên cứu về KNGT
cho trẻ TK. Do đó, phát triển KNGT cho trẻ TK là yêu cầu khách quan và cần
thiết vì vậy, trong đề tài này, tôi nghiên cứu để tìm cách phát triển KNGT nhằm
khắc phục những khiếm khuyết của trẻ TK về giao tiếp, giúp trẻ TK hòa nhập
được với cộng đồng, XH và nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ.
13
Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động qua lại giữa các cá thể, là quá
trình thông tin giữa con người với nhau, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh
hưởng qua lại và trao đổi cảm xúc với nhau ( B. Parughin, 1971).
Giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa các nhân cách cụ thể. Giao
tiếp chỉ được thực hiện trong môi trường XH. Trong giao tiếp, con người bộc lộ
thái độ với người khác và với chính mình. ( V. N. Miaxixev, 1960).
Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với nhau, qua đó, trao đổi
với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác, ảnh hưởng, tác động qua lại nhau [19]
Từ những dấu hiệu trên, tôi hiểu khái niệm giao tiếp như sau: Đó là sự
tiếp xúc tâm lý giữa con người với nhau, thông qua đó, con người trao đổi với
nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác, qua việc biểu đạt bằng lời nói, nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ. Giao tiếp có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau.
1.2.3 Kỹ năng giao tiếp
Có nhiều kết quả khác nhau cho nghiên cứu về KNGT, như tác giả Hoàng
Anh cho rằng: KNGT là năng lực của con người biểu hiện trong QTGT. Đó là
khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ… là hệ
thống các thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi được phối hợp hài hòa [1]
Tác giả Vũ Bích Hạnh thì cho rằng KNGT bao gồm các KNGT sớm như:
quan sát, lắng nghe, bắt chước, luân phiên, vui chơi, nghe hiểu ngôn ngữ, vận
dụng ngôn ngữ…KNGT là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ
được phối hợp hài hòa, hợp lý nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp
để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp [5]
Trong đề tài này, tác giả luận văn xin chọn khái niệm : KNGT là khả năng
sử dụng hợp lý, phối hợp hài hòa các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
trong QTGT nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
1.2.4 Phát triển kỹ năng giao tiếp
Giáo dục hòa nhập có bản chất riêng so với các phương thức giáo dục
khác như giáo dục cho mọi đối tượng trẻ. Trong giáo dục hòa nhập không có sự
tách biệt giữa trẻ khuyết tật và trẻ không khuyết tật. Mọi trẻ đều có giá trị và
được tôn trọng như nhau. Trong giáo dục hòa nhập, trẻ được học cùng một
chương trình phổ thông. Điều này thể hiện sự bình đẳng và tôn trọng trong giáo
dục.
15
Giáo dục hòa nhập là một sự tất yếu của thời đại. Được giáo dục trong
môi trường hòa nhập, trẻ có tiến bộ hơn. Giáo dục hòa nhập ở trường tiểu học
được tổ chức tùy vào điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp sao cho phù hợp
với trẻ. Trong giáo dục hòa nhập, gia đình, nhà trường, xã hội cần tạo sự hợp tác
và giúp đỡ trẻ trong các hoạt động.
1.3 Một số vấn đề về trẻ mắc chứng tự kỷ
1.3.1 Tự kỷ
Tự kỷ hay còn gọi bằng những tên khác nhau: trẻ tự bế, hội chứng tự kỷ.
Thuật ngữ tiếng Anh được xác định bởi một danh từ “ Autism”, chỉ những rối
nhiễu đặc trưng trong việc khó khăn thiết lập các mối quan hệ và tương tác với
XH. Đây là tên gọi do Leo Kanner, nhà tâm lý học, đưa ra vào năm 1943. Ông
mô tả chi tiết hành vi của nhóm trẻ này: “Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình
cảm với người khác; các thói quen thường ngày rất giống nhau về tính cách kỳ
dị và tỉ mỉ; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói khác thường; rất thích
xoay các đồ vật hình tròn; có kỹ năng cao về nhìn nhận không gian, giỏi trí nhớ;
hình thức bên ngoài nhanh nhẹn, thông minh” [23]
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về TK, xin được nêu một số khái
niệm của các nhà KH được sử dụng rộng rãi và khá phổ biến:
Năm 1944, Han Asperger – bác sĩ tâm thần người Áo (1906 – 1980), sử
dụng thuật ngữ Austim khi mô tả những vấn đề XH trong nhóm trẻ trai mà ông
là do rối loạn thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự
kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc
điều kiện kinh tế XH. Đặc điểm của TK là những khiếm khuyết về tương tác
XH, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, có hành vi, sở thích và hoạt động
mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại”. Đây là khái niệm được sử dụng phổ biến vì
được coi là khái niệm tương đối đầy đủ nhất và tôi xin chọn khái niệm này làm
công cụ nghiên cứu cho đề tài.
1.3.2 Hội chứng tự kỷ
1.3.2.1 Biểu hiện
Qua nghiên cứu, các chuyên gia cho rằng biểu hiện của trẻ TK có thể sớm,
có thể muộn nhưng thông thường rõ nét nhất ở khoảng 2 - 4 tuổi. Các biểu hiện
17
rất đa dạng, không nằm trong một khuôn mẫu nhất định. Một trẻ TK này không
hoàn toàn giống trẻ TK khác cả về biểu hiện, mức độ và thể trạng. Mặc dù vậy
ngay từ khi sinh ra, các chuyên gia đã ghi nhận một số biểu hiện bất thường có
thể có ở trẻ. Các biểu hiện có thể khác nhau trong từng giai đoạn phát triển.
Khi trẻ từ 0 – 6 tháng tuổi: thiếu những cử chỉ trao đổi vui mừng với mẹ;
Không tỏ thái độ thích thú hay quan tâm khi có người chăm sóc; Có dấu hiệu né
tránh, ngoảnh mặt đi nơi khác khi mẹ đối diện với trẻ; Có ánh mắt nhìn bất
thường, vô cảm; Im lặng cả ngày, ít cử động hoặc luôn luôn hoạt động, bứt rứt
không yên; Tư thế bất thường, không thích hợp khi được mẹ bế: cứng đờ hoặc
mềm nhũn, thể hiện trương lực cơ bất thường; Rối loạn giấc ngủ: quấy khóc
nhiều, ngủ ít, ngủ không yên giấc; Rối loạn trong ăn uống: hay nôn trớ, khó
ăn,…
Khi trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi: trẻ không quan tâm hay chú ý đến người
khác, chơi một mình; không phát âm hoặc ít phát âm; cử động lạ thường: đung
đưa người, chơi với các ngón tay và bàn tay ở trước mắt; khi được đặt ở tư thế