BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------
THÁI THỊ HƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH LỚP 5
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------------------------
THÁI THỊ HƯƠNG THẢO
RÈN LUYỆN TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH LỚP 5
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
CHUYÊN NGÀNH: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái thị Hương Thảo
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GV:
Giáo viên
HD:
Hướng dẫn
HS:
Học sinh
HSTH:
Học sinh tiểu học
KN:
Kĩ năng
KNHD:
Khả năng hướng dẫn
KT:
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh người thầy vĩ đại của Đảng của Cách mạng Việt Nam đã
nói: “Muốn có đạo đức Cách Mạng thì phải có tri thức”. Muốn có tri thức thì
phải học và phải học thật tốt. Để có được tri thức ấy thì phải học tất cả các
lĩnh vực và các môn học.Và một trong những môn học quan trọng đó là môn
Toán ở tiểu học nói chung và Toán ở lớp 5 nói riêng. Bên cạnh đó, tục ngữ có
câu “Sai một li, đi một dặm” hoặc “Sai một con tính, bán một con trâu”.Tính
toán là một vấn đề quan trọng bậc nhất đối với con người. Vì vậy, môn Toán
là một môn cần thiết cho người lao động, cần thiết để các em học tập các môn
học khác. Bởi vậy, việc dạy học môn Toán góp phần bồi đắp kiến thức, kĩ
năng toán học, rèn luyện phát triển óc sáng tạo và các phẩm chất tư duy cho
học sinh.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ II
(khóa VIII) đã xác định một trong những mục tiêu giáo dục của nước ta trong
giai đoạn hiện nay là phải đào tạo thế hệ trẻ có ý thức cộng đồng và phát huy
tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại; có
tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính
tổ chức kỉ luật.
Xu thế hội nhập và phát triển đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải đổi mới để
đào tạo nên những người lao động trẻ có tư duy sáng tạo, có khả năng giải
quyết các vấn đề trong xã hội; mà muốn có tư duy sáng tạo thì phải rèn luyện
cho học sinh biết tư duy, biết suy luận một cách logic. Như vậy, việc rèn
toán trong trường Tiểu học.
3. Khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
8
3.1. Khách thể nghiên cứu
Qúa trình rèn luyện tư duy logic cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học
môn Toán
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện tư duy logic cho học sinh lớp 5 thông qua dạy
học môn Toán
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu rèn luyện tư duy logic cho học sinh lớp 5
thông qua dạy học môn Toán tại một số trường Tiểu học trên địa bàn thành
phố Vinh.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được các biện pháp rèn luyện tư duy logic cho học sinh lớp
5 thông qua dạy học môn Toán có tính khoa học và khả thi thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả rèn luyện tư duy logic cho học sinh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về rèn luyện tư duy logic cho học
sinh lớp 5 thông qua dạy học môn toán .
6.2. Nghiên cứu thực trạng rèn luyện tư duy logic cho học sinh lớp 5
thông qua dạy học môn toán .
6.3. Đề xuất và thử nghiệm tính khả thi của các biện pháp rèn luyện tư
duy logic cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn toán .
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN LUYỆN TƯ DUY LOGIC CHO
HOC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TOÁN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đềtư duy logic và rèn luyện tư duy logic đã được nghiên cứu từ rất
lâu trong lịch sử.
Ngay từ thời cổ đại, những nhà thông thái như Socrater đã đưa ra phương
pháp sử dụng bảng hỏi để gạt bỏ những tri thức sai, đạt tới những chân lí.
Bằng việc sử dụng những câu hỏi, ông đã bước đầu nhấn mạnh đến tính thiết
yếu của tư duy logic như tính chặt chẽ, mạch lạc, suy luận đi từ những vấn đề
đơn giản đến những vấn đềphức tạp.
Aristot là người nêu ra những phương pháp cơ bản của việc xây dựng
những khái niệm, phạm trù phán đoán, suy luận tam đoạn luận và chứng
minh. Ông là người đầu tiên đưa ra những qui luật cơ bản của môn "logic học
hình thức" với tư cách là một qui luật của tư duy.
Vào đầu thế kỉ XX, nhiều nhà toán học đã đưa ra được những quan điểm
nêu bật được vai trò cũng như vị trí của tư duy logic. Chẳng hạn như Frege và
Ruseell đã có "ý đồ xếp logic vào trung tâm những hoạt động trí tuệ bằng
cách qui luật những chân lí toán học về chân lí logic".
11
Nhà tâm lí học Piaget cũng khẳng định trong lí thuyết "Trẻ em xây dựng"
rằng: Logic xuất hiện từ một chuỗi những giai đoạn. Trẻ xây dựng thao tác tư
duy thông qua việc hội nhập hành vi và suy nghĩ về các thao tác này.
"Phương pháp tổng quan dạy học toán" đã đềcập đến tầm quan trọng của việc
rèn luyện tư duy logic cũng như ý nghĩa của môn Toán đối với việc rèn luyện
tư duy logic cho học sinh. Theo các ông rèn tư duy logic cho học sinh là một
vấn đề rất hệ trọng. Bởi trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, bất cứ khi
nào, bất cứ ở đâu con người cũng cần tư duy chính xác – một tư duy logic.
Nếu không có điều này, con người sẽ không thể lao động, mà cũng không thể
giao tiếp được với nhau. Sự hiểu biết tư duy logic giúp chúng ta rất nhiều
trong học tập để nắm lấy tri thức mới. Và cũng theo tác giả trên, môn toán có
ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành tư duy logic cho học sinh. Trong quá
13
trình học tập toán học, học sinh gặp các hình thức và qui luật khác nhau của
tư duy logic cũng như các vấn đềcủa logic học.
Các tác giả Vũ Bá Kim, Vũ Dương Thụy trong cuốn Phương pháp dạy
học môn toán đã nhấn mạnh : "Tư duy không thể tách rời ngôn ngữ; hoàn
thiện trong sự trao đổi bằng ngôn ngữ. Vì vậy việc rèn luyện tư duy logic phải
gắn liền với việc rèn luyện ngôn ngữ chính xác". Đồng thời tác giả cũng đềra
phương hướng bồi dưỡng và rèn luyện tư duy logic cho học sinh như: làm cho
học sinh nắm vững và hiểu đúng, sử dụng đúng những liên kết logic "và",
"hoặc "," nếu ... thì".,...phát triển khả năng định nghĩa và làm việc với những
định nghĩa...
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư duy và tư duy
logic trong dạy học toán ở Tiểu học.
PGS. TS Trần Diên Hiển với cuốn "Các bài toán về suy luận logic" đã
đưa ra một hệ thống bài tập giải bằng phương pháp suy luận đơn giản và các
bài toán giải bằng công cụ của logic mệnh đề. Tuyển tập "10 chủ đề trắc
nghiệm khách quan 4 – 5 "của ông đã đưa ra các bài trắc nghiệm khá điển
hình xuyên suốt chương trình toán lớp 4 và lớp 5.
năng khiếu trên tạp chí nghiên cứu giáo dục như: "Về giáo dục năng khiếu và
cơ sở khoa học của chính sách tài năng"...
Nhìn chung, vấn đề rèn luyện và phát triển tư duy logic cho học sinh đã
được nhiều nhà tâm lí và giáo dục trong cũng như ngoài nước nghiên cứu.
Đây cũng là vấn đề quan trọng trong dạy học toán nói chung và dạy học toán
tiểu học nói riêng đềcập đến.
1.2. Một số vấn đề cơ bản
1.2.1. Tư duy
1.2.1.1. Khái niệm về tư duy
Tư duy con người luôn là vấn đề lớn của Triết học. Nhưng tư duy là gì
thì cho đến nay vấn còn nhiều cách hiểu khác nhau.
- Theo từ điển Tiếng Việt: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận
thức đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính qui luật của sự vật bằng những
hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.
- Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Tư duy là sản phẩm cao
nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não người. Tư duy
phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán
đoán, lí luận...
- Theo từ điển Triết học: Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất
được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, phản ánh tích cực thế giới khách
quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận ...Tư duy xuất hiện trong quá
trình sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách
gián tiếp, phát hiện những quan hệ của thực tại.
16
- Theo Triết học duy tâm khách quan, "Tư duy là sản phẩm của ý niệm
tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập và không phụ thuộc
vào vật chất.
đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể đã biết.
Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy không thể tồn tại bên
ngoài ngôn ngữ. Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy. Nếu không có tư duy với
những sản phẩm của nó thì ngôn ngũ chỉ là chuỗi âm thanh vô nghĩa.
+ Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Tư duy phải dựa
trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động.
Nhận thức cảm tính là một hâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện
thưc, là cơ sở, là chất liệu của những khái quát hiện tực theo nhóm, lớp, phạm
trù mang tính qui luật trong quá trình tư duy. Ngược lại tư duy và sản phẩm
của nó cũng ảnh hưởng đến quá trình nhận thức cảm tính.
Vì vậy, phải coi trọng và phát triển rèn luyện các thao tác tư duy cho học
sinh. Muốn kích thích tư duy học sinh phải đưa học sinh vào tình huống có
vấn đề và tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập, sáng tạo, giải quyết tình
huống có vấn đề. Việc phát triển và rèn luyện các thao tác tư duy phải được
tiến hành song song và thông qua truyền thụ tri thức, phải gắn với việc trau
dồi ngôn ngữ, gắn liền với việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát
và trí nhớ cho học sinh.
1.2.1.3. Các giai đoạn của tư duy
Tư duy xuất hiện như một quá trình theo qui luật diễn biến của nó. Qúa
trình này có các giai đoạn kế tiếp nhau.
Giai đoạn 1: Xác định vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy. Khi
gặp tình huống có vấn đề, chủ thể phải ý thức được đó là tình huống có vấn đề
đối với bản thân, phải phát hiện ra mâu thuẫn chứa đựng trong tình huống đó,
tạo ra nhu cầu phải giải quyết vấn đề, tìm thấy tri thức đã có trong kinh
18
nghiệm cá nhân có liên quan đến vấn đề, sử dụng các tri thức đó vào giải
Tư duy với tư cách là một hoạt động. Hoạt động tư duy đồng thời cũng là
quá trình tư duy về một khía cạnh nào đấy.
1.2.1.4. Các thao tác của tư duy
Đối với J. Piagie, trí tuệ có bản chất thao tác và được trẻ em xây dựng
nên bằng những hành động của mình. Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sự
phát triển của hệ thống thao tác. Thao tác đó là hành động bên trong, nó được
nảy sinh từ các hành động có đối tượng bên ngoài. Thao tác và hành động có
chung logic, tuy nhiên khác với hành động, thao tác có tính rút gọn và đối
tượng của nó không phải là những sự vật có thực, mà là những hình ảnh, biểu
tượng có thực, mà là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu.Thao tác có tính
chất thuận nghịch: Bảo tồn và có tính liên kết. Các thao tác được cấu trúc
thành hệ thống nhất định (Cấu trúc thao tác), thao tác trí tuệ không có sẵn
trong đầu đứa trẻ, cũng không nằm trong đối tượng khách quan mà được hình
thành ngay trong mối tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, thông qua
hành động.
20
Qúa trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác
nhất định. Có các thao tác sau: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,
khái quát hóa...
- Phân tích là một thao tác tư duy diễn ra trong đầu chủ thể nhận thức
nhằm tách ra những thuộc tính, những bộ phận, những đặc điểm tính chất của
đối tượng tư duy để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn.
Hay nói cách khác, phân tích là dùng hoạt động trí óc tác động đối tượng
tư duy thành những thuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ để
nhận thức đối tượng sâu sắc hơn.
Trong hoạt động tư duy thì so sánh giữ vai trò tích cực. Việc nhận thức
của sự vật, hiện tượng không thể có nếu không có sự tìm ra sự khác biệt sâu
sắc, sự giống nhau của các sự vật hiện tượng.
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai
sự vật hiện tượng là nội dung chủ yếu của thao tác tư duy. Cũng như thao
tác phân tích và tổng hợp, thì thao tác so sánh có thể ở mức độ đơn giản
(tìm tòi, thống kê, nhận xét) cũng có thể phát hiện trong quá trình biến đổi
và phát triển.
- So sánh là thao tác tư duy trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để xác
định sự giống nhau và khác nhau giữa sự vật, hiện tượng (hoặc giữa các thuộc
tính, các quan hệ các bộ phận của một số sự vật, hiện tượng). So sánh có quan
hệ chặt chẽ và dựa trên cơ sở phân tích tổng hợp.
Trong hoạt động tư duy thì so sánh giữ vai trò tích cực. Việc nhận thức
bản chất của sự vật hiện tượng không thể có nếu không có sự tìm ra sự khác
biệt sâu sắc, sự giống nhau của các sự vật hiện tượng.
Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự
vật hiện tượng là nội dung chủ yếu của thao tác tư duy. Cũng như thao tác
phân tích và tổng hợp, thì thao tác so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi,
thống kê, nhận xét) cũng có thể thực hiện trong quá trình biến đổi và phát
triển.
22
Ví dụ : Nhờ thao tác so sánh, học sinh lớp 5 nhận thức được sự giống
nhau, khác nhau khi thực hiện phép cộng (trừ) 2 số tự nhiên và cộng (trừ) 2 số
thập phân
Cộng (trừ) 2 số tự nhiên
Cộng (trừ) 2 số thập phân
+ Đặt tính theo cột dọc sao cho các + Đặt tính theo cột dọc sao cho các
23
của khái quát hóa cho nhận thức về đặc tính chung của hàng loạt sự vật, hiện
tượng cùng loại.
Ví dụ: Học sinh sau khi quan sát một số tính chất của các hình: hình
vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, học sinh khái quát hoá là:
- Mọi hình vuông đều là hình chữ nhật
- Mọi hình vuông đều là hình bình hành
- Mọi hình chữ nhật đều là hình bình hành.
Trừu tượng hoá và khái quát hoá là hai thao tác tư duy cơ bản đặc trưng
cho tư duy con người. Hai thao tác tư duy này có quan hệ mật thiết với nhau,
chi phối và bổ sung cho nhau. Trừu tượng hoá ở mức độ cao, lược bỏ những
yếu tố riêng lẻ của sự vật, hiện tượng đạt được sự khái quát hoá. Khái quát
hoá chỉ thực hiện được trên cơ sở trừu tượng hoá. Các thao tác tư duy cơ bản
thường diễn ra theo một hướng thống nhất, theo cùng một chiến lược tư duy
do chủ thể tư duy tiến hành, nhằm giải quyết nhiệm vụ tư duy đi đến kết quả.
Trong quá trình tư duy, các thao tác tư duy có mối liên hệ mật thiết đan chéo
vào nhau, xen kẽ và bổ sung cho nhau chứ không phải tuân theo một trình tự
máy móc riêng lẻ. Thiếu khái quát hoá và trừu tượng hoá thì không thể lĩnh
hội tốt tri thức.
- Đặc biệt hoá là thao tác tư duy toán học, chuyển một khái niệm hay
tính chất nào đó từ ngoại diên rộng sang các đối tượng có ngoại diên hẹp hơn,
chứa đựng trong tập hợp ban đầu (đặc biệt hoá ngoại diên).
Ví dụ: GV đưa ra tính chất: “Trong tập các số tự nhiên N, các số có tận
cùng là 5 và tổng các chữ số của số đó chia hết cho 3 thì số đó chia hết cho 3
và 5”. Giáo viên yêu cầu học sinh chọn ra một số cụ thể có những đặc điểm
như trên và kiểm tra xem nó có chia hết cho 3 và 5 không. Lúc này, học sinh
đã thực hiện thao tác tư duy đặc biệt hoá.
là tư duy trừu tượng, tư duy lí luận hay tư duy lí thuyết. Tư duy trừu tượng
phản ánh những qui luật, những mối liên hệ bản chất mà nhận thức cảm tính
cũng như các loại tư duy khác không phản ánh được. Trình độ tư duy trừu
tượng càng cao thì con người càng có tư duy thâm nhập vào các sự vật, hiện
25