Nghiên cứu về nghề thêu quất động trong giai đoạn hiện nay - Pdf 33

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cách đây từ rất lâu đời, đất Thường Tín ( Hà Nội ) đã được mệnh danh là đất
trăm nghề với những làng nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Nhân
dân Thường Tín, với bản chất cần củ, thông minh đã chịu khó học hỏi, sáng tạo để chế
biến ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, đặc sắc, đậm đà tính dân tộc. Một trong
những làng nghề thủ công nổi tiếng đi vào ca dao có thể kể tới làng thêu Quất Động:
“Xâm Động là đất trồng hành
Mễ Hòa chẻ nứa đan mành ta mua
Quýt Đức thêu quạt thêu cờ
Nhị Khê tiện gỗ đền thờ chạm hoa”.
Làng thêu Quất Động với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã đóng góp
không nhỏ cho tạo dựng bản sắc văn hóa Việt Nam, đã gắn bó, ảnh hưởng tới đời sống
văn hóa kinh tế xã hội cũng như là niềm tự hào cần được giữ gìn và phát huy của
người dân nơi đây.
Tuy nhiên thời gian gần đây, với sự lên nhanh của nền kinh tế thị trường, cùng
với nhiều sự hạn chế về kinh tế, hướng phát triển chưa thật bền vững, phát sinh những
mâu thuẫn,… làng nghề Quất Động không tránh khỏi những thách thức chung cùng với
các làng nghề truyền thống ở Việt Nam hiện nay: nguy cơ mai một những giá trị truyền
thống của làng nghề.
Để cung cấp cho độc giả quan tâm đến nghệ thuật thêu Quất Động những thông
tin, tri thức, nhân định chính xác về giá trị của nghề, làng nghề thêu Quất Động. Đồng
thời góp phần tôn vinh kĩ thuật nghề, những nghệ nhân đá có công đưa làng nghề đến
với ý nghĩa của nó trong việc bảo tồn văn hóa, cũng như thấy được tiềm năng phát
triển của làng nghề trong bối cảnh hiện đại. Nhóm sinh viên chúng tôi chọn đề tài
“Bước đầu tìm hiểu về làng nghề thêu truyền thống Quất Động, Thường Tín, Hà
Nội”.
2. Lịch sử vấn đề
Các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu,
nghiên cứu sinh quan tâm nghiên cứu. Trước hết phải kể đến cuốn “Làng nghề thủ
công truyền thống”, 2001 của Thạc Sĩ Bùi văn Vượng .trong tác phẩm này , Thạc Sỹ

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Bài viết tập trung nghiên cứu về sự hình thành và sự phát triển thăng trầm của
nghề thêu làng Quất Động qua các giai đoạn, những đặc sắc trong kĩ thuật thêu. Bài
viết cũng chỉ ra thực trạng nghề thêu ở Quất Động hiện nay, từ đó, đưa ra những giải
pháp nhằm góp phần duy trì, bảo tồn và phát triển làng nghề thêu truyền thống Quất
Động.
Phạm vi nghiên cứu: Làng nghề thêu Quất Động – Quất Động – Thường Tín –
Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic.


PHẦN HAI: NỘI DUNG
1. KHÁI QUÁT VỀ LÀNG, LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG
1.1. Khái niệm nghề, làng nghề thủ công truyền thống
a. Nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công ra đời từ thưở bình minh của lịch sử loài người, khi mà con người
có nhu cầu về ăn, mặc, ở và những vật dụng cho cuộc sống ( cách đây hàng vạn
năm ). Từ thưở ban đầu ấy, tất cả vật dụng đều đơn giản, thô sơ. Để cho việc thủ công
ngày càng chuyên môn hóa và phân lập thành các nghề thủ công thì phải có sự phân
công lao động tạm thời. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công xưởng bằng đá
thành lập từ cuối thời kì đồ đá. Qua thời đại đồ đá đến thời đại kim khí, nhiều nghề thủ
công đã hình thành và phát triển, nhiều nghề thủ công đã tách khỏi nông nghiệp.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nghề thủ công truyền thống vẫn trường tồn
cùng lịch sử dân tộc và tiếp tục phát triển cả về sau này. Nghề thủ công truyền thống
còn nhiều tên gọi khác như: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề tiểu thủ
công nghiệp… bao gồm rất nhiều nghề: chạm khắc gỗ, làm bánh dày, làm mây tre đan,

cầu của của gia đình, làng xã, dần dần các sản phẩm mang tính hàng hóa. Nghề
tiểu thủ công nghiệp dần tách ra khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn.
Hầu hết các họ chuyên làm nghề thủ công đồng thời cũng là những người nông dân.
Trong làng nghề vẫn có những hộ gia đình thuần nông.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp ở các
làng nghề đan xen nhau, tạo nên sắc thái riêng của làng nghề thủ công truyền thống.
b. Thường sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ
Các sản phẩm thủ công đơn giản, đáp ứng nhu cầu tiêu dung được sản xuất từ
nguyên liệu có sẵn trong vùng.
c. Kĩ thuật sản xuất thô sơ, đơn giản, chủ yếu là kĩ thuật thủ công.
Công cụ sản xuất của thợ thủ công hết sức đơn giản. Với người thợ thêu chỉ cần
có khung thêu, kim chỉ, vải. Các sản phẩm thủ công truyền thống được làm ra hầu hết
dựa vào đôi bàn tay khéo léo, đức tình cần cù, tính thẩm mĩ, sáng tạo của người thợ,
người nghệ nhân.
d. Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền nghề, dựa
vào trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề.
Việc dạy nghề theo phương thức cha truyền con nối và trong khuôn khổ từng
làng. Những nghệ nhân có vai trò quan trọng đối với làng nghề. Họ nắm giữ bí quyết
nghề nghiệp để truyền nghề và chính tài năng của họ đã tạo nên những sản phẩm độc
đáo, tinh xảo, mang giá trị vật chất và nghệ thuật cao.
e. Sản phẩm thủ công mang tính độc đáo, có tính mỹ thuật cao, đậm đà bản sắc dân
tộc.


Các sản phẩm thủ công sản xuất bằng tay nên không sản xuất một cách ồ ạt và
mang tính rập khuôn. Các sản phẩm đều là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương
pháp thủ công và sự sáng tạo nghệ thuật. Mỗi một làng nghề lại có một nét đặc trưng
riêng, mang bản sắc văn hóa địa phương và dân tộc.
1.3. Vai trò của làng nghề thủ công
Nghề thủ công truyền thống có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội.

gần giữa hai ga xe lửa xuyên Việt, cũng là nơi có hai chợ lớn của vùng: chợ Vối và chợ Tóa. Từ xưa, đây đã là nơi có
đường giao thông rất thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề.


Thời Nguyễn, Quất Động là một trong chín xã thuộc Tổng Bình Lăng Phủ
Thường Tín trấn sơn Nam Thượng. Ngày nay, tên Quất Động được lấy làm tên xã có 8
thôn: Quất Động, Quất Lâm, Quất Tỉnh, Đức Trạch, Đô Quan, Nguyên Bì, Bì Hướng
( Hướng Xá và Bì Xá ) và Liêu Xá.
Làng Quất Động là một làng lớn với dân số chiếm 2/3 số dân toàn xã.
Quất Động có truyền thống Cách Mạng. Thời chống Pháp vì là nơi có nhiều
phong trào kháng chiến mạnh nên giặc Pháp đã tràn về đốt đình chùa, nhà dân và giết
nhiều người vô tội. Ngày mồng 9 tháng Mười một năm Mậu Tý ( 1948 ) đã trở thành
ngày Giỗ trận của làng.
Quất Động cũng là đất hiếu học. Tại Văn Miếu ( Hà Nội ) còn ghi tên hai vị trong
văn bia là: Phạm Thế Hồ (1565) đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1610), và Trần Khái đỗ
Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1637). Người làng Quất Động khéo tay hay làm, ruộng đất tuy ít
( 220 mẫu canh tác ) nhưng nhờ có tay nghề tinh xảo, đến nay nhà nhà đã ngói hóa, có
điện thắp sáng và nước sạch. Trường học, nhà trẻ mẫu giáo và đường đi lại khang
trang, sạch đẹp
Đình chùa của làng đã được tu tạo giữ gìn, được nhà nước xếp hạng di tích lịch
sử.
Làng được tỉnh công nhận là làng nghề năm 2001.
2.2. Truyền thuyết về ông tổ nghề thêu và những nơi tôn thờ
Có nhiều người viết về ông tồ nghề thêu làng Quất Động.Có người viết ông
là người họ Bùi.Có người viết ông là người họ Lê.Lại có người viết ông tên thật là
Trần Quốc Khái vốn gốc người họ Mạc.Cũng có người viết ông là người làng
Nguyên Bì (Một làng thuộc xã Quất Động – Thường Tín – Hà Nội.
Theo ý kiến của cụ Bùi Trần Nội 72 tuổi – người trông giữ đình làng Quất Động
thì ông tổ nghề thêu tên là Bùi Công Hành, người làng Quất Động. Cuối đời Trần ông đi
dự thi vừa lúc quân Minh sang xâm lược nước ta nên khoa thi bị lỡ dở. Ông ẩn náu rồi

Năm xã này dựng chung một đền thờ ông ở thôn Hướng Xá (nay thuộc xã Quất Động)
gọi là đền Ngũ Xã. Giỗ ông vào ngày 12 tháng 6 âm lịch.
Năm 1994, họ Bùi Trần Quất Động cũng xây cất mộ nhằm tưởng nhớ công lao
của vị tổ nghề. Trên tấm bia mộ có ghi rõ tên, chức tước, năm sinh, năm mất của cụ tổ
nghề. Mộ hiện đặt tại xóm 1, đội 5 thôn Quất Động.
Ngoài ra ở một số tỉnh khác như Nam Định, Lâm Đồng (Đà Lạt) nơi có nghề thêu
cũng dựng đền thờ ông.
2.3. Nghề thêu làng Quất Động qua các thời kỳ
a. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Ở nước ta thời vua Hùng người Lạc Việt đã biết “mặc áo chui đầu, cài khuy bên
trái, các cô gái mặc váy áo thêu”. Sử sách cũ còn ghi: Đời Trần vua quan nước ta đã
dùng lọng và đồ thêu. Như vậy nghề thêu đã có ở nước ta từ rất sớm nhưng rất tiếc
không được ghi chép đầy đủ.
Giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1918, sách “Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam”
của Vũ Huy Phúc có viết: “Ở Hà Đông nghề xếp đầu tiên là nghề thêu” và nhắc lại
nguồn gốc nghề có từ thời Lê do Lê Công Hành dậy dân vùng Quất Động.
Giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1923 sách trên lại chép: “Tại hội chợ Hà Nội
năm 1919 có 264 gian hàng, Hà Đông có 12 mặt hàng trong đó có đồ thêu” hẳn cũng là
đồ thêu của thợ vùng này.


Sách “Hà Đông tỉnh địa dư chí” của J.Rowan (xuất bản năm 1925) nói cụ thể
hơn về số thợ thêu trong vùng: Quất Động 600 người, Vũ Lăng 600 người, Bình Lăng
40 người, Tam Xá 50 người.
Trong phong tròa chấn hưng công nghệ do Hoàng Trọng Phu (Tổng đốc Hà
Đông) khởi xướng vào những năm 30 của thế kỉ trước nghề thêu của vùng Quất Động
được phát triển mạnh. Thời đó đã có xưởng thêu lớn ở Hướng Dương thu hút hàng
trăm tay thợ của cả vùng thêu Quất Động.
Vào năm 1939 theo thống kê số thợ thủ công Việt Nam cử Bulletin, cả Bắc Kỳ khi
đó có 2315 thợ thêu tập trung ở 4 vùng lớn ứng với tứ trấn quanh Hà Nội xưa. Trong đó

động . Thu nhập từ nghề thêu chiếm hơn 40% tổng thu nhập hàng năm. Cả làng giàu lên nhờ nghề thêu.

Nhưng một vài năm gần đây, nghề thêu của làng Quất Động dường như lại lắng
xuống, không phát triển như những năm trước đó.
Về thăm làng thêu hôm nay không chỉ có các nhà báo, những người tìm học nghề
mà còn có nhiều khách nước ngoài tìm đến tận nơi để đặt hàng và mua hàng theo ý
muốn. Họ không chỉ biết đến nghề thêu Quất Động mà còn biết đến cả các nghệ nhân
có tay nghề cao như: nghệ nhân Bùi Đình Hán (đã mất), nghệ nhân Phạm Viết Tương
(đã mất), nghệ nhân Phạm Viết Đinh (đã mất), cụ Bùi Thị Tuyết, cụ Bùi Thị Hánh, cô
Hoàng Thị Khương, chú Hoàng Viết Chỉnh,...
Về thăm làng Quất Động chúng tôi tìm đến nhà cô Hoàng Thị Khương – 46 tuổi
tại xóm 1, đội 5, làng Quất Động. Cô sinh ra trong một gia đình có truyền thống với 3
đời theo nghề thêu. Khi mới lên 8 tuổi, sau một trận sốt cô đã bị liệt mất một chân. Sau
đó cô đã được mẹ dạy cho nghề thêu. Lúc đầu cô học thêu chỉ đẻ giết thời gian. Nhưng
rùi niềm đam mê với những đường kim mũi chỉ đã khiến cô hăng say, gắn bó với nghề
thêu. Với đôi tay khéo léo, sự tự mỉ, niềm say với nghề thêu cô đã tạo ra rất nhiều sản
phẩm thêu đẹp, bắt mắt, công phu như: bức tranh Nam Phương hoàng hậu, Cảnh làng
quê, thiếu nữ bên hoa huệ,...Tranh của cô đã được mời tham dự triển lãm tại: the
Gadern, Tuần lễ hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2010do sở Công thương tổ chức
04/08 – 09/08/2010 tại Cung văn hóa Lao động Hữu Nghị. Tranh của cô cũng được rất
nhiều khách nước ngoài yêu thích và đặt mua. Dù chưa có danh hiệu nhưng cô xứng
đáng được coi là một nghệ nhân.
3. KĨ THUẬT THÊU QUẤT ĐỘNG
3.1. Công vụ nghề thêu
Với nghề thêu truyền thống , chủ yếu thêu tay thì công vụ đầu tiên là khung thêu.
Khung thêu khá đa dạng: khung chữ nhật, khung tròn, khung gạn,… phục vụ thêu các
sản phẩm khác nhau.
- Đê đeo tay: Được làm bằng đồng hoặc bằng nhôm cứng. Đeo đê vào đầu ngón
tay giữa để khi đẩy kim không bị thủng đầu ngón tay.


d. Cách nhuộm màu
Do kĩ thuật nhuộm màu của nước ta cho đến cuối thế kỉ 19 vẫn chủ yếu được chế
ra từ những chất hữu cơ, việc pha nhuộm màu không được phong phú và tiện lợi như kĩ
thuật dùng thuốc nhuộm sau này. Chỉ thêu khi đó thường được nhuộm 5 màu: vàng, đỏ,
tím, lam, lục. Toàn bộ sáng tạo nghệ thuật của mình đều bị bó buộc vào năm loại màu đó,
người thợ thêu dù có tài hoa đi mấy đi nữa thì tác phẩm của họ cũng không tránh khỏi
hạn chế về màu sắc.
Hiện nay kĩ thuật nhuộm màu của nước ta đã hiện đại, phong phú hơn rất nhiều.
Chỉ từ ba màu cơ bản: Đỏ, vàng, lam có thể tạo ra được tất cả các màu cần thiết.
3.3. Kỹ thuật thêu


Để tạo ra được một sản phẩm thêu, những người thợ đã phải làm rất nhiều công
đoạn:
Trước tiên, để có thể thêu, người thợ cần in mẫu thêu lên vải. Để in được mẫu
thêu lên vải cũng cần trải qua rất nhiều các bước:
+ Bước 1: Vẽ hình mẫu thêu lên nền giấy trắng, sau đó chỉnh sửa lại từng đường
nét của họa tiết sao cho mềm mại đơn giản mà vẫn giữ được đặc điểm riêng biệt của
từng họa tiết đó.
+ Bước 2: Căn lại hình mẫu từ nên giấy trắng lên nền giấy bóng. Sau đó dung
kim châm thủng theo đường nét của họa tiết hình mẫu trên giấy bóng. Mỗi lỗ kim cách
nhau 1mm.
+ Bước 3:
● Làm mực in: Dùng dầu hỏa để ngâm giấy than ( hoặc bột vẽ màu đen) làm
mực đen, ngâm bột vẽ màu trắng làm mực nước trắng, khi in vải thì dùng mực đen và
ngược lại
● Làm bút: dung một que dài 40cm đầu cuốn bong
● Cách in: đặt mẫu đã được châm kim lên trên nền vải thêu. Bóc giấy bóng ra, ta
sẽ có mẫu hình in trên vải cần thêu. Lặp đi lặp lại cách này nhiều lần ta sẽ có nhiều
hình mẫu như ý.

chăng. Tùy theo yêu cầu của họa tiết mà ta thêu mà ta thêu bó kín toàn bộ hoặc bó hở
từng phần họa tiết.
+ Thêu đột: Tức là thêu từng mũi chỉ một đứng độc lập và nổi trên nền vải tạo
thành cá ganh chỉ từng mảnh, từng mảnh kết hợp với nhau. Thêu đột được áp dụng để
thêu các nền đất, nhụy hoa, mái ngói.
+ Thêu sa hạt: Tức là thêu cốn mũi chỉ để tạo thành các hạt của nhụy hoa và
thêu mào của một số loài chim. Dùng chỉ phù hợp với yêu cầu của mẫu thêu, lên kim ở
đúng vị trí cần sa hạt; tay phải cầm kim; tay trái cuốn sợi chỉ đang thêu quanh mũi kim
từ 1-3 vòng. Tùy theo nhụy to hay nhỏ mà cuốn nhiều hay ít vòng.
+ Thêu đâm xô luyện màu: Tức là thêu so le quyện các mũi chỉ vào nhau tạo
thành các mảng có họa tiết có các màu đậm nhạt xen lẫn nhau. Thêu đâm xô luyện
màu được áp dụng thêu những mảng phông nền hoặc thêu truyền thần ảnh.
Ngoài 9 cách thêu cơ bản trên, còn rất nhiều cách thêu sửa tỉa. Đây là công việc
cuối cùng để hoàn chỉnh các họa tiết thêu. Bất cứ áp dụng kĩ thuật cao để thêu một họa
tiết thì cuối cùng vẫn phải sửa tỉa cho đúng mẫu hơn; cách pha màu cùng đẹp hơn. Kĩ
thuật thêu sửa tỉa là tổng hợp các kĩ thuật thêu cơ bản nói trên.
Không phải bất cứ người thợ nào cũng thành thạo, sử dụng tốt các kỹ thuật thêu
nói trên. Cần phải trải qua thời gian, học hỏi thêm thì những người thợ mới có thể vận
dụng những kĩ thuật thêu tạo nên những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo.
3.4. Các sản phẩm thêu
Thời kì đầu, nghề thêu chủ yếu là thêu câu đối, trướng, tàu lọng… thở ở các
đình chùa; các loại khăn chầu; áo ngự, mũ miện cho vua chúa… Các sản phẩm thêu
thường nặng về giá trị sử dụng và kĩ thuật còn đơn giản.
Dần dần, theo nhu cầu của thị trường và tài hoa của người thợ, mẫu mã hàng
thêu ngày một phong phú, đa dạng hơn. Từ các mặt hàng thêu trắng đến các mặt hàng
thêu màu; từ các mặt hàng phục vụ đời sống đến các mặt hàng phục vụ nhu cầu
thưởng thức mĩ thuật,… mặt hàng nào cũng đòi hỏi người thợ thêu tính kiên trì, sáng
tạo.
Có thể phân thành các nhóm hàng sau:


thêu từ truyền thống đến hiện đại đều hiện lên một cách sống động trên nền vải. Các
mẫu thêu truyền thống đều được khai thác, chọn lọc, cải tiến, loại bỏ dần dần các chi
tiết lạc hậu, thô kệch. Mẫu thêu rất đa dạng, phong phú, luôn đổ mới, sáng tạo không
ngừng. Một số nghệ nhân Quất Động còn thêu được những tác phẩm nghệ thuật,
những bức thêu truyền thần và sáng tạo những sản phẩm theo mẫu mới như: bức
tranh “Nàng Mô-na Li-sa” của Lê-ô-na đời Vanh-xi, “Nhà Bác Hồ ở Kim Liên”, “Chùa
Một Cột”, “Chân dung Bác Hồ”. Hiện nay, các nghệ nhân thêu Quất Động có thể thêu
trên nhiều chất liệu khác nhau như vải cotton, lụa, tơ tằm, vải nhung, da, nỉ, dạ… với
nhiều thao tác: thẳng, thêu nổi, thêu kim tuyến, thêu sa hạt… để tạo nên những sản


phẩm tin xảo và hoàn hảo. Các sản phẩm thêu của Quất Động thường đảm bảo những
yêu cầu rất nghiêm ngặt về kĩ thuật thêu: chân mũi chỉ đều nhau, cánh chỉ quyện lấy
nhau, không lỗi chần chỉ hay trái canh, đường thêu càng mềm mại, chần chỉ càng lẩn
thì sản phẩm có mỹ thuật càng cao. Trước đây, người ta còn có công đoạn vẽ lại màu
lên sản phẩm sau khi thêu để đạt tính thẩm mĩ cao. Nhưng ngày nay, các thợ thêu giỏi
đã đạt đến kĩ thuật tỉa màu cho in, sử dung các loại chỉ màu phong phú để tạo nên các
sản phẩm thêu mang tính nghệ thuật.
Làng thêu không chỉ có Quất Động mà còn ở một số vùng khác như làng nghề
thêu ren ở Văn Lâm ( Hoa Lư, Ninh Bình ), làng nghề thêu Xuân Nẻo (Tứ Lộc, Hải
Dương), nghề thêu ở Huế, thêu XQ ở Đà Lạt.
Trong khi các mẫu thêu, kiểu thêu của làng thêu Quất Động vô cùng phong phú
đa dạng thì lảng Xuân Nẻo chỉ tập trung vào thêu ren. Nghề thêu ren chỉ du nhập từ
Pháp cách đây khoảng 100 năm và phát triển nhất vào những năm 70 của thế kỉ XX.
Các sản phẩm thêu ren của làng Văn Lâm thì đạt đến kĩ thuật cao và chủ yếu là để xuất
khẩu ra nước ngoài.
Làng nghề thêu Xuân Nẻo có lịch sử chưa được 100 năm ( từ 1928 ) nhưng
cũng có nghề thêu khá phát triển. Mặt hàng chính của làng Xuân nẻo là hàng thêu
trắng, gồm các loại: khăn trải bàn, phủ ghế, ga trải giường, khăn phủ khay đĩa, vỏ
chăn… Hàng thêu trắng cần một kĩ thuật tinh tế. Nền vải và màu chỉ đều trắng nên

2003). Đây là một mức thu nhập khá cao so với vùng thuần nông .
Hiện nay, nghề thêu không còn phát triển như trước. Cả làng chỉ còn vài chục hộ
gia đình còn làm nghề thêu và có rất ít hộ gia đình có thu nhập chính từ nghề thêu.
Theo cụ Trịnh Kiều – làng Quất Động, làng nghề đã bị mai một nhiều do thu nhập từ
nghề thêu thấp lại không ổn định nên nhiều thợ thêu đã bỏ nghề để làm nông nghiệp
hoàn toàn hoặc chuyển sang nghề khác. Thu nhập bình quân hiện nay của một thợ
thêu là khoảng 3 triệu đồng. Vì vậy người dân làng Quất Động trong đó có các thợ thêu
đã đi làm công nhân tại cụm công nghiệp Quất Động. Theo lời cô Hoàng Thị Khương
46 tuổi, hiện nay không còn cơ sở thêu lớn nào chỉ có các xưởng thêu 3-5 thợ hoạt
động dựa trên nhiều nguồn hàng mà khách hàng đến đặt một số thợ thêu vẫn còn hoạt
động đơn lẻ và nhận thêu “hàng rối”. Các sản phẩm thêu hiện nay chủ yếu là thêu tranh
phong cảnh, chân dung, thêu bắt vàng (thêu chỉ kim tuyến trên nền vải nhung đỏ)… để
phục vụ mục đích trang trí, thưởng thức nghệ thuật. Các sản phẩm thêu như lọng,
phướn, họa tiết áo kimono, ga trải giường, các loại túi sách… không còn được thêu
nhiều và chỉ thêu khi có khách hàng đặt thêu. Các sản phẩm thêu được thực hiện trên
nền vải cotton, lụa tơ tằm là chính, ít có các sản phẩm thêu trên nền da, nỉ, dạ, len...
Ở làng Quất Động, gia đình cô Hoàng Thị Khương có truyền thống ba đời làm
nghề thêu. Ông của nghệ nhân từng là thợ thêu, sau đó mang các sản phẩm thêu ra Hà
Nội bán. Tiếp đến là mẹ cô - cụ Bùi Thị Hánh, 74 tuổi đã bắt đầu thêu từ năm hơn 10
tuổi. Đến năm hơn 60 tuổi, do mắt kém cụ mới nghỉ thêu. Nghệ nhân Hoàng Thị
Khương cũng thêu từ lúc hơn 10 tuổi đến nay đã được hơn 30 năm. Tuy nhiên , thế hệ
con cháu của nghệ nhân này không còn ai nối nghiệp thêu nữa. Các bạn trẻ tuổi đời
khoảng 20 đều đi học các trường Cao đẳng, Đại học, các trường dạy nghề hay đi làm
nghề khác, không còn ai nối nghiệp thêu nữa.
Làng nghề thêu bắt nguồn từ làng Quất Động nhưng đến nay không còn phát
triển như trước. Nghề thêu được truyền sang một số vùng lân cận và ngày càng phát
triển hơn làng Quất Động như làng thêu Nguyên Bì, Lưu Xá- xã Quất Động, làng thêu
Đào Xá, Hướng Xá, Khoái Nội- xã Thắng Lợi- huyện Thường Tín- Hà Nội.
Làng Quất Động được tỉnh Hà Tây cũ công nhận là làng nghề năm 2001. Năm
2004, sở Du lịch Hà Tây cũ đã quyết định đưa làng nghề thêu thủ công truyền thống

hàng trực tiếp.
Theo cô Hoàng Thị Khương, làng Quất Động cũng đang dự tính mở những lớp
dạy thêu cho các em có niềm đam mê với nghề thêu, nhằm giữ gìn, bảo tồn nghề thêu
truyền thống.
b. Trong định hướng phát triển
Để phát triển làng nghề, cần phải đổi mới và ứng dụng kĩ thuật hiện đại, nâng
cấp cải tạo cơ sở hạ tầng kĩ thuật, kết hợp với kĩ thuật truyền thống.
Cần phát triển thị trường trong và ngoài nước nhằm giải quyết việc tìm “đầu ra”
cho sản phẩm thêu. Đặc biệt chú trọng xây dựng, bảo vệ, phát triển thương hiệu cho
làng nghề.


PHẦN BA: KẾT LUẬN
Làng nghề trên vùng đất Thường Tín vô cùng phong phú, các làng nghề đều có
thợ giỏi, có nhiều bàn tay vàng được phong tặng nghệ nhân, góp phần làm rạng danh
quê hương đất nước, làm đẹp cho đời.
Nghề thêu Quất Động đã có từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm của lịch sử làng
nghề đã từng bước khẳng định vị trí của mình trong hệ thống các làng nghề thủ công
truyền thống của Việt Nam. Làng nghề thêu Quất Động không chỉ nổi tiếng bởi lịch sử
lâu đời, những thợ thêu có đức tính tỉ mỉ, cần cù, đôi tay khéo kéo, đôi mắt tinh tường,
bộ óc sáng tạo và khả năng thẩm mỹ cao…mà còn bởi những tác phẩm nghệ thuật
được làm nên từ những đôi tay khéo léo ấy.
Bước đầu tìm hiểu về làng nghề đã giúp chúng tôi có những hiểu biết sâu
sắc hơn về mảnh đất, con người và những nét văn hóa đặc sắc của làng nghề
Quất Động. Làng nghề thêu truyền thống Quất Động cần được bảo tồn và phát
triển những nét đẹp tiêu biểu đó để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời
của vùng đất “trăm nghề” nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung!
Nhóm Mí, Hảo và Trang (k59)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status