Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
TRƯỜNG CAO ĐẴNG NGHỀ BÁCH KHOA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN CHÍNH TRỊ
TÊN ĐỀ TÀI: Quan điểm cơ bản của Đảng ta về phát triểu kinh tế
trong giai đoạn hiện nay.
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1:……………………………..
2:……………………………..
3:……………………………..
LỚP: CĐN 11
Hà Nội . Tháng 11 Năm 2012
1
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
Mục Lục:
1. Giới thiệu mở đầu về nên kinh tế Việt Nam:
2: Nội dung:
- CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lí của vấn đề.
cách kinh tế), hướng tới một nền kinh tế thị trường. Trong môi trường tự do
đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan
tâm chưa từng có đối với Việt Nam.
Nội Dung
Chương I: Cơ sở lí luận cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lí của vấn đề.
Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế
là giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hội nhập vì lợi ích đất
nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hội nhập kinh tế quốc tế
là công việc của toàn dân, toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới, phải xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với chủ
trương, định hướng phát triển; thúc đẩy các quan hệ hợp tác khu vực và thế
giới, song phương và đa phương. Gắn tốc độ phát triển với chất lượng và
hiệu quả; tăng trưởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội,
bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội. Khai thác có hiệu
quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước. Giữ vững và tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng, đồng thời nâng cao vai trò chủ động của Nhà nước, của Mặt
trận và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
và chủ quyền của nhau.
Nói tóm lại, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần
phải “phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước” với tư cách “những chiếc
cầu nhỏ vững chắc” để xuyên qua nó, đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không
hướng tư bản tư nhân đi theo con đường phát triển kinh tế tư bản nhà nước,
chẳng những chúng ta không hướng nó đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã
hội, mà có khi còn làm cho nó tự phát đi chệch sang quỹ đạo của chủ nghĩa
tư bản. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế tư
bản nhà nước, coi nó như là cứu cánh duy nhất của nền kinh tế quá độ.
4
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
Tại Đại hội X, khi một lần nữa khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan
trọng của kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta cũng đồng thời khẳng định: “Kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà
nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện
thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng
với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân”
Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã
trong bối cảnh xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tại Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “tiếp
tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể” trên cơ sở “tổng kết
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
tiêu dùng giảm sút dẫn đến sự trì trệ của nhiều nền kinh tế lớn. Ở trong nước,
mặc dù một số cân đối vĩ mô có những cải thiện nhưng hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức. Hàng tồn kho vẫn còn cao. Tình trạng nợ xấu chưa được gi.
- Số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê công bố vào cuối tháng 92013 cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong chín tháng đầu
năm 2012 là 4,73%, thấp hơn so với chỉ tiêu 5,5% mà Chính phủ đặt ra
trước đó cho cả năm 2012, đồng thời cũng thấp hơn mức 5,77% của năm
2011 và là một trong những mức tăng trưởng GDP thấp nhất của Việt
Nam.
+ Kết Luận: Nên kinh tế Việt Nam con non yếu cần vạch rõ mục tiêu
để kinh tế dần hồi phục và phát triểu, Ổn định kinh năm năm trở lại đây.
Trong khi sản lượng khu vực thương mại dịch vụ tăng kém, đạt 5,97%,
thấp so với cùng kỳ 2011, điều đáng lưu ý là tăng trưởng sản lượng công
nghiệp chỉ đạt 4,36%, thấp hơn mức tăng của GDP và giảm gần 1/2 so với
mức tăng 7,8% cùng thời điểm năm trước. ải quyết.
CHƯƠNG III: Biện pháp giải quyết vấn đề:
Được biết về vấn đề thực trạng trên. Tôi có đưa ra một số biện pháp đề
giải quyết.
- Thứ nhất là giảm thuế, phí và giảm chi tiêu.
- Thứ hai, phải tiếp tục kiên trì đổi mới một cách cơ bản doanh nghiệp
nhà nước.
- Thứ ba, phải tăng cường đầu tư vào vốn, nhân lực - trong đó đặc biệt
lưu ý đến cơ cấu dân số vàng của chúng ta gắn với khoa học công nghệ.
- Thứ tư, phải có giải pháp điều tiết thị trường và thúc đẩy cạnh tranh,
tức là phải dỡ bỏ những rào cản, quy định không đúng với sản xuất,
Chủ trương của Đảng ta về Hội nhập Kinh tế Quốc tế trong giai đoạn
mới
Xác định tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) cho
nên Đảng ta ngay từ Đại hội VI cho đến Đại hội VIII luôn luôn khẳng định
đường lối, chủ trương HNKTQT trong Nghị quyết của đại hội; tại Đại hội IX
(2001) đảng ta khẳng định “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Cụ thể hoá chủ trương này bằng Nghị
quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những định hướng lớn cho
HNKTQT trong suốt 10 năm qua; Đại hội X của Đảng nêu rõ chủ trương
“chủ động và tích cực HNKTQT, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực khác”. Cụ thể hoá chủ trương này, BCH Trung ương đã ban hành
Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh
tế phát triển nhanh và bền vững khi nước ta trở thành thành viên WTO; Đại
hội XI của Đảng đã đề ra chủ trương về hội nhập quốc tế là “tăng cường hợp
tác quốc tế, tạo môi trường hoà bình, ổn định và tranh thủ mọi nguồn lực từ
7
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
bên ngoài để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu
rộng và hiệu quả, góp phần phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ…”. Với đường lối của Đảng tại Đại hội XI đất nước ta đã
bước sang giai đoạn phát triển chiến lược mới. Hội nhập quốc tế không còn
bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả
chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hoá, xã hội … ở mọi cấp độ song phương
43% đến 44% GDP
40% đến 41% GDP
Các cơ quan chức năng Việt Nam một lần nữa thể hiện cam kết của mình
về tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Chính phủ đã thực hiện cải cách cơ
cấu tổ chức, điều cần thiết để hiện đại hóa nền kinh tế và sản xuất ra những
mặt hàng công nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn cũng như hướng về xuất
khẩu. Việc Việt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và
kí kết có hiệu lực Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ
vào tháng 12 năm 2001 đã tạo ra những sự thay đổi nhanh chóng hơn đối với
thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam. Nó đồng thời sẽ tạo ra một cú
8
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cải cách tiến tới
tự do hóa. Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp Việt Nam
tận dụng được sự lệch pha của Hiệp định dệt may, giúp xóa bỏ hạn ngạch đối
với hàng dệt may và vải vóc đối với các thành viên của WTO từ 1 tháng 1
năm 2005. Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân
số sống dưới mức 1 USD / ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác
như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Việt Nam đang cố gắng tạo việc làm
để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động mỗi năm tăng hơn 1 triệu người,
đồng thời hướng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm ở mức 7,5 đến 8%
trong suốt 5 năm tới.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp. Khu vực
9
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
sau Trung Quốc. Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt
Nam. Về tổng vốn cam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ
USD và 188 dự án đang hoạt động quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm
đạt 788 triệu USD. Tổng kim ngạch buôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008
đạt 88,77 tỉ USD nhưng mức thâm hụt thương mại trong cùng khoảng thời
gian cũng lên tới 15 tỉ USD. Tuy vậy, nếu so với thành tích tăng tỉ lệ tăng
trưởng cao trong những năm gần đây thì tăng trưởng kinh tế đang chậm lại.
Theo nguồn của chính phủ Việt Nam, trong quý hai năm 2008, GDP thực tế
tăng chỉ 5,6% so với cùng kì năm ngoái, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000.
Đây cũng là kết quả của chính sách có tính toán từ trước giảm tăng trưởng
của tín dụng nội địa nhằm kiềm chế lạm phát. Trong bảy tháng đầu năm
2008, chỉ số CPI tăng 19,78%. Nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư
nghiệp) tăng 3% trong nửa đầu năm 2008, tăng nhẹ so với con số 2,8% trong
nửa đầu năm 2007. Toàn ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng 7% trong
hai quý đầu, giảm so với mức 9,9% đạt được nửa đầu năm 2007. Nguyên
nhân chính của của sự suy giảm này chính là sự sụt giảm mạnh của ngành
xây dựng. Sản xuất, mặc dù vậy, vẫn tăng trưởng tốt, đạt mức tăng 11,4%
trong nửa đầu ngoái. Mặc dù mức tăng GDP khá khiêm tốn, sản lượng công
nghiệp vẫn tiếp tục tăng vọt lên mức 16,5% trong nửa đầu năm 2008.
Quan hệ kinh tế của Việt Nam đã được đa dạng hóa một cách rõ rệt và trao
đổi kinh tế của Việt Nam với các nước láng giềng trong ASEAN, với Hoa
Kỳ, Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc, Australia và Singapore đã được mở
của các khu công nghiệp và khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết
các trường dạy nghề trong thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 15% trong số
lượng 500.000 công nhân mà ngành công nghiệp của thành phố có khả năng
sẽ cần đến qua 2010.
Về mặt chính sách, một chiến lược cải cách ngân hàng đã được Chính
phủ dự thảo từ tháng 5 năm 2006. Ngân hàng Nhà nước Việt nam sẽ được
chuyển đổi thành mô hình ngân hàng trung ương, được ủy thác cũng như có
chức năng điều hành chính sách tiền tệ và giám sát các định chế tài chính.
Đến năm 2010, các ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ được tái cấu trúc,
cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa một phần với nỗ lực cải thiện năng lực hoạt
động của các ngân hàng này. Vào tháng 12 năm 2006, thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng phê duyệt danh sách các công ty nhà nước sẽ cổ phần hóa trong
giai đoạn từ 2007 đến 2010, bao gồm cả những công ty lớn như Việt Nam
Airlines, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), v.v. Một số
ngân hàng trong nước cũng đã chọn những ngân hàng lớn trên thế giới làm
đối tác chiến lược. Hai ngân hàng nước ngoài là HSBC và Standard
Chartered nhận giấy cấp phép vào tháng 9 năm 2008 để hoạt động tại Việt
Nam như các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đây là một bước tiến lớn,
dỡ bỏ rào cản cho hai ngân hàng này
Thị trường chính khoán phát triển vượt xa sức mong đợi chỉ trong một
vài năm gần đây. Một bộ luật liên quan đến chứng khoán và thị trường
chứng quán đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm 2007.
Số công ty niêm yết tăng theo cấp số nhân và tổng giá trị thị trường tăng gấp
gần 20 lần so với thời điểm năm 2005. Mặc dù vậy, từ năm 2007, thị trường
cổ phiếu bắt đầu gặp phải những khó khăn và vẫn đang trong thời kì lao đao.
Chỉ số giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm điểm
trong 9 tháng gần đây, từ mức khá cao gần 1100 điểm vào giữa tháng 10
năm 2007 xuống còn dưới 500 điểm tại thời điểm hiện tại. Giai đoạn bùng
nổ ban đầu của thị trường cỏ phiếu cũng thúc đẩy nhiều công ty nhà nước
phát hành cổ phần ra các nhà đầu tư hơn. Chi nhánh của một vài công ty nhà
USD
13
Nhóm 6
Tiểu luận chính trị
Các địa chỉ nhập khẩu hàng đầu năm 2008
Các hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu
VIệT NAM: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu – 2008
Triệu USD
1
Dầu thô
10450
2
Dệt may
9108
3
Da giầy
2022
9
Cao su
1597
10
Than đá
1444
11
Dây & cáp điện
1014
12
Khác
19622
14
Nhóm 6
Điện tử, máy tính và linh kiên
3722
6
Nhựa
2924
7
Dệt may, da
2376
8
Hóa chất
1768
9
Thức ăn gia súc
1738
10