BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CAO THANH HUYỀN
VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN QUY CHẾ THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐĂNG KÝ
KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Kinh tế
: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.Nguyễn Viết Tý
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1. Những nội dung trong Luận văn này do chính tôi thực hiện dƣới sự hƣớng
dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Viết Tý;
2. Mọi tham khảo dùng trong Luận văn đều đƣợc trích và dẫn nguồn rõ ràng
Chƣơng1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ THÀNH LẬP 7
DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐĂNG KÝ KINH
DOANH
1.1. KHÁI QUÁT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUY CHẾ 7
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1.1. Thành lập doanh nghiệp - Một trong những quyền tự do kinh 7
doanh của chủ thể kinh doanh
1.1.2. Quy chế thành lập doanh nghiệp - Một chế định của pháp luật 15
doanh nghiệp
1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐĂNG KÝ KINH 20
DOANH
1.2.1. Quản lý đăng ký kinh doanh - Một hoạt động của cơ quan nhà 20
nƣớc có thẩm quyền
1.2.2. Nội dung của hoạt động quản lý nhà nƣớc về đăng ký kinh 22
doanh
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH 25
NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KINH DOANH Ở VIỆT NAM
2.1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
25
2.1.1. Quy định pháp luật về cơ quan đăng ký kinh doanh
2.3.2. Những vƣớng mắc, khó khăn
55
Chƣơng 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ 60
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUY CHẾ THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH 60
NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ 67
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
ĐĂNG KÝ KINH DOANH
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐKKD: Đăng ký kinh doanh
CQĐKKD: Cơ quan đăng ký kinh doanh
QLNN: Quản lý nhà nƣớc
VBPL: Văn bản pháp luật
1
MỞ ĐẦU
2
quy chế pháp lý về thành lập doanh nghiệp và vấn đề quản lý ĐKKD tỏ ra không
còn phù hợp và cần thiết, tình trạng không thống nhất giữa Luật chung và các
Luật chuyên ngành, hay vấn đề quản lý thông tin doanh nghiệp còn nhiều vƣớng
mắc,.v.v. đã ít nhiều gây cản trở, khó khăn cho việc thành lập doanh nghiệp, hiện
thực hoá dự án đầu tƣ. Xuất phát từ những bất cập, hạn chế nói trên nên mới đây,
khi thảo luận về Dự thảo Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi, Bộ Kế hoạch và Đầu
tƣ đã đề xuất bốn định hƣớng lớn trong sửa đổi Luật doanh nghiệp, trong đó một
trong những vấn đề chủ đạo là hiện đại hóa hơn nữa công tác đăng ký doanh
nghiệp, tạo sự bình đẳng thực sự giữa các doanh nghiệp khi gia nhập thị trƣờng.
Nhƣ vậy, bên cạnh việc ghi nhận những thành tựu đã đạt đƣợc của các
chính sách, pháp luật doanh nghiệp hiện hành về quy chế thành lập doanh nghiệp
và quản lý ĐKKD, việc nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm của các nƣớc trên thế
giới và khắc phục những điểm hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về
vấn đề này trong giai đoạn hiện nay vẫn tiếp tục cần đƣợc nghiên cứu hoàn thiện
để có thể tạo hành lang pháp lý thuận lợi và thống nhất cho quá trình thành lập
cũng nhƣ quá trình quản lý ĐKKD đối với doanh nghiệp ở Việt nam trong xu thế
hội nhập, quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ nhƣ hiện nay. Với
những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vấn đề hoàn thiện quy chế thành lập
doanh nghiệp và quản lý ĐKKD trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu cho Luận văn thạc sĩ Luật học với mong muốn đóng góp một số ý kiến và
quan điểm cho quá trình sửa đổi và hoàn thiện những nội dung pháp lý về thành
lập doanh nghiệp và ĐKKD trong thời gian sắp tới.
2. Tình hình nghiên cứu
Với vai trò quan trọng của hai vấn đề quy chế pháp lý về thành lập doanh
nghiệp và QLNN về ĐKKD nên từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều công trình khoa
học tập trung nghiên cứu hoặc đề cập đến những vấn đề này ở nhiều khía cạnh
khác nhau. Chẳng hạn một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ Cải
cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt nam – nhìn từ khía cạnh pháp lý qua
nghiên cứu khoa học về những vấn đề này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
chung pháp luật về thành lập doanh nghiệp, ĐKKD, hoặc QLNN đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp mà chƣa có sự tách bạch rõ ràng giữa hai vấn
đề quy chế thành lập doanh nghiệp và quản lý ĐKKD. Không chỉ thế, các công
4
trình nghiên cứu khoa học nói trên mới chỉ tập trung nghiên cứu một hoặc một số
nội dung cụ thể, riêng lẻ liên quan đến đăng ký doanh nghiệp mà chƣa có sự
nghiên cứu tổng hợp tất cả những vấn đề pháp lý có liên quan trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của nhiều công trình khoa học chỉ giới hạn ở một
số địa phƣơng nhất định chứ chƣa có sự bao quát, tổng hợp trên địa bàn cả nƣớc,
chƣa làm nổi bật đƣợc sự phối hợp giữa các địa phƣơng trong việc nâng cao chất
lƣợng công tác quản lý ĐKKD.
Nhƣ vậy, các vấn đề liên quan đến quy chế thành lập doanh nghiệp và quản
lý ĐKKD mặc dù đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều dƣới những khía cạnh khác nhau
nhƣng vẫn chƣa thực sự bao quát hết đƣợc các nội dung pháp lý trong lĩnh vực
này, hoặc chƣa mang tính cập nhật và tổng hợp những vấn đề mới phát sinh từ
thực tiễn hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng của các doanh nghiệp hiện
nay. Hơn thế nữa, trƣớc yêu cầu đổi mới quản lý doanh nghiệp phù hợp với sự
phát triển của nền kinh tế trong nƣớc và quốc tế, Nhà nƣớc ta cũng đã ban hành
nhiều chính sách, xây dựng nhiều chƣơng trình cải cách, trong đó có chƣơng
trình cải cách ĐKKD, từ đó đòi hỏi những nội dung pháp lý liên quan đến những
vấn đề nói trên cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu bổ sung để góp phần hoàn thiện
hành lang pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp và sự QLNN đối với các
doanh nghiệp. Với việc nghiên cứu đề tài này, bên cạnh việc hệ thống lại những
nội dung kiến thức lý luận và thực tiễn; cũng nhƣ phân tích và đánh giá các quy
định pháp luật có liên quan, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu toàn diện cả hai
vấn đề pháp lý, đó là quy chế thành lập doanh nghiệp và quản lý ĐKKD; đồng
quản lý ĐKKD trong giai đoạn hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ một Luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu các
quy định pháp luật doanh nghiệp Việt nam hiện hành về quy chế thành lập doanh
nghiệp và quản lý ĐKKD, bao gồm quy định trong các VBPL chung và VBPL
chuyên ngành.
Vấn đề đăng ký doanh nghiệp có một phạm vi nghiên cứu rất rộng, nhƣng
trong phạm vi Luận văn thạc sĩ này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn
6
đề pháp lý về thành lập mới doanh nghiệp, bao gồm hai nội dung là ĐKKD và
đăng ký thuế. Bên cạnh đó, đề tài cũng tham khảo pháp luật của một số nƣớc
trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình đề xuất, kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về quy chế thành lập doanh nghiệp và quản lý ĐKKD.
Ngoài ra, khi đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật, đề tài sẽ nghiên cứu, đánh
giá thực tiễn thi hành pháp luật chung trên phạm vi cả nƣớc và ở một số địa
phƣơng trên cả nƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin
về Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển kinh
tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, tác
giả sẽ kết hợp sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu nhƣ: phƣơng pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hoá để giải quyết các vấn đề lý
luận và thực tiễn của đề tài.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Danh mục các chữ viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về quy chế thành lập doanh nghiệp và
mà là một hệ thống các quyền gắn liền với chủ thể kinh doanh, mà chủ yếu và
trƣớc hết là: Quyền đƣợc bảo đảm sở hữu đối với tài sản; Quyền tự do thành lập
doanh nghiệp; Quyền tự do hợp đồng; Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật;
Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp. Trong số những quyền
nói trên, quyền tự do thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản, quan trọng
trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh, là tiền đề để thực hiện các quyền
khác thuộc nội dung của quyền tự do kinh doanh. Có thể hiểu: Quyền tự do
thành lập doanh nghiệp là quyền của các tổ chức và cá nhân trong việc tạo lập tƣ
8
cách pháp lý thông qua các thủ tục thành lập và đăng ký doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, quyền tự do thành lập doanh nghiệp còn bao hàm cả quyền tự do trong việc
lựa chọn ngành nghề kinh doanh, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và địa
điểm kinh doanh. Về nguyên tắc, không ai có quyền can thiệp, ngăn cản trái
phép quyền thành lập doanh nghiệp của họ. Đồng thời với quyền của tổ chức, cá
nhân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nƣớc, đó là phải tạo những điều kiện bảo đảm
cho họ thực hiện quyền của mình [6]. Ở đây, việc các chủ thể kinh doanh muốn
thành lập doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan
nhà nƣớc có thẩm quyền hoàn toàn không phải là một sự hạn chế quyền tự do
kinh doanh. Ngƣợc lại, việc thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp là
một hoạt động cần thiết giúp cho doanh nghiệp đƣợc thừa nhận tƣ cách pháp lý
và nhận đƣợc sự bảo hộ về quyền và lợi ích từ phía Nhà nƣớc; trong khi các cơ
quan Nhà nƣớc có thể thực hiện tốt hơn hoạt động QLNN đối với doanh nghiệp.
Không chỉ thế, giống nhƣ quyền tự do kinh doanh nói chung, phạm vi quyền
tự do thành lập doanh nghiệp và sự thừa nhận của Nhà nƣớc đối với quyền này
cũng có sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Ở nƣớc ta, giai đoạn
trƣớc năm 1986, Đảng và Nhà nƣớc tiến hành xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa với hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh dựa trên hình thức sở hữu
hoạch kinh doanh, trụ sở, nhà xƣởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ thuật, đội
ngũ nhân công, nhà quản lý,.v.v..Đây thực sự là những công việc quan trọng
mang tính nền tảng, tiền đề và quyết định rất nhiều tới sự thành công của doanh
nghiệp sau khi đƣợc thành lập. Ở một số quốc gia trên thế giới nhƣ Singapore,
Anh quốc, trên các websites của Chính phủ nhƣ www.enterpriseone.gov.sg hay
www.gov.uk/set-up-business-uk: từ việc lập kế hoạch kinh doanh (đƣa ra một
danh sách gợi ý những công việc phải làm trƣớc khi khởi sự kinh doanh, ví dụ:
nghiên cứu thị trƣờng, viết kế hoạch kinh doanh, xây dựng kế hoạch tài chính,
chọn tên kinh doanh, tìm kiếm cơ sở kinh doanh v.v..); bắt đầu hoạt động kinh
doanh (lựa chọn một mô hình doanh nghiệp phù hợp, trình tự, thủ tục ĐKKD,
đăng ký thuế,.v.v.); và phát triển công việc kinh doanh đều đƣợc hƣớng dẫn cụ
thể, chi tiết [58,59]. Điều này giúp cho các nhà đầu tƣ khi có dự định thành lập
doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu thông tin, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc hiện thực hóa kế hoạch kinh doanh của mình.
10
Dưới góc độ pháp lý: Thành lập doanh nghiệp đƣợc hiểu là thủ tục pháp lý
đƣợc thực hiện tại cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền để xác lập tƣ cách pháp lý
cho doanh nghiệp mà nhà đầu tƣ bỏ vốn thành lập. Nhƣ vậy, sau khi lập kế
hoạch kinh doanh và xác định loại hình doanh nghiệp dự định thành lập, nhà đầu
tƣ sẽ phải chuẩn bị những giấy tờ cần thiết mà Nhà nƣớc yêu cầu nhƣ: giấy đề
nghị đăng ký doanh nghiệp, văn bản xác nhận vốn pháp định, chứng chỉ hành
nghề, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, dự thảo
Điều lệ, danh sách thành viên, v.v.. Những giấy tờ nói trên đều đƣợc thể hiện
trong bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và có giá trị thẩm định, kiểm tra về khả
năng quản lý, định hƣớng phát triển doanh nghiệp, năng lực của nhà đầu tƣ cũng
nhƣ tiềm lực tài chính để hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trƣờng, đủ sức
cạnh tranh mang lại sản phẩm chất lƣợng cao cho xã hội. Ở đây, theo quy định
chức kinh tế khác trong và ngoài nƣớc một cách bình đẳng nhằm mở rộng quy
mô kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay tồn tại rất nhiều các hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên, xét đến tính liên kết, khả năng
thu hút vốn và đầu tƣ kinh doanh với quy mô đa dạng thì doanh nghiệp là mô
hình ƣu việt nhất và đáp ứng đƣợc đầy đủ các tiêu chí nói trên. Hay nói cách
khác, việc thành lập doanh nghiệp tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ có cơ hội liên
kết với nhau về vốn, về công nghệ, về nhân lực, trí tuệ,.v.v.để từ đó thực hiện
hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên thị trƣờng, không ngừng mở rộng quy mô kinh
doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
khác trong và ngoài nƣớc.
Bên cạnh đó, thành lập doanh nghiệp còn giúp cho các nhà đầu tƣ tiếp cận
dễ dàng hơn với nguồn vốn vay, và các chính sách hỗ trợ khác của các tổ chức
tín dụng và của Nhà nƣớc.
Thứ hai, ý nghĩa đối với Nhà nước: Việc thành lập doanh nghiệp không chỉ
có ý nghĩa đối với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với
Nhà nƣớc, cụ thể là ý nghĩa trong hoạt động quản lý Nhà nƣớc đối với doanh
nghiệp. Thông qua việc thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, cơ quan Nhà
nƣớc sẽ nắm bắt đƣợc thông tin cơ bản của doanh nghiệp cũng nhƣ tình hình
12
phát triển của doanh nghiệp qua các năm, số lƣợng doanh nghiệp đƣợc thành lập
ở từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực kinh doanh, v.v.. Trên cơ sở nắm bắt
đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc nhƣ vậy, Nhà
nƣớc sẽ xây dựng những kế hoạch, chính sách định hƣớng phát triển kinh tế - xã
hội hay có những thay đổi, điều chỉnh sao cho phù hợp với sự phát triển của
doanh nghiệp, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, trong quá trình xem xét, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng
trƣởng GDP.
Bên cạnh đó, sau khi đƣợc thành lập, với nguồn lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt
động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng, hƣớng đến sự tăng trƣởng bền vững
của nền kinh tế đất nƣớc.
Nhƣ vậy, việc thành lập doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối
với việc bảo đảm quyền lợi cho bản thân các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối
với hoạt động quản lý của Nhà nƣớc và hƣớng đến bảo vệ lợi ích chung cho các chủ
thể khác trong xã hội. Chính vì vậy, quan tâm xây dựng các chính sách đúng đắn
phát triển kinh tế - xã hội và đẩy nhanh hoạt động cải cách thủ tục hành chính là
một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nƣớc đề ra, để không ngừng mở rộng
quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy việc thành lập doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức, cá nhân khi thành lập doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh.
1.1.1.3.Khuôn khổ pháp luật cho việc thành lập doanh nghiệp
Nhƣ trên đã đề cập, thành lập doanh nghiệp là một trong những quyền
quan trọng nằm trong nội dung của quyền tự do kinh doanh. Đây là quyền cơ
bản của các nhà đầu tƣ đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ. Tuy nhiên, xuất phát từ việc
thành lập doanh nghiệp có ảnh hƣởng đến lợi ích toàn xã hội nên việc thành lập
doanh nghiệp phải đƣợc thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Các quy định của
pháp luật về thành lập doanh nghiệp, một mặt phải bảo đảm quyền tự do kinh
doanh của nhà đầu tƣ, mặt khác phải đáp ứng đƣợc yêu cầu QLNN đối với
doanh nghiệp.
Hiện nay, Luật doanh nghiệp (2005) là luật cơ bản nhất điều chỉnh chung,
ghi nhận các vấn đề liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp. Luật doanh
14
nghiệp 2005 đã khẳng định quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp của
nhà đầu tƣ, không phân biệt đó là nhà đầu tƣ trong nƣớc hay nƣớc ngoài.
1.1.2. Quy chế thành lập doanh nghiệp - Một chế định của pháp luật doanh
nghiệp
1.1.2.1.Khái niệm quy chế thành lập doanh nghiệp
Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ của Viện từ điển học và bách khoa thƣ
Việt nam – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt nam:
“Quy chế” nói chung đƣợc hiểu là văn bản nêu các điều, khoản quy định
thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính
trị hoặc trong xã hội để các thành viên có liên quan thi hành, nhằm bảo đảm sự
thống nhất hành động, tinh thần kỉ luật, hiệu quả công việc và mục tiêu cần đạt tới.
Quy chế phải đƣợc cơ quan có thẩm quyền chuẩn y mới đƣợc thi hành để bảo đảm
tính thống nhất của pháp luật nhà nƣớc và quyền dân chủ của các thành viên tham
gia [55].
“Chế định pháp luật” đƣợc hiểu là một nhóm quy phạm pháp luật điều
chỉnh nhóm quan hệ xã hội giống nhau trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều
ngành luật. Chế định có thể đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Nghĩa
chung và rộng là các yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội, nghĩa
hẹp là tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý [56].
Trong thực tế có thể thấy, một hoặc một nhóm các quan hệ xã hội giống
nhau có thể do một hoặc một tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong
đó từng quy phạm pháp luật có nhiệm vụ điều chỉnh một nội dung hoặc một vấn
đề cụ thể của quan hệ xã hội đó. Đối với việc thành lập doanh nghiệp, đây không
chỉ là hoạt động đầu tƣ kinh doanh của các chủ thể kinh doanh mà còn là hoạt
động của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền nhằm xác lập tƣ cách pháp lý cho
doanh nghiệp. Không chỉ thế, để thực hiện hoạt động thành lập doanh nghiệp,
bản thân các nhà đầu tƣ và cơ quan Nhà nƣớc đều phải thực hiện rất nhiều công
việc khác nhau. Những công việc đó, tuy có sự khác nhau về cách thức tiến hành
và thời gian thực hiện nhƣng tất cả đều phục vụ cho hoạt động thành lập doanh
nghiệp. Hơn thế nữa, để việc thành lập doanh nghiệp đƣợc thực hiện theo đúng
đời tiếp tục có những bƣớc phát triển mạnh mẽ trong việc củng cố và mở rộng
17
quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp của các nhà đầu tƣ, không phân
biệt đó là nhà đầu tƣ trong nƣớc hay nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Luật doanh nghiệp
2005 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành đã đơn giản hóa trình tự, thủ tục
ĐKKD, hạn chế tối đa các rào cản gia nhập thị trƣờng không cần thiết, tạo thuận
lợi cho những ngƣời có khả năng thành lập doanh nghiệp biến nguyện vọng kinh
doanh của mình thành hiện thực. Không chỉ thế, trong giai đoạn này, cùng với sự
tiến bộ vƣợt bậc của tƣ duy và kỹ thuật lập pháp, các nội dung trong chế định
thành lập doanh nghiệp đã đƣợc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện tƣơng đối đầy
đủ, nhiều vấn đề mới xuất hiện trong quá trình hội nhập kinh tế nhƣ đăng ký
thành lập doanh nghiệp qua mạng, đăng ký thuế,.v.v.cũng đƣợc quy định đầy đủ,
kịp thời, góp phần tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động thành lập
doanh nghiệp đƣợc tiến hành.
1.1.2.2. Nội dung của quy chế thành lập doanh nghiệp
Nhƣ trên đã khẳng định, quy chế thành lập doanh nghiệp bao gồm một tập
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt
động thành lập doanh nghiệp. Căn cứ vào hệ thống pháp luật doanh nghiệp hiện
hành và nội dung của các quy phạm pháp luật, có thể rút ra một số nội dung cơ
bản của quy chế thành lập doanh nghiệp nhƣ sau:
Thứ nhất, các quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của CQĐKKD:
Cơ quan ĐKKD là tổ chức có vai trò quan trọng, quyết định tới việc thành
lập doanh nghiệp của các nhà đầu tƣ. Thông qua hoạt động kiểm tra, xác minh
tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, CQĐKKD sẽ quyết định cấp hoặc
không cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, CQĐKKD còn có vai trò thông tin, hỗ trợ những nhà đầu tƣ thực hiện thủ tục
Để thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ phải thực hiện thủ tục đăng ký
thành lập doanh nghiệp tại CQĐKKD. Với mục đích tạo điều kiện cho thủ tục
thành lập doanh nghiệp đƣợc thực hiện thống nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí
cho các nhà đầu tƣ; đồng thời hạn chế tình trạng lạm quyền, lợi dụng sự không
rõ ràng của pháp luật để “nhũng nhiễu, hành” doanh nghiệp của các CQĐKKD,
19
Nhà nƣớc đã quy định rõ ràng, chặt chẽ thủ tục thành lập doanh nghiệp. Theo đó,
nội dung về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp bao gồm các quy
phạm pháp luật về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh
nghiệp, phối hợp tạo và cấp mã số doanh nghiệp, thời hạn cấp giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hiệu đính
thông tin trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cung cấp thông tin về
nội dung đăng ký doanh nghiệp và một số nội dung khác có liên quan. Không chỉ
thế, pháp luật còn quy định cụ thể trách nhiệm của các bên trong quá trình thực
hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Có thể nói, nội dung về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp là
“xƣơng sống” của chế định thành lập doanh nghiệp, thực hiện đúng, đầy đủ các
bƣớc trong thủ tục thành lập doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ đƣợc cấp giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập về
mặt pháp lý; đồng thời, các cơ quan nhà nƣớc có thể kiểm soát thông tin về
doanh nghiệp, phục vụ QLNN đối với doanh nghiệp.
Thực chất, thủ tục thành lập doanh nghiệp là thủ tục hành chính đƣợc thực
hiện bởi một cơ quan hành chính nhà nƣớc - CQĐKKD. Sự hấp dẫn về môi
trƣờng kinh doanh của một đất nƣớc phụ thuộc rất nhiều vào sự đơn giản, thuận
tiện của thủ tục gia nhập thị trƣờng. Theo đó, quá trình hoàn thiện quy chế thành
lập doanh nghiệp luôn đặt vấn đề cải cách thủ tục hành chính (thủ tục thành lập
doanh nghiệp) lên hàng đầu, cùng với việc hoàn thiện các nội dung pháp lý khác.