BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ NGA
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA MA VĂN KHÁNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ NGA
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA MA VĂN KHÁNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN - 2015
4
2.1.1. Những đau khổ về vật chất.......................................................................45
2.1.2. Những tổn thương về tinh thần................................................................47
2.2. Vẻ đẹp của trẻ em............................................................................................50
2.2.1. Ngoan ngoãn, hồn nhiên, giàu mơ ước....................................................50
2.2.2. Giàu lòng yêu thương, gắn bó, chia sẻ.....................................................53
2.2.3. Giàu ý chí, nghị lực, có tinh thần phản kháng mạnh mẽ.........................57
2.3. Tiếng chuông cảnh tỉnh xã hội về trách nhiệm đối với thế hệ trẻ..................62
2.3.1. Sự đồng cảm thấu hiểu của nhà văn.........................................................62
2.3.2. Tiếng nói báo động cho gia đình và xã hội..............................................66
Tiểu kết chương 2...................................................................................................76
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA MA VĂN KHÁNG..................................................78
3.1. Điểm nhìn trần thuật........................................................................................78
3.1.1. Khái niệm điểm nhìn trần thuật................................................................78
3.1.2. Trần thuật theo điểm nhìn trẻ thơ.............................................................79
3.2. Nghệ thuật xây dựng tình huống.....................................................................81
3.2.1. Tình huống bất ngờ, gay cấn....................................................................82
3.2.2. Tình huống bi kịch giữa đời thường.......................................................84
3.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu........................................................................85
3.3.1. Giọng trữ tình, thiết tha, sâu lắng.............................................................86
3.3.2. Giọng triết lí, suy tư.................................................................................89
3.3.3. Giọng châm biếm, mỉa mai, hài hước......................................................92
3.4. Ngôn ngữ nghệ thuật.......................................................................................95
3.4.1. Ngôn ngữ đậm chất thơ, giàu tính biểu cảm...........................................96
3.4.2. Ngôn ngữ giàu kịch tính.........................................................................100
3.4.3. Ngôn ngữ chân thật, gần gũi với đời sống hàng ngày...........................103
Tiểu kết chương 3.................................................................................................108
nghiên cứu, phê bình văn học. Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải
thưởng Hội Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn có nhiều tiểu thuyết gây
được tiếng vang. Vì thế, đề tài của chúng tôi muốn góp phần khẳng định vị trí
của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
1.3. Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho
người lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ
7
em. Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông
còn quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến
động. Ma Văn Kháng tâm sự rằng: “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ
là viết cái gì ? mà là viết như thế nào? Mà viết như thế nào lại quan hệ đến
tâm hồn người viết. Tôi ao ước ngoài cái duyên với chữ nghĩa và con trẻ ra,
tâm hồn mình lúc nào cũng tươi mát, trong sáng và dào dạt tình yêu với cuộc
đời với con người”. Với một tâm sự như thế ông đã có những tác phẩm đặc
sắc viết cho thiếu nhi. Trong thể loại tiểu thuyết có thể kể đến: Côi cút giữa
cảnh đời, Chó Bi, đời lưu lạc, Chuyện của Lý... Khi viết về trẻ em ông luôn
dành cho nhân vật của mình sự quan tâm sâu sắc, sự chia sẻ và tình cảm yêu
thương trân trọng nhất. Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình
nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tuy nhiên việc đi sâu khảo sát một
cách toàn diện, hệ thống về các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn
Kháng thì vẫn còn những khoảng trống.Với những lý do trên chúng tôi chọn
vấn đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về Ma Văn Kháng nói chung
Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể
vào công cuộc đổi mới văn xuôi giai đoạn sau 1975. Con người và những
mầm sống, khả năng cách mạng” [57, 8]. Ông cũng đã đưa ra nhận định xác
đáng về tiểu thuyết Mưa mùa hạ: Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ
mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây dựng được cách nhìn, thái độ
đúng đắn trước những cái xấu, trước những bước cản đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn xuất hiện. Trong cuộc
hội thảo về tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do Câu lạc bộ Báo Người Hà
Nội và Nhà xuất bản Phụ nữ phối hợp tổ chức, các nhà văn, nhà lí luận phê
bình đã có nhiều ý kiến đánh giá cao giá trị tư tưởng của tác phẩm. Nhà
9
nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: Mùa lá rụng trong vườn biểu hiện cho
xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu. Hoàng Kim Quý lại nhấn
mạnh: Tác giả Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộc sống của những
gia đình với mỗi người. Nói về cái nhìn của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết
Đám cưới không có giấy giá thú, trong bài viết: “Đọc Đám cưới không có giấy
giá thú” của Lê Ngọc Y, tác giả đã nhận thấy bằng cách nhìn tinh tế vào hiện
thực đời sống tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá
nhiều khó khăn. Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu
thuyết làm cho nó trở nên sống động. Từ đó, tác giả nhấn mạnh Ma Văn Kháng
“đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói xấu, cái bất bình thường
vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u
ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ” [11]. Cùng với ý kiến đó, có
tác giả thì cho rằng: Có lẽ, Ma Văn Kháng muốn bộc lộ một cái nhìn tiến bộ và
khá mới mẻ, một nhận định khá chính xác về hiện thực đời sống đương thời cái xấu, cái ác vẫn tồn tại, hoành hành và sinh sôi trong đời sống, còn cái
thiện, cái tốt mặc dù có nhưng có lẽ chưa đủ mạnh để có thể chiến thắng.
Tác giả Trần Cương đã nhận định: “Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ
và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình” [3, 6].
con đường nghệ thuật của ông” [43, 55].
2.2. Lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn
Kháng
Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công
của Ma Văn Kháng. Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm
yêu thương, trân trọng nhất.
Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm
đắc nhất, đã có không ít ý kiến bàn bạc. Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện
Văn và Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho rằng: "Cuốn sách
11
của Ma Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn
sách khác. Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm
nhân hậu tốt lành. Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa. Cái hiệu quả
thanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật
đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi"… [19, 23].
Trong bài viết “Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời”, Phong Lê
cũng nhận thấy: “Cuốn sách chất đầy những đau khổ, oan khiên lên thân phận
ba bà cháu còm cõi, bơ vơ... Cuốn sách mạnh mẽ đẩy ta vào giữa dòng sống
hôm nay với cảm hứng lớn là cảm hứng sự thật với sự bất bình và khát vọng
dân chủ, cũng đồng thời cho ta sự gắn nối với văn mạch truyền thống là chủ
nghĩa nhân văn và tình yêu thương con người” [19, 56].
Trong bài viết “Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời của
Ma Văn Kháng”, tác giả Vũ Thị Oanh cho rằng: "Côi cút giữa cảnh đời cuốn sách viết theo đề nghị cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không
hợp đồng, được xuất bản bởi sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà
xuất bản Văn học là một cuốn sách tiêu biểu… viết cho lứa tuổi sắp vào đời
nhưng tác giả không hề né tránh cái xấu, cái ác; những yếu tố tồn tại khách
quan làm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện ở
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
4.1. Đưa ra cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng
và tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của ông, xác định vị trí, ý nghĩa của những
tác phẩm này trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
4.2. Khảo sát, phân tích những vấn đề được quan tâm trong tiểu thuyết
viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng đặc biệt là vấn đề “ quyền trẻ em.”
4.3. Phân tích, chỉ ra được những nét đặc sắc trong hình thức nghệ thuật
của tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng.
5. Phương pháp nghiên cứu
13
Để hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi sử dụng các phương pháp khác nhau:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6. Đóng góp của luận văn
Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cái
nhìn khái quát, hệ thống hơn về đặc điểm tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của
Ma Văn Kháng, từ đó khẳng định những đóng góp của ông cho văn học dân
tộc về mảng đề tài này.
Ở một mức độ nào đó, kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc dạy - học về tác giả Ma Văn Kháng trong nhà trường.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Nhìn chung về sự nghiệp sáng tác và mảng tiểu thuyết viết
cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
bắt tay vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Đây là một
trong những giai đoạn lịch sử gay go, căng thẳng đồng thời cũng ghi dấu
những trang hào hùng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Vận mệnh của
đất nước đứng trước nguy cơ một mất một còn. Đây là một cuộc kháng chiến
mà các nhà văn vừa tham gia chống kẻ thù cướp nước, vừa chống lại một
15
cuộc xâm lăng văn hóa của đế quốc Mỹ trên đất nước ta. Nhanh nhạy và kịp
thời, các nhà văn đã nhập cuộc, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại
của Tổ quốc. Các thế hệ nhà văn cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh
Mỹ. Hàng trăm nhà văn trẻ trực tiếp cầm súng ra chiến trường và sáng tác như
Nguyễn Thi, Thu Bồn, Lê Anh Xuân…
Từ sau 30/4/1975, đất nước thống nhất trong niềm vui khôn xiết của
đôi bờ Nam Bắc, trong hạnh phúc của giấc mơ giải phóng miền Nam nay đã
thành hiện thực. Giấc mơ ấy vẫn hằn in trong từng giấc ngủ của người dân
nước Việt. Để rồi ngày cả dân tộc bắt tay vào xây dựng lại đất nước tràn đầy
tự hào. Tuy nhiên, thách thức đến với nước ta còn nhiều. Trải qua 10 năm
thực hiện hai kế hoạch 5 năm (1976 - 1980 và 1981 - 1985), Việt Nam đạt
được những kết quả nhất định trên cả hai phương diện xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, song cũng gặp nhiều khó khăn do mắc sai lầm nghiêm trọng trong chủ
trương, chính sách chỉ đạo chiến lược phát triển đất nước. Đất nước lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. Nhưng sức sống bền bỉ
của một dân tộc lại một lần nữa đưa ta thoát khỏi khó khăn. Để khắc phục sai
lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, Đảng và Nhà nước đã
tiến hành công cuộc đổi mới. Công cuộc ấy là bước ngoặt lịch sử vĩ đại, làm
thay da đổi thịt cả đất nước. Đó không chỉ là đổi mới trên lĩnh vực đời sống
kinh tế, xã hội mà còn là đổi mới trên góc độ tư tưởng, trong đó có tư duy về
văn nghệ. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cũng tuyên bố “cởi trói”, “đổi mới
phóng dao. Ma Văn Kháng vẫn dồi dào bút lực với Ngược dòng nước lũ. Có
những nhà văn chuyển từ viết truyện ngắn sang tiểu thuyết như Nguyễn Khải,
Lê Lựu... Cũng có những nhà văn tên tuổi viết tiểu thuyết đã khẳng định tài
năng ở các giai đoạn trước như Tô Hoài nay càng sắc sảo, tinh tế trong đời
thường. Bên cạnh đó nhiều cây bút mới nổi lên như Dương Hướng, Chu Lai,
Bảo Ninh... và nhất là xuất hiện nhiều cây bút nữ có tư duy tiểu thuyết sắc bén
như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo... Đồng hành là một dàn những cây bút của
thế hệ kế tiếp sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân như: Nguyễn Bình
17
Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh... Đội ngũ các tác giả tiểu thuyết cho thấy
tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của văn xuôi đương
đại. Những người cầm bút đã chứng minh được sự sáng tạo cùng với nỗ lực
đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút của chính họ. Nhiều nhà văn chuyên tâm viết
tiểu thuyết và có nhiều thành tựu lớn như Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khải và
đặc biệt là Ma Văn Kháng với hơn 17 tiểu thuyết, trong đó nổi lên những tiểu
thuyết như Mùa lá rụng trong vườn (1985); Đám cưới không giấy giá thú
(1989); Ngược dòng nước lũ (1999); Một mình một ngựa (2009)... Tiểu thuyết
Ma Văn Kháng giai đoạn này mang đậm phong cách triết luận - trữ tình, đánh
dấu một Ma Văn Kháng có nhiều đổi mới trong tư duy, cách viết, từng trải và
sâu sắc hơn. Không khí dân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp các nhà văn
ý thức sâu sắc tư cách nghệ sĩ của mình, vượt lên trên những quy định, khuôn
khổ đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâu nay.
1.1.2.2. Sự vận động về nội dung, nghệ thuật
Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới, tiểu thuyết đã trải qua
“những bước thăng trầm”. Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học
cách mạng (1945 - 1975), tiểu thuyết đã vượt qua những thử thách khắc
nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh để khẳng định sự tồn tại. Tuy những thành
Hòn. Bị kẻ thù treo lơ lửng trên cây dừa, đứa con nhỏ cùng em gái và đồng
đội bị vây hãm trong hang đá, chị Sứ tự nhủ: Bữa nay, có lẽ mình chết.
Nhưng mình chỉ thấy tiếc chớ không ân hận mắc cỡ gì cả... Tới phút này đối
với Đảng, mình vẫn y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu... nên từ
phút này trở đi, mình cũng phải giữ được như vậy... Hay bi kịch cá nhân qua
mối tình trái ngang Xiêm - Lượng và cuộc hôn nhân bất hạnh Xiêm - Kiếm
trong tác phẩm Dấu chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để
lại trong lòng người những nỗi căm hờn về tội ác của bọn giặc. Giọng điệu trữ
tình rưng rưng, hào sảng không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ, mà còn là
giọng điệu chủ đạo của tiểu thuyết, khiến cho các tác phẩm văn xuôi thời ấy
19
đầy ắp chất thơ và câu văn xuôi của hầu hết các nhà văn luôn luôn ngân vang
âm hưởng trữ tình. Nhưng cũng chính vì thế mà tiểu thuyết không thể trở
thành thể loại cái của hệ thống văn học 1945 - 1975. Truyện và thơ trữ tình
vẫn là hai thể loại cơ bản, giữ vai trò thống soái tạo nên sự kết tinh nghệ thuật
và diện mạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.
Sau 1975, trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại, tiểu thuyết đã sớm
bắt nhịp trong xu hướng đổi mới văn học giai đoạn này. Sự phát triển mạnh
mẽ của tiểu thuyết không chỉ ở số lượng lớn tác phẩm và đội ngũ nhà văn
tham gia sáng tác đông đủ, phong phú mà chủ yếu còn vì chất lượng của
những tác phẩm này đạt giá trị cao. Trong khoảng mười năm đầu (1975 1985), khuynh hướng sử thi vẫn còn dư âm đặc biệt là trong tiểu thuyết viết
về chiến tranh. Sau chiến tranh kết thúc, người ta có điều kiện để tái hiện cuộc
chiến đấu trên cái nhìn bao quát theo suốt chiều dài lịch sử như đưa ra ánh
sáng những cuộc chiến đấu thầm lặng trong lòng địch (Ông cố vấn của Hữu
Mai) hay một con đường mòn Hồ Chí Minh bí mật trên biển (Đường mòn
trên biển của Hồ Phương)... Khuynh hướng sử thi tuy có mờ nhạt dần nhưng
đã góp phần vào bức tranh văn xuôi trong khoảng thời gian 10 năm đầu với
động ghê gớm của nó đến tình cảm và số phận con người với bao nỗi éo le, bi
kịch, xót xa, nỗi buồn dai dẳng (Thân phận tình yêu của Bảo Ninh). Một số
tác phẩm nổi bật với cảm hứng phê phán và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Những
tác phẩm viết về nông thôn cho thấy sự chi phối của những tập tục, những tâm
lý cố hữu ở làng xã đến các mối quan hệ gia đình, dòng họ. Những cuộc tranh
giành quyền lực giữa họ tộc, những mối thù truyền kiếp... tất cả đè nặng lên
cuộc sống, số phận bao nhiêu người (Bến không chồng; Mảnh đất lắm người
nhiều ma...). Các tác giả còn đi sâu vào khám phá đời sống muôn màu trong
cái hàng ngày với các quan hệ thế sự phức tạp; với đời sống cá nhân của mỗi
con người ở những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách (Mùa lá rụng trong
vườn của Ma Văn Kháng). Như vậy tiểu thuyết Việt Nam đương đại phát
21
triển khá phong phú và đa dạng, từ “phản ánh hiện thực” đến “nghiền ngẫm
về hiện thực” với vai trò chủ thể của nhà văn tăng lên. Nhà văn thoát ra khỏi
ràng buộc của chủ nghĩa đề tài. Chính vì thế, giai đoạn này thể loại văn xuôi
nói chung và tiểu thuyết nói riêng có sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng.
Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực
của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những
thế lực, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời.
Điểm qua một số nét về khuynh hướng vận động cũng như những hiện
tượng khá nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại ta thấy bức tranh chung
của văn học thời kỳ này có sự phát triển mau lẹ, nhiều bước đổi mới quan
trọng, trong đó tiểu thuyết có sự phát triển phong phú và đa dạng. Hiện nay,
trong sự vận động chung của văn học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn
vẫn đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại,
của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại.
1.2. Ma Văn Kháng - nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam
được cử về học Đại học Sư phạm Hà Nội, tốt nghiệp năm 1964 ông lại xin về
Lào Cai để dạy cấp III. Sau đó ông chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí
thư Tỉnh ủy rồi làm Phó Tổng biên tập báo Lao Cai, Tổng biên tập, Phó Giám
đốc Nhà xuất bản Lao động, Ủy viên Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí
Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam.. Sau này, ngẫm lại, ông thấy
việc bị điều lên làm thư ký cho ông bí thư tỉnh ủy tưởng là điều không may
nhưng lại rất may. Vì ở vị trí đó, ông được gắn bó với những gì thuộc về vận
mệnh con người, vận mệnh của đất nước. Ông nhận ra rằng ngẫu sự rất quan
trọng, cứ để cho cuộc sống chủ động đến với đời mình, nhiều khi sự rủi ro đối
với người làm nghệ thuật lại là điều may mắn.
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông chuyển về công tác tại Hà
Nội, từng làm tổng biên tập, phó giám đốc nhà xuất bản Lao động. Từ tháng
3/1995 là Ủy viên Ban Chấp hành, Ủy viên Đảng đoàn, Hội Nhà văn khóa V -
23
Tổng Biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài. Sự chuyển đổi công tác ấy cũng
làm ông đã phải đánh đổi nhiều thứ. Đó là những ngày ăn nhờ ở đậu tại nhà
tập thể Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với không gian chật hẹp. Bốn năm
sau, hai vợ chồng ông vất vả lắm mới lo toan để xin được cấp căn hộ chung
cư ở Thành Công rộng khoảng 28 m2. Đến khi chuyển về nhà mới, ông vẫn
chưa tin mình có nhà, chưa có cảm giác là nhà của mình, nằm ngủ vẫn chỉ mê
thấy chuyện nhà cửa. Khi “an cư” cũng là thời gian nhà văn Ma Văn Kháng
viết được nhiều nhất và thăng hoa nhất. Nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ
này đã trở thành những dấu ấn không thể mờ phai trong nền văn xuôi hiện
đại. Ông chia sẻ: “Về Hà Nội rồi, tôi mới nhận ra rằng, hóa ra mình đã ở miền
núi đến một phần tư thế kỷ. Tỉnh lẻ rất tình cảm, rất gắn bó, như một phần cơ
thể mình vậy, nhưng nếu để làm văn chương chuyên nghiệp thì hóa ra mình
cần nhiều điều hơn thế. Mảnh đất Lào Cai mang lại cho tôi vốn sống về dân
thể gặp phải nhưng Ma Văn Kháng không những chăm chỉ viết, ông còn rất
chịu khó đọc tác phẩm của các đồng nghiệp, mà trong đó đa phần là các
đồng nghiệp lớp sau, những người vốn là học trò của ông, thậm chí, ông còn
đọc cả tác phẩm của những cây bút trẻ một cách chân thành, không màu mè.
“Đọc nhà văn trẻ để thấm thấu cái tươi mát phi truyền thống, phi cổ điển”,
ông tâm sự. Ngoài việc tham dự vào đời sống văn học, thi thoảng, các đồng
nghiệp vẫn thấy ông… đi thực tế, dự các buổi gặp gỡ của các ngành. Quan
niệm của ông là đừng bao giờ cho rằng mình đã trưởng thành, không hiểu
các nghề khác thế nào, riêng nghề văn mà tôi theo đuổi thì đó là một nghề
cần học hỏi suốt đời. Học nghề mải mê, không biết mệt, nếu anh còn muốn
tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc và tràn đầy niềm vui này. Ông
tâm niệm: “Chẳng ai dự liệu được đời mình sẽ là thế nào cả. Cách mạng là
ngọn gió lớn thổi ta là hạt bụi đi đến các chân trời - một nhà thơ đã viết thế.
Khoa học nhân sinh cho biết 70% đời người do ngẫu nhiên quyết định.
Không ai chọn thời đại, hoàn cảnh để sinh ra và sống với nó cả. Vấn đề đặt
25
ra là biết sống cho đúng với tư cách một con người trong mỗi hoàn cảnh.
Đến tuổi này thì tôi hài lòng với những gì đã trải qua, đã làm được và bằng
lòng với cả những gì chưa làm được…” [11, 22].
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác
1.2.2.1. Ma Văn Kháng - nhà văn của gia tài sáng tác đồ sộ
Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ rằng, thực ra, văn chương đến với ông
cũng là một sự tình cờ. Ngày bé ông thích văn, đã viết tham gia các cuộc thi
của nhà trường nhưng không nghĩ mai này sẽ là nhà văn. Lớn hơn một chút,
trong thâm tâm ông bắt đầu tâm niệm mình sẽ phải viết.
Ma Văn Kháng là một trong số người có tốc độ viết nhiều nhất trong
số những nhà văn thế hệ ông. Dường như ít thấy ông ở những cuộc trà dư tửu