TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
----------
ĐIỆP CHÚC LINH
MSSV: 6116185
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT
VÒNG TRÒN BỘI BẠC CỦA NHÀ VĂN CHU
LAI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn:
BÙI THANH THẢO
Cần Thơ, năm 2014
Luận văn tốt nghiệp
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Chiến tranh là cơn sốt bất thường của lịch sử”, cơn sốt đó sẽ khiến cho con
người đau đớn và để lại những vết thương khó lành. Nhất là đối với những con
người đã từng trải qua những năm tháng gian nan ấy. Văn học viết về chiến tranh đã
phát triển mạnh mẽ để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng dân tộc. Nhưng khi cuộc
vấn đề cuộc sống và con người Việt Nam trong và sau chiến tranh. Trong sự nghiệp
sáng tác của mình, Chu Lai đã thử sức của mình với bằng nhiều thể loại như truyện
ngắn, ký sự, kịch bản sân khấu và kịch bản phim. Nhưng theo đánh giá của đa số
các nhà nghiên cứu thì tiểu thuyết mới chính là sở trường của ông và tên tuổi của
ông cũng được khẳng định với thể loại này qua những tác phẩm đã mang lại những
giải thưởng thật sự xứng đáng với ông. Ông đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về
văn học nghệ thuật năm 2006. Đó là một trong những thành tựu mà mang đến cho
ông có một vị trí nhất định trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Bằng vốn sống
phong phú, lòng nhiệt huyết, sự nhạy cảm, đam mê sáng tạo, đặc biệt là viết để neo
đậu tâm hồn, Chu Lai đã không ngừng cho ra nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc về
chiến tranh và con người cũng như xã hội sau chiến tranh. Không ngừng trăn trở
trong từng trang viết, chính con người gai gốc và sâu sắc đó đã mang đến cho người
đọc nhiều cung bậc cảm xúc cũng như sự trải nghiệm như chính họ đang thực sự
sống và hành động trong mỗi tác phẩm của ông. Và cũng như sự đánh giá về sở
trường tiểu thuyết của Chu Lai ở trên, ông đã cho ra đời nhiều các tác phẩm đặc sắc
và đã đánh dấu sự có mặt của mình trên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam cùng
với một số tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… từ đó ông
đã góp một gam màu mới làm đẹp thêm khu vườn văn học Việt Nam trong tiến
trình đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại.
Từ những tác phẩm viết về chiến tranh như Nắng đồng bằng (tiểu thuyết,
1977), Người im lặng (truyện ngắn, 1976), Sông xa (tiểu thuyết, 1982),… ông đã
chứng tỏ được năng lực viết của mình với đề tài về chiến tranh và những con người
gắn liền với cuộc chiến. Cũng đã từng là một người lính đặc công hoạt động vùng
sông Sài Gòn nên từng câu chuyện, từng cảm xúc đó cũng có thể nói là của chính
ông, sự trải nghiệm và cảm nhận thật nhất từ chính tác giả.
Với đề tài sau chiến tranh, ngòi bút của Chu Lai thể hiện mạnh mẽ hơn qua
các tiểu thuyết như Vòng tròn bội bạc (1990), Phố (1993), Ăn mày dĩ vãng (1992),
Ba lần và một lần (1999),… Những con người bước ra từ cuộc chiến tranh ác liệt
với biết bao là suy tư, trăn trở và nhiều bỡ ngỡ trong cuộc sống mới, họ là những
người lính gan gốc qua ngoại hình, bộc trực qua hành động, lời nói, nhưng trong
mới, hướng đi mới. Họ sẵn sàng đón nhận những làn gió mới từ quá trình thay đổi
đất nước, họ có cách nhìn và cách nghĩ hiện thực chiến tranh tiến bộ hơn. Trong
Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX Phong Lê có nhắc đến Chu
Lai trong thế hệ này “Tìm được cách đối thoại, cách tâm sự, cách hỏi đáp, cách giải
bày với những người đồng thời - đó là lối tránh những con đường cũ, và trẻ hơn, kể
từ Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Lê Minh
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp
Khuê, Bảo Ninh, Võ Thị Hảo…Đây là một sự tiếp tục, không phải như một nối dài
của lịch sử, mà là một chuyển đổi của lịch sử.”[13, tr. 227].
Trong quá trình tiếp thu sự thay đổi đa dạng của nề văn học thì tiểu thuyết đã
và đang là trung tâm của sự chú ý, không những thế nó còn góp phần không nhỏ
nhằm xây dựng nên tên tuổi của các cây bút trẻ có tài năng phát triển trong đó có
Chu Lai. Điều đó đã thể hiện trong bài viết của PTS. Bích Thu Những nổ lực sáng
tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới trong đó có đoạn “Sắc thái đặc biệt của
xã hội Việt Nam chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với tất cả những
biến động phong phú và phức tạp của nó đã tìm thấy ở tiểu thuyết một sự tương hợp.
Tiểu thuyết đã và đang thu hút sự sáng tạo của các thế hệ nhà văn, là loại hình thể
hiện nội lực và bóng dáng của nhiều cây bút văn xuôi. Từ các nhà văn xuất hiện
trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Hữu Mai, Hồ Phương, Xuân Thiều,
Ma Văn Kháng, Xuân Cang, Bùi Bình Thi, Vi Hồng, Hoàng Văn Bổn, Hồng Phi,
Triệu Huấn, Ngô Văn Phú, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Phan Hách,
Lê Văn Thảo, Trung Trung Đỉnh, Hoàng Minh Tường, Chu Lai, Lê Lựu, Khuất
Quang Thụy, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng đến những cây bút xuất hiện sau
năm 1975: Bảo Ninh, Triệu Xuân, Khôi Vũ, Tạ Duy Anh, Trầm Hương, Nguyễn
Bình Phương, Nguyễn Việt Hà…”[5, tr. 570].
năm văn học phát triển dưới tác động của chiến tranh, bắt đầu từ những năm 80,
trên đất nước thống nhất, đã xuất hiện những chuyển đổi trong phương thức chiếm
lĩnh hiện thực, trong các quan niệm mới về nghệ thuật có phần mới mẻ, khác lạ về
con người, trong ý thức mới đối với tư cách chủ thể của nhà văn, qua sáng tác của
một đội ngũ viết đông đảo gấp bội so với bất kỳ giai đoạn nào trước đây, trong đó
nổi lên thơ của Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Dư Thị Hoàn, Lê Thị
Mây, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Y Phương, Bùi Chí Vinh, Dương
Thuấn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Thị Ngọc Liên, Thảo
Phương,…; văn của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Đoàn Lê, Nguyễn
Quang Thân, Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn
Khắc Trường, Dương Hướng, Hòa Vang, Dạ Ngân, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Vàng
Anh,…”.[14, tr. 344]
Trong Hội thảo tháng 4, năm 1995, “50 năm văn học Việt Nam sau Cách
mạng tháng Tám” một số nhà phê bình cũng nhắc đến Chu Lai trong các bài viết
của mình như Đinh Xuân Dũng với bài viết “ Văn học Việt Nam về chiến tranh, hai
giai đoạn của sự phát triển”. Bài viết đã nhận định về sự đóng góp của các nhà văn
trong vấn đề phản ánh hiện thực sau chiến tranh có đoạn: “Tôi nghĩ rằng, những
nhà văn như: Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Hữu Mai, Chu Lai, Nguyễn Trí
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp
Huân,…là những người có đóng góp thực sự đặc sắc cho khuynh hướng trên” [6, tr.
160]. Cũng trong Hội thảo này Xuân Thiều với bài viết “Mấy suy nghĩ về mảng văn
học chiến tranh cách mạng” bài viết cũng có đoạn đề cập đến nhà văn Chu Lai và
những nhà văn xuất hiện trong thời kỳ chống Mĩ: “… và lớp nhà văn trẻ hơn, xuất
hiện trong thời chống Mĩ như Hữu Thịnh, Triệu Bôn, Lê Lựu, Trần Mạnh Hảo,
Phạm Tiến Duật, Văn Lê, Cao Tiến Lê, Chu Lai, Khuất Quang Huy, Nguyễn Trí
Huân, …từng cầm súng đánh giặc, từng hành quân, vượt Trường Sơn, từng nằm
sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn Chu Lai.[25].
Ngày 24/4/2007 trên tuoitre.vn cũng có bài phỏng vấn: “Nhà văn Chu Lai
chuyển sang… “Chơi” văn” xoay quanh vấn đề chuyển hướng viết văn của Chu Lai
có đoạn: “Tôi đang chuyển sang một cảm hứng sáng tác khác: “Chơi” văn chứ
không phải là viết văn. Hơn 30 năm cầm bút, viết văn quằn quại, đau khổ để khẳng
định mình. Đến giờ, chưa biết đã khẳng định được gì hay chưa, tôi chuyển sang
“chơi” văn. Đó là sự khởi đầu cho giai đoạn ba của cuộc đời: Giai đoạn thư
giãn.”[8].
Và ngày 19/5/2007 trên cand.com.vn Bình Nguyên Trang có bài “ Nhà văn
Chu Lai và những “đồng nghiệp” trong gia đình” bài viết nói về nhà viết kịch Học
Phi (bố nhà văn Chu Lai) và Hồng Phi (anh trai). Qua đó cho bạn đọc thấy rằng tố
chất văn chương của Chu Lai đã thấm nhuần từ rất sớm. Và dòng máu văn chương
đã thấm nhuẫn trong ông. [32].
Có rất nhiều bài phỏng vấn về nhà văn Chu Lai những người viết chỉ đưa ra
những bài phỏng vấn ngắn gọn nhằm làm rõ vấn đề về nhà văn Chu Lai với các
phương tiện truyền thông. Ngày 23/8/2009 trên hoanghuuquyet.vnweblogs.com có
bài phỏng vấn “Xin tạ lỗi những người đàn bà tôi đã trót làm tổn thương” cuộc trò
chuyện xoay cuộc đời của ông và những người phụ nữ xung quanh ông...[20].
Đến ngày 4/5/2011 có bài phỏng vấn: “Nhà văn Chu Lai: Cái gì đã qua thì
cho qua” nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
(30-4). Phỏng vấn nhà văn Chu Lai một tác giả có nhiều tác phẩm viết về chiến
tranh và người lính trong chiến trận và về vấn đề giải hòa dân tộc.[34].
Là một người đã từng đi qua cuộc chiến tranh ác liệt và cùng trải qua những
năm tháng của xã hội đổi mới nên Chu Lai không những chỉ góp nhặt từ cuộc sống
chất liệu tàn khốc mà ông còn may mắn gom cho mình không khí và tâm thế yên
bình của nền kinh tế cơ chế thị trường. Đứng trong hàng ngũ tiếp nối của các bậc
tiền nhân đi trước, ông viết về chiến tranh như những gì nó vốn có và mang tâm thế
của mình vào để làm tăng thêm sự chân thực của từng tác phẩm. Từ đó Chu Lai đã
xây dựng cho mình một vị trí nhất định trong lòng người đọc cũng như những nhà
Trang 7
Trong bài viết của Tôn Phương Lan “Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực
trong văn xuôi sau 1975” trong số các tác giả và tác phẩm được khảo sát về về việc
phản ánh hiện thực sau chiến tranh có nhắc đến Chu Lai và tiểu thuyết Vòng tròn
bội bạc: “Nước mắt đỏ, Chim én bay, Vòng tròn bội bạc, Người mẹ tội lỗi, Cỏ
lau,…là những sáng tác có xu hướng khái quát đi từ những số phận, những vấn đề
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp
cụ thể. Trường nhìn này tạo nên một thứ ngôn ngữ mới. Màu sắc trang viết có thể
ảm đạm hơn, số phận nhân vật có thể long đong, cơ cực hơn song tư tưởng của các
tác phẩm này như một thứ nước đã được chưng cất nên thanh sạch và vì thế nhân
bản hơn. Nhà văn đã không dửng dưng với nỗi đau của con người và nhân vật cũng
không dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại”. Cũng trong bài viết này nhà Tôn
Phương Lan cũng đã nhận định: “Hướng tiếp hiện thực theo hướng sự thật là một
hướng mới và thực tế đã đem lại cho nền văn học giai đoạn vừa qua những khởi sắc.
Nhiều cây bút, bằng bản lĩnh và tài năng của mình trên hướng đó đã gặt hái những
thành quả mới như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc
Trường, Nguyễn Trí Huân, Trần Huy Quang, Chu Lai.”[6, tr. 425- 426]. Từ điển
tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường xuất bản năm 2003 Mai
Hương cũng không quên dành những dòng nói về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc của
Chu Lai: “Từ cuốn tiểu thuyết đầu tay Nắng đồng bằng đến tiểu thuyết Sông xa và
nhiều tập truyện ngắn sau đó, Chu Lai tiếp tục khám phá những bí ẩn chiến tranh
và người lính. Tất cả đều được viết với cảm hứng ngợi ca và bút pháp dung dị, chân
thật. Tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc đánh giấu một giai đoạn mới bút pháp của Chu
Lai từ cách tiếp cận, lí giải hiện thực đến nghệ thuật biểu hiện của tiểu thuyết.”[16,
tr. 54-55].
Một con người có lối nói trò chuyện dí dỏm và ngoại hình lãng tử như Chu Lai
Thứ hai, đi sâu phân tích và cảm nhận nội dung, ý nghĩa và đặc điểm nghệ
thuật của tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và từ đó hiểu được nhiều khía cạnh của xã
hội Việt Nam trong quá trình đổi mới, qua đó cảm nhận sâu sắc về những suy tư
trăn trở và số phận của người lính bước ra từ sau chiến tranh.
4. Phạm vi nghiên cứu
Sau hơn ba mươi năm sáng tác, nhà văn Chu Lai đã cho ra đời rất nhiều
những tác phẩm hay, mang đậm dấu ấn phong cách của mình. Mỗi sáng tác ông đều
gởi những “giọt cảm xúc” khác nhau, mỗi loại một ít để làm phong phú thêm “cơn
mưa cảm xúc” của chính mình. Và Vòng tròn bội bạc cũng là một trong những giọt
nước tinh túy nhất hòa trong cơn mưa đó làm cho nó tươi mát và đầy sức sống hơn.
Với đề tài “Đặc điểm tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc của Chu Lai” người viết
sẽ thực hiện việc khảo sát và tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời nhà văn Chu Lai; những
đặc điểm chủ yếu của thể loại tiểu thuyết; nhất là tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm Vòng tròn bội bạc cũng một số tài liệu có liên quan và các thông tin
trên các trang mạng, các bài phê bình, đánh giá của các nhà lí luận văn học về chủ
đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp
Với đề tài là: “Đặc điểm của tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc của nhà văn Chu
Lai” thì đầu tiên người viết sẽ đọc tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc và một số tiểu
thuyết có những vấn đề liên quan cũng như những tài liệu liên quan đến vấn đề này
sau đó sé sử dụng một số phương pháp để làm sáng tỏ đề tài:
Phương pháp tiểu sử: người viết sử dụng phương pháp này để tìm hiểu về cuộc
một thể loại phát triển rất rộng rãi từ Đông sang Tây. Có rất nhiều những bài nghiên
cứu về vấn đề này vì tiểu thuyết có thể nhận thấy là một thể loại khá thu hút và hấp
dẫn đối với các nhà nghiên cứu “Tiểu thuyết và lối tiểu thuyết là hợp với tính tình tư
tưởng của phần nhiều người ta.”[30, tr. 30].
Theo giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu là chủ biên cũng có nói rất
nhiều về sự hình thành của thể loại tiểu thuyết. Ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện vào
thời kì xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy tàn. Con người bây giờ đã biết đặt
những nhu cầu cá nhân lên trên nhưng họ vẫn phát triển trong một cộng đồng, tiểu
thuyết của châu Âu thời kì này bắt nguồn từ những sử thi cổ đại, thần thoại như
Iliade và Odyssee, bài ca Rolland, Beswulf…vì lẽ đó mà các sách lịch sử văn học
châu Âu đều nói rằng “thế kỷ thứ XIX là thế - kỷ tiểu - thuyết” và với những sử thi
này chủ yếu con người muốn kể lại những câu chuyện hào hùng của những người
anh hùng dám phiêu lưu mạo hiểm, tuy chỉ có khuôn mẫu là những con người mạnh
mẽ thích phiêu lưu mạo hiểm nhưng đã phần nào nói lên mong muốn của con người
là tin tưởng vào những người anh hùng mạnh mẽ và dám chấp nhận nguy hiểm khó
khăn. Họ đặt một niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của thần linh và những con người
mạnh mẽ này. Thuật ngữ tiểu thuyết cũng có sự khác nhau trong cách gọi tên của
các quốc gia và vùng lãnh thổ. Ví dụ, ở Châu Âu người ta gọi tiểu thuyết là “novel”,
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp
trong khi người Pháp gọi là “roman” còn người Mỹ là “fiction”. Và giai đoạn phát
triển mới của tiểu thuyết châu Âu lại bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XIV XVI) và đến thế kỷ XIX đã xuất hiện những bậc thầy như: Xtăng-đan, Ban-dắc,
Gô-gôn, L.Tôn-xtôi, Đốt-xtôi-ép-xki… thì thể loại này đã đặt tới đỉnh cao trọn vẹn.
Cũng theo giáo trình này thì ở Trung Quốc tên gọi “tiểu thuyết” đã xuất hiện
từ rất sớm trong các thư tịch. “Trong thiên Ngoại vật ở sách Trang sử đã nói đến
tiểu thuyết như là những đạo lí vụn vặt trong sinh hoạt. Còn trong thiên Nghệ văn
chí của Ban Cố thời Đông Hán (đầu thế kỉ I) thì xem tiểu thuyết là những chuyện
ngoài hệ thống, tiểu thuyết không những trở thành một thể loại đóng vai trò khá
quan trọng trong nền văn học Việt Nam mà còn là một thể loại chủ đạo của nền văn
học hiện đại thế giới. Và vì nó lấy kinh nghiệm cá nhân và ý thức đa chân lí làm nền
tảng. Tiểu thuyết Việt Nam những mầm móng đầu tiên đã được gieo vào thế kỷ
XIV - XVI nhưng đó chỉ là những hạt giống còn non như: Lĩnh nam chích quái,
Thánh Tông di cảo, Tuyền kỳ mạn lục…. Và mãi đến thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện
của Nam triều công nghiệp diễn chí, của Hoàng Lê nhất thống chí, nước ta mới có
tác phẩm có quy mô tiểu thuyết (nhiều hồi, hàng trăm nhân vật, bao quát một
khoảng thời gian dài hàng trăm năm). Tuy nhiên xét về nhiều mặt, Nam triều công
nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí vẫn thuộc phạm trù tiểu thuyết cổ điển
phương Đông. Phải sang đầu thế kỷ XX, nhất là với dòng văn học lãng mạn và hiện
thực phê phán, ở Việt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại.”[7, tr. 329].
Từ lịch sử hình thành kéo dài qua nhiều thế kỷ và cũng có những cuộc phiêu
lưu, trải nghiệm qua nhiều nền văn học để khẳng định được chỗ đứng và những
thành tựu của mình thì tiểu thuyết đã đạt được những chặng đường mong muốn. Từ
cái nhìn lịch sử chúng ta có cái nhìn tổng thể hơn về khái niệm của thể loại này.
Đây là một vấn đề có khá nhiều luồn ý kiến quan tâm và đưa ra kết luận. Nhưng
nhìn chung thì những nhận định đó đều có những điểm chung nhằm góp phần xây
dựng lên khái niệm tiểu thuyết một cách hoàn chỉnh về mặt thể loại của mình.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn
Khắc Phi cũng đã đưa ra khái niệm về tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết (tiếng Pháp:
roman, tiếng Anh: novel, fiction). Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện
thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh
số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả
các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”. [7, tr. 328].
Người phương Tây thì định nghĩa tiểu thuyết là một truyện tưởng tượng hư
cấu. M. Bakhtin nói tiểu thuyết là thể loại chủ đạo của văn học hiện đại. Còn Jan
Wat trong sách Sự trỗi dậy của tiểu thuyết (1957) đã viết: “Tiểu thuyết (novel) trỗi
dậy từ thời hiện đại, mà do phương hướng lí tính tổng thể của thời hiện đại là
Trang 14
Nói tóm lại, khái niệm tiểu thuyết là một vấn đề khiến nhiều người quan tâm
và có nhiều luồn ý kiến, nhận định riêng. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn mang những nét
chung về tiểu thuyết. Nó là một thể loại tự sự cỡ lớn và nó có khả năng tái hiện bức
tranh hiện thực cuộc sống một cách toàn diện về con người, về cuộc sống xã hội,
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp
chính trị đạo đức…và nó làm cho con người hứng thú khi tiếp cận với nó. Đồng
thời nó góp vào cho nền văn học những thành tựu và những bước tiến mới nổi bật.
1.1.2. Đặc điểm của tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn - và có khả năng phản ánh hiện thực
rộng lớn. Với đặc trưng quan trọng này tiểu thuyết phần nào cho thấy được vị trí vai
trò của nó trong nền văn học hiện đại. Xét về mặt khái niệm đây là đặc trưng có thể
nói là rõ nhất, vì tiểu tuyết là thể loại tự sự cỡ lớn và nó có khả năng tái hiện hiện
thực cuộc sống một cách khái quát sâu rộng về xã hội, con người, đạo đức, phong
tục,…và cùng với nhiều thứ khác nữa. Tiểu thuyết thường là nhiều hồi, nhiều
chương với những nội dung liên tiếp không thể tách rời chúng ta phải theo dõi
xuyên suốt từ đầu đến cuối thì mới có thể nắm hết được nội dung dang diễn ra. Khi
phản ánh hiện thực với chiều sâu và rộng thì sẽ giúp cho người viết thể hiện được
khả năng viết của mình, đồng thời cũng giúp cho người viết đi sâu vào khám phá
những hiện thực cuộc sống bộn bề và thể hiện rõ được ý đồ nghệ thuật của mình
cho người đọc có thể hiểu được và cũng giúp cho người đọc phần nào hình dung ra
được những gì mà tác giả muốn hướng đến, đồng thời sẽ hình dung được bối cảnh
xã hội và con người thông qua những trang tiểu thuyết. Với đặc trưng này có thể
nhận thấy tiểu thuyết giống như một quyển “từ điển” hay đúng hơn là một quyển
“bách khoa toàn thư” về cuộc sống tóm tắt cuộc sống xã hội hiện thực, con người
của con người những đó lại xảy trong một đám tang. Bộ mặt xã hội và con người
được phô bày ra với những gì vốn có và đó cũng là ý đồ châm biếm của nhà văn.
Các tác phẩm muốn đi vào lòng người thì buộc nhà văn phải nhìn nhân vật của
mình một cách sâu sắc, thấu hiểu và quan tâm đên đời sống của nhân vât của mình.
Nét đặc điểm thứ ba mà người viết muốn nói đến đó là Tiểu thuyết nhìn con người
từ góc độ đời tư. Đời tư của nhân vật có ảnh hưởng khá sâu sắc đối với tác phẩm,
tác giả phải hiểu và quan tâm sâu sắc về cuộc đời, về xã hội và những tác động đến
nhân vật của mình thì tác phẩm mới thành công. Mỗi người sẽ có những môi trường
xã hội khác nhau, những cảm xúc, những bi kịch khác nhau, tính cách và số phận
cũng khác nhau. Tác giả cần quan sát và thấu hiểu thì mới có thể gởi gấm những
tâm tư, tình cảm của mình vào với nhân vật, có khi chính nhân vật cũng là hiện thân
của tác giả thể hiện chính con người tác giả. Và như thế thì người đọc sẽ dễ dàng
cảm nhận sâu sắc hơn những gì mà nhà văn muốn nói. Chính vì nhìn từ góc đời tư
của con người mà các tác giả sẽ có đủ cơ sở để khai thác những khía cạnh khác của
đời sống xã hội. Đời tư là những gì nằm trong con người nhân vật và cả trong
những cái được phô diễn ra bên ngoài. Nhờ vậy mà nhà văn dễ dàng nắm bắt và
phản ánh đời sống hiện thực một cách toàn vẹn và khách quan nhất. Con người sẽ
tác động vào xã hội và họ cũng chính là nạn cho những gì mà xã hội phủ xuống.
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp
Trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc là câu chuyện kể về
cuộc đấu tranh hào hùng giữ đất giữ làng của của dân làng Kông Hoa, một dân làng
người Ba Na ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhân vật chính là
anh hùng Núp với những câu chuyện có thật của mình. Và những con người Tây
Nguyên này đã viết nên lịch sử những trang chói lọi của mình trong cuộc kháng
chiến bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người nếm trải. Nhân vật trong tiểu
hệ nhân quả. Còn tiểu thuyết thì khác trong bản thân nó còn chứa đựng những yếu
tố ngoài cốt truyện, ngoài những logic thường thấy của một câu chuyện bình thường,
“thừa” nhưng nó lại góp phần làm cho tiểu thuyết nổi bật và khác lạ với mọi thể
loại văn học, tạo nên một nét riêng không thể pha trộn. “Nó chứa bao nhiêu là cái
“thừa” so với truyện vừa và truyện ngắn trung đại, mà nó là cái chính yếu của
nhân vật về thế giới, về đời người, sự phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, sự
trình bày tường tận các tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và
người, về đồ vật và môi trường, và nói chung về toàn bộ tồn tại của con người…”
[15, tr. 392]. Yếu tố thừa thường xoay quanh những gì liên quan đến cuộc sống
xung quanh nhân vật, những suy tư trăn trở về con người, nghề nghiệp, những biến
động tâm lí của nhân vật, những suy tư bên lề cuộc sống trong diễn biến tâm lí nhân
vật,… Tuy nói là yếu tố “thừa” nhưng nó lại cho người đọc thêm những hiểu biết
về nhân vật một cái khái quát và trọn vẹn hơn. Một trong những tác phẩm mang
những yếu tố “thừa” đó có thể nhắc đến đó là nhân vật Thứ một trí thức nghèo
trong Đời thừa, anh là một người có học thức có chí hướng nhưng lại sinh bất
phùng thời nên trở nên bất mãn chán nản cuộc sống, những suy tư của anh thường
là về: nghề nghiệp, đồng nghiệp, về ước mơ, về cái đói, về bản thân, về cái yếu đuối
của con người,…tác phẩm hầu như không có cốt truyện nhưng những yếu tố “thừa”
đó lại làm nên một Thứ rất chân thật và khái quát lên nỗi đau xót của tác giả đối với
những con người có chí hướng nhưng phải chôn chân ở một nơi không thể phát
triển và mỏi mòn với bi kịch của chính mình.
Tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật.
Bởi vì nó miêu tả lại hiện thực một cách khách quan như những gì đang diễn ra, ở
hiện tại đương thời của người trần thuật. Cũng dựa vào đặc điểm này mà tiểu thuyết
cho phép người trần thuật dễ dàng tiếp xúc với nhân vật của mình hơn, gần gũi hơn
và xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật. Và chính điều
đó là cho tiểu thuyết là một thể loại dân chủ, nó cho phép người trần thuật có thái độ
gần gũi với nhân vật của mình, và có thể dùng kinh nghiệm của bản thân phủ vào
nhân vật. “Ngôn ngữ trong tiểu thuyết là một hiện tượng đa ngữ” [2, tr. 82]. Người
viết có thể hấp thu mọi lời nói khác nhau của đời sống, san bằng những lời nói trong
tiểu thuyết các khả năng tổng hợp và vận động lại mạnh mẽ hơn. Theo M.Bakhtin
nhà nghiên cứu Xô viết thì tiểu thuyết là “thể loại duy nhất đang hình thành và
chưa xong xuôi”[7, tr. 331]. Tiểu thuyết có dung lượng lớn nên nó sẽ có khả năng
chứa những nghệ thuật của văn học, đọc những trang tiểu thuyết ta cảm nhận được
cái nhìn tinh tế và sâu lắng của tác giả qua từng lời văn như chúng ta đang lạc vào
vườn thơ mượt mà trữ tình sâu lắng như những tiểu thuyết diễm tình của Khái Hưng,
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp
hay cái làm nên những sự thu hút với người đọc ở những nút thắt mà tác giả tạo nên
từ những xung đột trong cốt truyện của tiểu thuyết như những xung đột kịch, những
mảng hiện thực đời sống nóng hổi của kí cũng được tiểu thuyết mang theo và biến
nó thành những mảng hiện thực chân thật nhất mang đến cho người đọc tiểu thuyết,
không những thế những công trình nghệ thuật hội họa, âm nhạc, điêu khắc….cũng
được tiểu thuyết pha vào làm cho nó trở thành một “nhà kho” chứa tất cả những
“món hàng” nghệ thuật đó. Chính vì những điều đó mà đã làm cho tiểu thuyết trở
thành thể loại có khả năng tổng hợp. Có thể nhắc đến những tên tuổi đã khẳng định
được bản chất này của tiểu thuyết như: L.Tôn-xtôi (Chiến tranh và hòa bình), tiểu
thuyết thế sự - trữ tình của Go-rơ-ki (Thời thơ ấu), tiểu thuyết sử thi của Sô-lô-khốp
(Sông đông êm đềm),…ngoài ra còn có tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết chính luận.
Từ những vấn đề trên cho thấy những đặc điểm nổi bật đó đã làm cho tiểu
thuyết xứng đáng có một vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại. Và từ những
bước tiến của thời đại thì tiểu thuyết phải luôn vận động và cách tân để giữ vững
được vị trí đứng của mình.
1.2. Vài nét về Chu Lai và tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc
1.2.1. Vài nét về tác giả
1.2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
ngắn, 1979), Sông xa (tiểu thuyết, 1982), Gió không thổi từ biển (tiểu thuyết, 1985),
Vòng tròn bội bạc (tiểu thuyết, 1990), Ăn mày dĩ vãng (tiểu thuyết, 1992), Phố (tiểu
thuyết, 1993), Bãi bờ hoang lạnh (tiểu thuyết, 1990), Ba lần và một lần (tiểu thuyết,
1999), Cuộc đời dài lắm (tiểu thuyết, 2001), Phố nhà binh (truyện ngắn, 1992),
Nhà lao cây dừa (ký sự, 1992), Vùng đất xa xăm (truyện, 1981), Út teng (truyện
thiếu nhi, 1983).
Ngoài ra ông còn các kịch bản sân khấu kịch bản phim: Hà Nội đêm trở gió,
Người Hà Nội, Người mẹ tự cháy, Ăn mày dĩ vãng.
Nhìn chung, về tiểu sử của Chu Lai chúng ta phần nào hiểu được lí do mà Chu
Lai lại có những trang viết hay về đề tài chiến tranh vấu chiến tranh. Một cậu bé
được tiếp xúc với văn chương từ thuở nhỏ qua những người cha chú đi trước, ông
có phần được ưu ái trong tâm hồn văn chương hơn. Là một cậu sinh viên đầy nhiệt
huyết không chịu đi theo con đường học tập nhàn hạ mà ông muốn góp công sức
của mình vào cuộc chiến đấu giành độc lập cho dân tộc, một anh sinh viên thư sinh
lại muốn trở thành một người lính đặc công trực tiếp giáp mặt quân thù. Điều đó
chứng tỏ rằng ông không chỉ có vốn học hỏi từ các bậc cha chú mà ông viết bằng
tâm hồn trải nghiệm cuộc sống của bản thân. Và không muốn hạn chế khả năng
sáng tạo của mình ông còn thử sức qua nhiều thể loại sáng tác làm phong phú thêm
tâm hồn mình.
Trang 22
Luận văn tốt nghiệp
Những cống hiến hết mình của ông cho nghệ thuật đã được công nhận xứng
đáng. Ông đã được nhận Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và
lực lượng vũ trang (Hội nhà văn) với tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993), Giải
thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1994, Giải thưởng tiểu thuyết NXB Hà Nội với tiểu
thuyết Phố 1993, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật 2006.
hoàng và chết chóc thì sẽ không ai đọc cả. Vì vậy, phải có nguyên lý sáng tạo như
sau: Viết về tài nào cũng được những nếu không có một nền tình yêu chắc chắn thì
cuốn sách ấy đổ. Dĩ nhiên tình yêu trong chiến tranh có đặc thù riêng. Trong chiến
tranh tình yêu mạnh hơn bình thường gấp nghìn lần, bởi đó là tình yêu một lần cho
mãi mãi, yêu để chết, thậm chí chưa yêu đã chết.”[26].
Với Chu Lai thì văn chương đã thấm nhuần trong ông từ thuở chín mười nên
dòng máu chảy trong ông có chất nghệ thuật và ông luôn tâm niệm nhà văn phải
tâm huyết phải có tâm hồn sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt phải có trách nhiệm với
ngòi bút của mình: “Cuộc đời trận mạc chỉ cho tôi cái cớ, tức là cảm xúc với vốn
sống chứ thực ra tôi nhập hồn văn chương từ thuở nhỏ, khi còn là một cậu bé lớp 5
đêm đêm ngồi nghe các cụ Thế Lữ, Đào Mộng Long,...đàm đạo về kịch, về văn với
cha tôi. Mà cũng không phải là khoái ngồi nghe, chỉ vì căn phòng có hai chục thước
vuông chứa cả gia đình 6 - 7 người, các cụ ngồi thì mình phải ngồi nghe theo vì có
chỗ mà ngủ. Tiếp đến là những buổi trốn học ra bờ sông thả tâm hồn vào hoang
mạc. Bé tí mà đã man mác buồn. Thế rồi lên đường ra trận. Cả một quãng đời ghê
gớm, đậm đặc nhất ùa vào. Không chết, còn sống, không biết làm gì thì viết.
Nghiệm ra cái nghiệp văn chương nó nhập vào mình có khi ngay từ trong bụng
mẹ.”[28]. Nhà văn phải tạo cho mình những điểm nhấn, một màu sắc không thể pha
lẫn: “Sở dĩ văn của tôi được nhiều người đọc là vì cái gì cũng được đẩy đến tận
cùng của mọi sự buồn vui. Tôi không thích chơi những gam màu nhợt nhạt. Vì sao ư?
Vì một tuổi thơ nhọc nhằn, đói khổ, một thời trai trẻ đi qua chiến tranh, cộng thêm
tính cực đoan nên văn khốc liệt thế thôi. Nhưng chính sự khốc liệt đó tạo ra một thứ
mùi rất Chu Lai đấy!” [26]. Trải qua những năm tháng đau thương nhất của chiến
tranh, là một người đã từng cầm súng, từng nếm trải những nỗi đau trận mạc, từng
đau đớn, từng sợ hãi, từng chôn cất chính đồng đội của mình làm cho văn ông thêm
mạnh mẽ và ông luôn nghĩ mình phải có trách nhiệm viết về chiến tranh về những
người đồng đội của mình, về những con người đã không tiếc máu xương, tuổi trẻ để
đấu tranh giành lại bình yên và hạnh phúc cho hôm nay. Với Chu Lai “tác phẩm là
sự cộng hưởng thăng hoa của tình yêu nghề, của lương tâm trách nhiệm với ngòi