đặc điểm nội dung tiểu thuyết đất rừng phương nam của nhà văn đoàn giỏi - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÊ THỊ BẢO TRÂN
MSSV: 6106438

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TIỂU THUYẾT
ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM CỦA NHÀ VĂN
ĐOÀN GIỎI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. TRẦN VĂN THỊNH

Cần Thơ, năm 2013


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội vùng Nam Bộ

NAM BỘ TRÊN VÙNG ĐẤT MỚI
3.1. Con người Nam Bộ dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự
nhiên.
3.2. Con người Nam Bộ hào hiệp, nghĩa khí trong quan hệ với cộng đồng.
3.3. Con người Nam Bộ anh hùng trong việc đấu tranh bảo vệ quê hương.
3.4. Ý nghĩa nhân văn về bản lĩnh và tính cách con người Nam Bộ trên vùng
đất mới.

C. PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, cho dù trong thế giới văn chương muôn màu muôn vẻ, nhưng trong
lòng bạn đọc yêu văn chương vẫn giữ lại nét chân dung về Đoàn Giỏi, đó là một nhà
văn Nam Bộ với tính cách đặc biệt Nam Bộ. Ông không giống ai, đi theo con đường
mà mình đã chọn là quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà chính xác là văn hoá Nam
Bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ nghĩa giản dị gần gũi với đời sống thực tế, làm
sống lại nhiều vấn đề về đất và con người nơi đây. Nhà văn Đoàn Giỏi không thể nào
lẫn lộn với bất kỳ ai trong các tác giả văn chương hiện đại, càng không dễ dàng xóa đi
sức ảnh hưởng của ông trong việc nghiên cứu, tìm hiểu miền Nam. Dù ông đã ra đi
nhưng những gì còn ở lại mãi là những áng văn chương để đời, làm tên tuổi Đoàn Giỏi
không thể phai nhạt trong dòng chảy của thời gian.
Vào cuối thế kỷ XX, Đoàn Giỏi được giới văn học cả nước biết đến như một tài
năng của văn chương Nam Bộ. Ông không những là một nhà văn tài hoa uyên bác mà
còn được đánh giá cao như một nhà Nam Bộ học, một nhà văn hóa. Khi nhắc đến
Đoàn Giỏi, người ta thường nghĩ ngay đến tiểu thuyết Đất rừng phương Nam. Tác
phẩm đã gầy dựng được uy tín và vị thế của nhà văn trong thi đàn văn học nước nhà.

cho văn hóa một vùng sông nước, cho nét đặc trưng bản chất, cho nét đẹp đơn sơ bình
dị của con người miền Nam sống mãi với thời gian. Đất rừng phương Nam còn là một
vẻ đẹp sắc hương tồn tại mãi mãi. Nó không chỉ là hương rừng dịu ngọt, say mê, tinh
khiết quyến rũ lòng người mà nó là hương của đạo nghĩa, của tình người, của tất cả
những gì cuộc sống lắng đọng như những mật ngọt mà rừng tràm, hương tràm
miền Nam đem lại. Điều này chỉ những ai từng đến và sống ở rừng mới có thể ngẫm
chất ngọt ngào mà Đoàn Giỏi cảm nhận, khai thác và ghi nhận. Chúng ta còn thấy
được ở trong tâm người cầm bút, khi đã kỳ công viết về một vùng đất còn là ẩn số, còn
nhiều điều chưa được khám phá.
Cuộc đời viết văn và chiến đấu của Đoàn Giỏi đã đưa bước chân của một người
nghệ sĩ, một người con nặng lòng vì Tổ Quốc rong ruổi khắp nơi, vào Nam ra Bắc,
trước hết để thực hiện nhiệm vụ cứu nước, sau đó là việc không ngừng sáng tạo nên
các tác phẩm văn chương đa dạng chất liệu hiện thực đời sống. Hầu hết trải dài trên
trang văn của Đoàn Giỏi là chất ký nhẹ nhàng về cuộc sống và con người Nam Bộ, nơi
mà tác giả đã quặn thắc tim mình thương nhớ mỗi lúc đi xa. Tất cả những gì mà tiểu
thuyết Đất rừng phương Nam đọng lại không chỉ là trang văn đẹp mà là kho tư liệu
quý cho con người và cuộc đời. Khi các thế hệ sau gợi nghĩ về Đoàn Giỏi thì hình ảnh
một vùng đất và con người phương Nam luôn tỏa ngợp trong tâm hồn người đọc. Vì
2


thế, chúng tôi muốn thông qua đề tài: “Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng
phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi” để tìm hiểu thêm về con người, sự nghiệp văn
học cũng như những đặc điểm về nội dung của tiểu thuyết Đất rừng phương Nam
trong sáng tác của ông theo hướng tiếp cận về nét riêng, đặc sắc để hiểu một cách cụ
thể hơn. Đó chính là lý do mà chúng tôi chọn để tiến hành nghiên cứu luận văn của
mình.

2. Lịch sử vấn đề
Như trên đã trình bày thì hầu như Đoàn Giỏi luôn trong tâm thức độc giả bao

con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mở cõi” [23]. Ngoài ra, Huỳnh Mẫn
Chi đã nghiên cứu Đoàn Giỏi trên phương diện chất liệu đề tài và đưa đến nhiều nhận
định sâu sắc và xác đáng. Văn chương của Đoàn Giỏi luôn mạnh mẽ, gai góc, cuồng
nhiệt như chính cá tính của ông. Điều đó đã làm nên một vùng đất hùng vĩ, bạt ngàn
trong Đất rừng phương Nam. Huỳnh Mẫn Chi nhìn về giá trị văn chương của Đoàn
Giỏi xuất phát từ cái nhìn về tính cách con người của nhà văn. Chính cá tính của Đoàn
Giỏi đã chi phối các trang viết: “Một Đoàn Giỏi phóng khoáng hào hiệp và luôn luôn
sâu nặng với miền đất phương Nam. Tác phẩm của Đoàn Giỏi thường đậm chất nghĩa
khí và hào hùng. Dù có sinh sống, công tác và hoạt động ở đâu, ông cũng luôn luôn
hướng về về vùng đất Nam Bộ” [23].
Đồng cảm với Huỳnh Mẫn Chi, nhà văn Văn Hồng trong Hiệp sĩ Đất rừng
phương Nam tiếp tục nêu ý kiến rằng: “Trong Đất rừng phương Nam, nhân vật có
nhiều tầng lớp, nhiều ngành nghề như một xã hội thu nhỏ, hoạt động suốt hai triền
sông (sông Tiền và sông Hậu Giang) vào rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau. Đất
rừng phương Nam có kết cấu chương hồi kiểu truyền thống, không gian, thời gian
rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen tách bạch và bộc lộ qua hành động, hình dáng,
ngôn ngữ. Một văn cách dễ đọc, dễ hiểu, hợp với đại chúng trẻ em. Mặc cho cả thế kỷ
nay, văn chương thế giới không ngừng tìm tòi những cách viết mới: trộn lẫn không
gian và thời gian, ý thức, tiềm thức và vô thức…, văn cách truyện kể với những biến
tấu khác nhau vẫn không hề mất sức sống. Biến tấu của Đoàn Giỏi mang tính hiện đại.
Đó là cách tiếp cận thời gian tâm lí, cách trộn lẫn các thi pháp sử thi, phản gián,
khám phá. Nếu theo truyền thống thì truyện phải kể từ Mỹ Tho, quê An hay ít ra cũng
phải từ ngày tản cư, chạy giặc. Nhưng tác giả đã mở đầu bằng lần lưu lạc thứ ba, sau
khi An lạc cha mẹ và đoàn thuyền quân lương. Một ngón chơi theo quy luật:
Khi ta ở, đất chỉ là đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn
(Chế Lan Viên)”
Tác giả Lê Hồng Thiện cũng góp một phần công sức khi viết về Đoàn Giỏi
bằng kỷ niệm chân thành khi bàn về hoàn cảnh ra đời của Đất rừng phương Nam. Tác
4

cả đời cho văn chương”.
Bằng tài năng cùng với nhiệt huyết sôi nổi của mình, Đoàn Giỏi đã làm cho
nhiều người nghiêng mình thán phục, khơi gợi nơi họ bao cảm xúc dạt dào khi nghĩ về
quê hương đất nước. Ma Văn Kháng trong bài viết Lời tưởng niệm – trên báo Văn
5


nghệ số ra ngày 3/4/1999 đã cho rằng: “Đọc Đất rừng phương Nam, tình yêu đất nước
của chúng ta, một lần nữa giàu có thêm, vì trong văn ông, tình yêu đất nước bắt nguồn
và liên hệ bền chặt với sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời của dân tộc”.
Theo một bài viết của Đoàn Minh Tuấn trên báo Văn nghệ trẻ ra ngày 4/4/1999,
về sự tồn tại lâu bền của con người và văn nghiệp của Đoàn Giỏi trong kí ức của các
bạn đọc văn chương thì ông có trích dẫn trực tiếp một nhận xét của I-Na-Zi-Mô-NhiNa (nhà văn Nga) dành cho Đoàn Giỏi như sau: “Trong các nhà văn đương đại của
Nam Bộ, Đoàn Giỏi là người có cá tính. Nhân vật của ông rất dữ dội và hào hiệp, điển
hình cho vùng châu thổ Cửu Long. Đọc Đất rừng phương Nam làm tôi thích miền
Nam”.
Còn trong tập tiểu luận – phê bình Tiếng vọng những mùa qua của Nguyễn Thị
Thanh Xuân lại nhận định một cách đầy trân trọng về người cha đẻ của Đất rừng
phương Nam: “Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang
viết đã biến miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm
tưởng bao người. Với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận được cái hạnh phúc
đó. Ông đã đem đến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất
mà trước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người. Ông đã xây dựng
những nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa…” [21; tr.113].
Trên đây là các ý kiến xoay quanh tác phẩm Đất rừng phương Nam, ngoài ra
còn có nhiều người tìm hiểu về Đoàn Giỏi trên mặt rộng của sự nghiệp sáng tác. Có
nghĩa là nghiên cứu nội dung sáng tác không chỉ bám vào tác phẩm Đất rừng phương
Nam mà còn nghiên cứu nhiều tác phẩm khác của ông. Cũng không vượt ra ngoài giới
hạn khẳng định giá trị văn chương của Đoàn Giỏi là viết nhiều, viết khỏe và viết hay
về vùng đất Nam Bộ nên Nguyễn Bá tìm thấy mùi vị của núi rừng, sông nước và hơi

yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước và các tình cảm thiêng liêng khác của
con người. Vì vậy, trên tinh thần tìm hiểu, nghiên cứu, tập hợp những ý kiến nêu trên,
chúng tôi xin được phép đi sâu vào khám phá một cách chi tiết, đầy đủ với tên đề tài:
“Đặc điểm nội dung tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi”.

3. Mục đích yêu cầu
Chúng ta phải thừa nhận rằng, những trang viết trong tiểu thuyết Đất rừng
phương Nam của Đoàn Giỏi luôn chan chứa hơi thở của rừng cây, của sông nước miền
Nam, luôn thắm đượm tình người, tình quê hiền lành, mộc mạc. Đầu tư cả tâm huyết
và khối óc để suốt đời tìm tòi, sáng tạo nên Đoàn Giỏi đã dành phần lớn thời gian để
viết về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Với mục đích có thêm nhiều người hiểu
thêm và yêu mến thêm văn chương của Đoàn Giỏi nên luận văn của chúng tôi sẽ đi
vào tìm hiểu tác phẩm xuất sắc nhất của ông với tư cách khẳng định Đoàn Giỏi là một
nhà văn Nam Bộ, một nhà văn đã rất nặng tình với quê cha đất mẹ. Đầu tiên, chúng tôi
7


sẽ tìm hiểu, tiếp cận bối cảnh lịch sử hình thành và phát triển văn hóa xã hội của vùng
Nam Bộ. Tiếp theo là nghiên cứu, phân tích, thống kê những nội dung liên quan đến
cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Đoàn Giỏi. Sau đó, để đi sâu vào nội dung, chúng
tôi tiến hành khảo sát tiểu thuyết Đất rừng phương Nam trên hai khía cạnh là thiên
nhiên và con người Nam Bộ thông qua cách miêu tả của tác giả, với mục đích làm nổi
bật đặc điểm nội dung của tiểu thuyết. Qua đó, phản ánh được giá trị của tác phẩm có
tính thời đại sâu sắc, thông qua các giá trị nhận thức, giá trị nhân đạo và giá trị hiện
thực trong tác phẩm.
Các giá trị trên được thể hiện, được cụ thể hoá qua hoạt động tiếp nhận tác
phẩm. Ở đây người đọc là lí do tiếp nhận sự tồn tại của tác phẩm, bởi mục đích của
Đoàn Giỏi xét đến cùng là kí thác, gửi gắm tâm sự, bộc lộ cảm xúc cá nhân và tinh
thần thời đại của mình vào tác phẩm. Tất cả đều hướng tới người đọc, hướng tới sự
giao tiếp, đối thoại qua tác phẩm. Người đọc tiếp nối và tham gia mục đích sáng tạo

tài nghiên cứu việc đầu tiên chúng tôi làm là sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề
tài. Tiếp theo là sử dụng lần lượt các phương pháp nghiên cứu sau để xử lí tài liệu và
tiến hành nghiên cứu.
Đó là phương pháp tổng hợp tư liệu để hệ thống hóa lại các tư liệu phục vụ cho
quá trình nghiên cứu cũng như tổng hợp lại các vấn đề, sắp xếp các tư liệu một cách
hợp lí. Các thao tác đọc tác phẩm, nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan làm cơ
sở nghiên cứu lập đề cương tổng quát, đề cương chi tiết, lập bản thảo được chúng tôi
thực hiện sau đó. Phương pháp lịch sử được chúng tôi sử dụng chủ yếu khi nghiên cứu
đề tài. Chúng tôi đặt tác phẩm vào thời đại mà nó ra đời để thấy rõ những giá trị, ý
nghĩa và ảnh hưởng của nó trong thời đại ấy.
Thao tác so sánh, đối chiếu và phân tích được vận dụng khá nhiều nhằm giải
quyết và làm sáng tỏ vấn đề. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng biện pháp miêu tả để có
thể hệ thống và triển khai những nhận xét dễ dàng hơn. Thao tác chứng minh, bình
luận cũng được chúng tôi sử dụng để lí giải và đưa ra những đánh giá của mình về đề
tài nghiên cứu. Và cuối cùng là các thao tác diễn dịch quy nạp để trình bày kết quả thu
được thông qua quá trình nghiên cứu.
Các phương pháp trên được vận dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển và phối
hợp chặt chẽ để hỗ trợ cho nhau, chứ không phải là sự tồn tại riêng lẻ, biệt lập. Điều
này giúp cho luận văn được hoàn thành một cách có hệ thống và có khoa học hơn.

9


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh lịch sử văn hóa – xã hội vùng Nam Bộ
Nam Bộ bao gồm hai vùng đất có các đặc điểm riêng là Đông Nam Bộ và Tây
Nam Bộ. Để có được danh xưng như ngày nay thì vùng đất Nam Bộ hoang vu ngày
xưa đã bao lần thay tên đổi họ. Vào thời nhà Tây Sơn, Nam Bộ có tên là xứ Gia Định

vùng đất mới. Việc phân vùng văn hoá được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn
hoá lịch sử và địa lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hoá. Ông viết: “Vùng văn hoá
là một vùng lãnh thổ, có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở
đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử có những tương đồng về trình độ phát
triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua các mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn
hoá qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành những sắc thái văn hoá chung, thể hiện
trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, có thể phân biệt với những vùng
văn hoá khác’’ [20; tr.64]. Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng và có
những đặc trưng riêng lẻ. ‘‘Vùng văn hoá Nam Bộ, xét trên cả phương diện địa lý và
lịch sử, đều là vùng thứ bảy và có ba tiểu vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và tiểu
vùng Sài Gòn - Gia định’’ [20; tr.17]. Điều kiện địa lý và lịch sử làm cho Nam Bộ có
những nét đáng lưu ý về mặt văn hoá. Đây là nơi cộng cư của nhiều tộc người như
Việt, Hoa, Khmer, Chăm… trong đó người Việt đóng vai trò chính. Ngay người Việt
cũng là những người dân “từ thuở mang gươm đi mở cõi” để chống chọi với thiên
nhiên khắc nghiệt trên vùng đất “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền tựa bánh canh”.
Nam Bộ là vùng đất hội nhập nhiều luồng văn hóa Đông - Tây khác nhau nên
cốt cách con người và nghệ thuật hấp thu được những sắc thái và linh khí của văn hóa
các dân tộc. Quá trình đó đã bồi đắp nên những giá trị nhân văn, hình thành những giá
trị văn hoá mang sắc thái riêng cho vùng đất này. Ngoài ra, chúng ta không thể không
nói tới ngôn ngữ - tiếng Nam Bộ. Đó là phương ngữ Nam Bộ được hình thành trong
quá trình người Việt đến khẩn hoang đồng bằng Nam Bộ. Nó thu hút vào ngôn ngữ
của những con người từ muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản
ánh thế giới tự nhiên, con người nơi vùng đất mới với bao màu sắc mới mẻ và đa dạng.
Nam Bộ là mảnh đất màu mỡ, trù phú phía Nam của Tổ quốc, hành trang tinh thần của
người Việt về phương Nam có cả truyền thống thượng võ và cả nét hào hoa của lịch sử
4000 năm văn hiến. Đây là vùng đất trẻ, văn hoá vùng đất này dù đã được hình thành
trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình rõ nét hơn. Những giá trị
này trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội có tính đặc thù của
11


những miệt vườn đầy ắp trái cây, những cánh đồng lúa tươi tốt và đặc biệt có lượng
thủy sản nhiều vô kể. Con người nơi đây đã gắn chặt cuộc đời mình với sông nước, nơi
nào có sông, rạch là có ghe, xuồng. Có chiếc ghe để làm ăn sinh sống là nhu cầu và
12


ước vọng của người dân. Nhiều gia đình đời này qua đời khác lập nghiệp bằng chiếc
ghe, xem nó như ngôi nhà của mình. Nhiều ghe xuồng tụ lại tạo nên khu dân cư nổi,
chợ nổi trên sông. Người xưa đã nói thiên - địa - nhân hợp nhất, nghĩa là trời, đất, con
người luôn có mối giao kết liên quan đến nhau, vùng đất, thời tiết nào con người ở đó
có phong cách, sắc thái riêng của vùng đó. Ngày nay, Nam Bộ đang vững bước đi lên
và mang trong mình niềm tự hào về một thời vàng son của cha ông trong cuộc khai
hoang mở đất và cuộc đấu tranh giữ gìn thành quả của tổ tiên trước mọi kẻ thù xâm
lược. Tóm lại, từ bối cảnh lịch sử xã hội - văn hoá, luận văn của chúng tôi có thêm cơ
sở để làm rõ diện mạo cũng như những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung của
tiểu thuyết Đất rừng phương Nam mà nhà văn Đoàn Giỏi đã dày công nghiên cứu và
xây dựng.

1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi
Dựa vào tư liệu khảo sát và nghiên cứu của Đỗ Thành Nam trong Đoàn Giỏi –
nhà văn của núi cả cây ngàn thì cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Đoàn Giỏi
có nhiều chuyển biến sâu sắc và trải qua nhiều biến động. Đoàn Giỏi tên thật là Đoàn
Văn Giỏi sinh ngày 17/5/1925 tại xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ông còn có các bút danh khác như Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư. Cụ thân
sinh ra ông là một điền chủ yêu nước, từng có hàng trăm héc ta ruộng màu mỡ ven
sông Tiền. Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, cụ đã hiến tất cả tài sản ấy cho
chính quyền mới, trong đó có chỗ hiện là trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành.
Thuở nhỏ, Đoàn Giỏi học ở trường trung học Mỹ Tho, sau theo học trường cao đẳng
mỹ thuật Gia Định. Tư chất nhà văn trong ông bộc lộ sớm. Ngay từ năm 1943, ông đã
chuyển từ cây cọ, bảng màu sang trang giấy, cây bút. Truyện ngắn đầu tay của Đoàn

tặng anh cho bớt lạnh khi xông pha trận mạc, là nội dung chính của vở kịch. Nguyễn
Bính - tác giả thủ vai chính, còn nhà văn Đoàn Giỏi thì giả gái, đóng vai người nữ cứu
thương. Dạo ấy tác giả của Đất rừng phương Nam đang ở tuổi đôi mươi, đẹp trai nên
khi giả gái trên sân khấu ai cũng nhầm là phụ nữ thiệt, chỉ đến lúc Đoàn Giỏi cất tiếng
ngâm bài Tống biệt thì thiên hạ mới vỡ ra”[24].
Năm 1951, Đoàn Giỏi về công tác tại Hội Văn nghệ Nam Bộ và là thành viên
của Hội đồng biên tập tạp chí Lá Lúa. Công việc mới đã khơi lại mạch nguồn sáng tác
nơi ông, khiến ông cầm bút trở lại. Năm 1954, Đoàn Giỏi tập kết ra Bắc. Những ngày
hòa bình lập lại, Đoàn Giỏi đã gây ấn tượng mạnh với độc giả đất Hà thành qua bài ký
Đèn tôi bay về lục Hồ Chí Minh với một phong cách mới lạ. Tiếp đó là sự ra đời của
hàng loạt tác phẩm thú vị về mảnh đất phương Nam nắng gió. Nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng, sau khi đọc một số truyện ngắn, bút ký của Đoàn Giỏi, đã phải thốt lên: “Thấy
có vảy, có cựa, có mã rồi đấy”[24].

14


Đến năm 1955, Đoàn Giỏi chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, ông công
tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban chấp
hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III. Đoàn Giỏi hút hồn người đọc bởi những
trang văn đặc sắc, ngồn ngộn chất liệu, hơi thở của một vùng sông nước hiện còn bị
chia cắt, không mấy người tiếp cận được. Ông lại là người con của vùng đất Nam Bộ
giàu có ấy nên khi viết về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, chúng ta bắt gặp trên trang
văn của ông luôn phập phồng cảm xúc và thực sự có sức nặng. Chẳng thế mà đọc
truyện ngắn Cây đước Năm Căn của Đoàn Giỏi, nhà thơ Xuân Diệu, người mặc dù
chưa đặt chân tới Năm Căn bao giờ đã xúc cảm viết nên bài thơ Bà má Năm Căn rất
cảm động. Đoàn Giỏi sáng tác rất nhiều thể loại từ truyện ngắn, truyện vừa, truyện ký
đến thơ, kịch thơ. Trong đó có các tác phẩm nổi tiếng như Cá bống mú (1956), Đất
rừng phương Nam (1957), Hoa hướng dương (1960), Ngọn tầm vông (1956), Trần
Văn Ơn (1955), Khí hùng đất nước (1948), Những dòng chữ máu Nam Kỳ (1975),

Quốc, Đức, Tây Ban Nha... và được độc giả các nước này nồng nhiệt đón nhận. Đoàn
Giỏi trở thành một trong những “đại sứ văn học” xuất sắc của Việt Nam ở nước ngoài
[24].
Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng
yêu đối với độc giả xa gần. Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông
nước, rừng cây, những câu chuyện kỳ bí của thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ và truyền
được hơi thở ấy cho độc giả. Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông
đối với miền đất Nam Bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể
chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của mình.

1.3.1. Hoàn cảnh sáng tác
Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi là tác phẩm được đông đảo độc
giả biết đến. Tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Và xung
quanh sự ra đời của tác phẩm cũng có nhiều điều thú vị. Theo nghiên cứu của Lê Hồng
Thiện thì năm 1957, khi đất nước ta bị chia cắt hai miền Nam Bắc, ban biên tập nhà
xuất bản Kim Đồng muốn có một tác phẩm giới thiệu về phong cảnh đất nước, con
người miền Nam tươi đẹp, trù phú, giúp bạn đọc thêm hiểu và yêu miền Nam. Biết nhà
văn Đoàn Giỏi hiểu rõ vùng đất này nên ban giám đốc nhà xuất bản Kim Đồng cử nhà
văn Trần Thanh Địch đến gặp nhà văn Đoàn Giỏi ở Hà Nội để “đặt hàng”. Nói đến quê
hương miền Nam, nhà văn Đoàn Giỏi vui vẻ nhận lời ngay và hứa sẽ hoàn thành tác
phẩm sau một tháng.
Đến hẹn lại lên, khi thấy nhà văn Trần Thanh Địch đến tìm, nhà văn Đoàn Giỏi
mới giật mình và nhớ ra ông chưa viết được chữ nào. Nhà văn đành xin lỗi và xin nhà
xuất bản cho thêm ít ngày. Tiễn bạn xong, nhà văn liền đóng cửa phòng và viết một
mạch. Đoàn Giỏi xây dựng xong bố cục và nhân vật cuốn sách mất một buổi sáng rồi
sau đó mải miết viết thâu ngày thâu đêm, có lúc vừa ăn bánh mì vừa viết, có lúc mệt
16


quá ngủ thiếp đi, đầu gục xuống bản thảo. Đúng hẹn, Trần Thanh Địch đến gõ cửa.

tuyên truyền, những anh bộ đội, những kẻ Việt gian bán nước như vợ chồng Tư Mắm,
những người nông dân chân chất như lão Ba Ngù. Kể về vợ chồng Tư Mắm, họ là gián
17


điệp nhưng giả danh thành tiểu thương bán mắm dọc các con kênh rạch. Vợ Tư Mắm
là một người đàn bà rất xinh đẹp, bà ta muốn mua chuộc An làm tay sai. Một lần bị
phát hiện thân phận, họ đốt quán dì Tư Béo rồi chạy trốn. Dì Tư chống xuồng về miệt
Thới Bình làm ăn cho yên ổn, An không đi theo mà tiếp tục phiêu bạt cuộc sống không
nhà. Sau đó, cậu gặp lại ông lão bắt rắn và trở thành con nuôi của ông. Tuy sống với
một gia đình mới nhưng cậu bé An cảm nhận được tình thương bao la, dạt dào. Ba mẹ
nuôi của An xem An như con ruột, dạy bảo cậu và chăm sóc cho cậu tận tình. Cậu có
thêm một anh em tốt là thằng Cò, nhờ nó mà cậu biết cách câu rắn, biết cách săn chim,
biết cách đi rừng không bị lạc. Bên cạnh đó, An còn biết đến chú Võ Tòng, một người
có vẻ bề ngoài hung hãn, mặt và ngực đầy những vết sẹo, tóc tai bù xù nhưng có tấm
lòng rất tốt, chú là anh hùng giết rất nhiều hổ dữ, nhưng trong một lần đối đầu với
giặc, chú đã anh dũng hy sinh. Càng ngày thực dân Pháp càng lộng hành, chúng tiến
hành nhiều cuộc càn quét không cho người dân sống yên ổn. An cùng gia đình cha mẹ
nuôi lên xuồng chạy giặc. Cả gia đình đi về hướng U Minh Hạ và xây một ngôi nhà
nhỏ để trú nắng che mưa. Chính sự rong ruổi này, những tạo hóa của thiên nhiên đã
mở ra cho cậu bé An biết bao nhiêu điều kì diệu, cậu bé được khám phá rất nhiều điều
bổ ích và có những bài học phiêu lưu đầu đời hết sức thú vị. Sau đó, An tham gia làm
chiến sĩ du kích, cậu cùng với các chiến sĩ khác lên đường giết giặc để bảo vệ tổ quốc.
Câu chuyện về cuộc đời cậu bé An khép lại trong hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phất
phới, báo hiệu một niềm tin thắng lợi ở tương lai.

1.3.3. Nhận xét về tác phẩm
“Đất rừng Phương Nam là một tiểu thuyết có kết cấu chương hồi theo kiểu
truyền thống, không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen rõ ràng và
bộc lộ qua hành động hình dáng, ngôn ngữ. Tiểu thuyết phiêu lưu có hoàn cảnh luôn

thắng, chung thủy, tình nghĩa không đổi, hay có sự hồn nhiên ngây thơ của thằng Cò
và cậu bé An. Đặc biệt điều mà tất cả chúng ta dễ nhận thấy đặc trưng cơ bản của con
người Nam Bộ lúc bấy giờ là tình yêu quê hương đất nước. Ở đó không phải là những
biểu hiện cụ thể lớn lao, sôi nổi mà ẩn sau lời nói, lời tâm sự, lời hát và qua hành động
của những con người nông dân miệt vườn mới thấy một khí khái, một tình yêu nước
sâu kín, lòng căm thù giặc sâu sắc. Con người Nam Bộ biểu hiện tình yêu quê hương
đất nước của mình từ công cuộc khai phá mở đất, biết sống hòa nhập với thiên nhiên
và biết yêu quý làng xóm, nơi cư ngụ và cao hơn biết yêu ghét, căm thù những gì trái
với đạo lý con người. Họ không chỉ căm ghét những hành động bán nước mà còn căm
ghét cả những tên Việt gian làm tay sai nối giáo cho giặc. Đồng thời họ cũng trân
trọng yêu thương những con người tài trí, tốt đẹp và hào hiệp với những con người biết
cảm thông với hoạn nạn của người khác, không vì bản thân mình.

19


Tác phẩm đã ít nhiều đem đến cho người đọc cái phong vị lối sống, sinh hoạt
rất đặc trưng của con người Nam Bộ. Một cuộc sống rất phóng khoáng, tự do. Những
con người cởi mở, lạc quan. Dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn, khó
khăn nhưng họ không nao núng, không sờn lòng. Ngoài ra những hoạt động văn hóa,
những hình thức sinh hoạt tinh thần hiện lên rất chân thật, đa dạng, ít nhiều phác họa
lại một thời mà đời sống của con người dù còn lắm khốn khó vất vả nhưng lối sống tự
do tự tại, tính tự lập và chiến đấu giúp họ vượt qua khó khăn và biết làm giàu tâm hồn
mình bằng những hình thức sinh hoạt độc đáo.

1.4. Một số tiền đề lý luận
1.4.1. Giới thuyết về tiểu thuyết
Theo nghiên cứu của Lại Nguyên Ân, tiểu thuyết là trình bày đời sống cá nhân
và đời sống xã hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt
được nhau, không ngốn nuốt được nhau; đây là đặc điểm nội dung quyết định thể loại

đời sống. Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết
lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm. Thông thường ở tác
phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và
kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện. Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ
thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy
sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là
nhân vật xưng “tôi”, cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác
phẩm có một điểm nhìn trần thuật. Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi
mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật
trung gian hoặc nhân vật xưng “tôi” được “san sẻ” cho nhiều nhân vật trong cùng một
tác phẩm.
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh
động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực. Là một thể loại lớn tiêu
biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của
không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm
vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình. Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại
có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật,
sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và
thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân
nhân vật. Các thể loại văn học khác thường chỉ tiếp nhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó
để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm, như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái
thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng. Ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa
màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhận hiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn,

21


chuyển hóa lẫn nhau của các sắc độ thẩm mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn,
cái đẹp bên cái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài.
Ở phương diện cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp.

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status