1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Ma Văn Kháng là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học
Việt Nam đương đại, ông được coi là “người đi tiền trạm” cho đổi mới văn học.
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã "nhìn
thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi
trên các diễn đàn văn học. Ông cũng là một trong số các nhà văn Việt Nam hiện
đại sáng tác thành công ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Qua từng
tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể
hiện mới. Thời gian và kinh nghiệm nghệ thuật đã tôi luyện ngòi bút Ma Văn
Kháng làm cho ông luôn gặt hái được những thành tựu đáng kể. Có thể nói Giải
thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 cùng con đường sáng tác gần
nửa thế kỷ đã khẳng định vị thế của ông trong lòng độc giả cũng như trong đời
sống văn học. Vì thế việc tiếp tục nghiên cứu về Ma Văn Kháng là cần thiết để
hiểu hơn thành tựu văn học Việt Nam hiện đại.
1.2. Ma Văn Kháng thành công ở cả truyện ngắn và tiểu thuyết. Toàn bộ
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai mảng đề tài
lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi
và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư. Ở đề tài nào ông cũng có
những tác phẩm có giá trị, thu hút được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên
cứu, phê bình văn học. Ngoài Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội
Nhà văn năm 1984, Ma Văn Kháng còn có nhiều tiểu thuyết gây được tiếng
vang. Vì thế, đề tài của chúng tôi muốn góp phần khẳng định vị trí của Ma Văn
Kháng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
1.3. Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất sắc dành cho
người lớn nhưng ít ai biết đến ông còn rất thành công khi viết về thế giới trẻ em.
Ngoài phản ánh về cuộc sống với những lo toan bộn bề của người lớn ông còn
quan tâm đến những số phận trẻ em trong cuộc sống đầy ngổn ngang biến động.
Ma Văn Kháng tâm sự rằng : “Viết cho thiếu nhi quan trọng không chỉ là viết
biệt của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học và đã trở
thành hiện tượng văn học một thời. Ở bình diện này có thể nói Lã Nguyên,Trần
Đăng Xuyền, Nguyễn Ngọc Thiện, Phong Lê...là những người có những ý kiến
sâu sắc. Lã Nguyên đã nhận xét về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng: “Xuyên suốt
những trang văn là một triết luận đời sống hết sức nhất quán.Triết luận ấy là tính
người, tình người, là sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò chuyện về con
người và cuộc đời.”[25, 38]. Đáng chú ý là các bài nghiên cứu của Trần Đăng
Xuyền đăng trên báo Văn nghệ : “Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe” (Báo Văn nghệ
ngày 8/12/1979); “Phải chăm lo cho từng người” ( Báo văn nghệ số 40 ngày
15/10/1985); “Một cách nhìn cuộc sống hôm nay” (Báo văn nghệ số 15 ngày
3
9/4/1983)...Qua những bài viết này, tác giả có những cảm nhận sâu sắc về cái
nhìn, cảm quan hiện thực cuộc sống trong các tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa
xòe, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn. Khi nói về Đồng bạc trắng hoa xòe,
tác giả Trần Đăng Xuyền cho rằng: “Ma Văn Kháng , bằng hình tượng nghệ
thuật đã chứng minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, mặc dù bị đắm chìm
trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống , khả năng cách mạng.”[57,8].
Ông cũng đã đưa ra nhận định xác đáng về tiểu thuyết Mưa mùa hạ: Giá trị của
Mưa mùa hạ không chỉ là chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà chủ yếu là xây
dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái xấu, trước những bước
cản đi lên Chủ nghĩa xã hội. Sau Mưa mùa hạ, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn xuất hiện. Trong cuộc hội thảo về tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do
Câu lạc bộ Báo Người Hà Nội và Nhà xuất bản phụ nữ phối hợp tổ chức, các
nhà văn, nhà lí luận phê bình đã có nhiều ý kiến đánh giá cao giá trị tư tưởng của
tác phẩm.Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: Mùa lá rụng trong vườn
biểu hiện cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt yếu; Hoàng Kim
Quý lại nhấn mạnh: Tác giả Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộc
Về cách xây dựng nhân vật, Lã Nguyên nhấn mạnh: “Nhân vật của Ma Văn
Kháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi
tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao
thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm...”[25, 40].
Bàn về nghệ thuật viết của Ma văn Kháng, trong bài viết “Tư duy mới về
nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 1980” Nguyễn Thị
Huệ nhận xét: “Khi chuyển hướng trong ngòi bút sáng tác của mình, Ma Văn
Kháng đã nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, một hiện thực phong phú
nhưng ngổn ngang, bề bộn, phải trái, trắng đen lẫn lộn xen cài trong biết bao
biến động. Đó là cuộc sống của thành thị với những màu sắc phong phú và độc
đáo”[7, 65].
Trong bài viết “Cốt truyện trong tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn
Kháng” Đỗ Phương Thảo viết : “Hầu như ở mỗi tiểu thuyết Ma Văn kháng đều
tìm ra một kết cấu phù hợp mới mẻ, đây là một trong những biểu hiện cho thấy
đổi mới tư duy nghệ thuật cũng như đánh dấu bước trưởng thành trên con đường
nghệ thuật của ông”[43, 55].
2.2. Lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng
Tiểu thuyết viết cho thiếu nhi là một trong những mảng rất thành công của
Ma Văn Kháng. Khi viết về thiếu nhi, nhà văn luôn dành những tình cảm yêu
thương, trân trọng nhất.
Đến với tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời - tác phẩm mà nhà văn tâm đắc
nhất, đã có không ít ý kiến bàn bạc. Phong Lê trong cuốn Vẫn chuyện Văn và
Người - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1990) cho rằng: "Cuốn sách của Ma
5
Văn Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác.
Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành.
Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa. Cái hiệu quả thanh lọc này vốn
6
3.2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của
Ma Văn Kháng. Tư liệu khảo sát là các tiểu thuyết:
- Côi cút giữa cảnh đời, Nxb Kim Đồng , Hà Nội, Năm 2006
- Chó Bi-đời lưu lạc, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, Năm 2006
- Chuyện của Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, Năm 2013
Tuy nhiên, để làm nổi bật những đặc sắc của tiểu thuyết thiếu nhi của
Ma Văn Kháng, chúng tôi có so sánh với một số tác phẩm khác của ông khi cần
thiết.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau :
4.1. Đưa ra cái nhìn tổng quát về sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng và
tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của ông, xác định vị trí, ý nghĩa của những tác
phẩm này trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
4.2. Khảo sát, phân tích những vấn đề được quan tâm trong tiểu thuyết viết
cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng.
4.3. Phân tích, chỉ ra được những nét đặc sắc trong hình thức nghệ thuật của
tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu
chúng tôi sử dụng các phương pháp khác nhau:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6. Đóng góp của luận văn
Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cái
1.1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho
đất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Ách nô lệ bị đập tan, con người Việt Nam
được giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng liêng, như kết
quả tất yếu từ khát vọng tự do và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc. Nhưng
thực dân Pháp vẫn quyết tâm xâm lược đất nước ta. Khi mọi biện pháp ngoại
giao không còn hiệu quả, trước dã tâm của Pháp nhằm áp đặt chế độ thuộc địa
lên nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Ðáp lời kêu gọi
ngày 19-12-1946 của Hồ Chủ tịch, cả đất nước đã đứng lên, vừa đánh giặc vừa
củng cố lực lượng, huy động sức mạnh dân tộc không chỉ ở hiện tại mà cả từ
truyền thống quật khởi bốn nghìn năm. Cuối cùng, chiến thắng Ðiện Biên Phủ
(1954) làm lịm tắt ý đồ xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải chấp nhận
thương lượng và ký kết hiệp định Giơnevơ về Ðông Dương (20-7-1954).
Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi. Một nửa nước được giải
phóng nhưng một nửa vẫn nằm dưới tay đế quốc Mĩ. Chúng ta lại tiếp tục bắt
tay vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam. Đây là một trong
những giai đoạn lịch sử gay go, căng thẳng đồng thời cũng ghi dấu những trang
hào hùng trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Vận mệnh của đất nước đứng
trước nguy cơ một mất một còn. Đây là một cuộc kháng chiến mà các nhà văn
vừa tham gia chống kẻ thù cướp nước, vừa chống lại một cuộc xâm lăng văn hóa
của đế quốc Mỹ trên đất nước ta. Nhanh nhạy và kịp thời, các nhà văn đã nhập
cuộc, tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của Tổ quốc. Các thế hệ nhà
9
văn cùng có mặt bên nhau trong trận tuyến đánh Mỹ. Hàng trăm nhà văn trẻ
trực tiếp cầm súng ra chiến trường và sáng tác như Nguyễn Thi, Thu Bồn, Lê
10
chung, giai đoạn này, đội ngũ sáng tác tiểu thuyết chưa nhiều. Phải sau hoà bình
lập lại, các nhà văn mới có thời gian để chú ý tới thể loại này.
Sau 1975, tiểu thuyết phát triển rực rỡ. Có được sự phát triển rực rỡ ấy là
nhờ công sức của nhiều thế hệ cầm bút. Đội ngũ viết tiểu thuyết đa dạng, nhiều
thế hệ khác nhau tạo cho tiểu thuyết mang bức tranh phong phú đa sắc màu của
hiện thực, cuộc sống và con người. Các thế hệ nhà văn cao niên vẫn mải miết
trên cánh đồng chữ nghĩa, lặng lẽ cho ra mắt bạn đọc những đứa con tinh thần
của mình và không phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ là
“thời của tiểu thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ hoá trong sáng tạo
và tiếp nhận. Nhà văn lão thành như Nguyễn Khải với Thượng đế thì cười
dường như muốn khép lại một hành trình hơn nửa thế kỷ cầm bút để lại nhiều dư
ba trên những trang tự thuật của mình. Sau những tháng năm im lặng, với Người
sông Mê, Châu Diên không ngại ngùng cách tân kỹ thuật viết tiểu thuyết. Dù đã
thuộc vào hàng cây cao bóng cả, Mạc Can vẫn không thôi làm người đọc ngạc
nhiên và cảm động với tiểu thuyết đầu tay Tấm ván phóng dao. Ma Văn
Kháng vẫn dồi dào bút lực với Ngược dòng nước lũ. Có những nhà văn chuyển
từ viết truyện ngắn sang tiểu thuyết như Nguyễn Khải, Lê Lựu... Cũng có những
nhà văn tên tuổi viết tiểu thuyết đã khẳng định tài năng ở các giai đoạn trước
như Tô Hoài nay càng sắc sảo, tinh tế trong đời thường. Bên cạnh đó nhiều cây
bút mới nổi lên như Dương Hướng, Chu Lai, Bảo Ninh... và nhất là xuất hiện
nhiều cây bút nữ có tư duy tiểu thuyết sắc bén như Phạm Thị Hoài, Võ Thị
Hảo...Đồng hành là một dàn những cây bút của thế hệ kế tiếp sáng tạo, sẵn sàng
thể nghiệm, cách tân như: Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy
Anh...Đội ngũ các tiểu thuyết gia cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế
vận động và đổi mới của văn xuôi đương đại. Những người cầm bút đã chứng
minh được sự sáng tạo cùng với nỗ lực đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút của
ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, là khát vọng tự do độc lập, là niềm tự hào về sự
nghiệp cứu nước vĩ đại của nhân dân ta và niềm tin tưởng mãnh liệt vào chủ
nghĩa xã hội. Mọi đối kháng trong tác phẩm đều xoay quanh cuộc chiến của dân
tộc. Trong Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm đã tái hiện
bầu không khí lịch sử sôi sục, quyết liệt, sẵn sàng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết
sinh” trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội. Nhà văn thường
đẩy xung đột đến mức gay gắt, quyết liệt qua việc thể hiện tội ác của kẻ thù với
nhân dân. Chiến tranh, bom đạn chỉ được miêu tả như một cái nền để nhà văn
dẫn độc giả vào một thế giới khác: thế giới của tình người, của đức vị tha, lòng
12
dũng cảm và nghĩa tình chung thuỷ. Nói cách khác, đó là thế giới của cái cao cả,
cái đẹp vượt lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn chiến tranh. Vì thế các
nhân vật được vẽ nên cũng mang nét sử thi lãng mạn. Sự hi sinh, cống hiến của
họ đều xứng đáng là bức tượng đài biểu dương cho lòng yêu nước. Họ sống chủ
yếu trong tư cách con người chính trị, con người công dân. Hay trong Hòn Đất,
việc kẻ thù thả thuốc độc xuống suối và thằng Xăm chém đầu chị Sứ một cách
man rợ đã làm bùng lên ngọn lửa căm thù, khơi dậy sức mạnh mãnh liệt ở người
dân và những người chiến sĩ du kích, buộc giặc phải rút lui khỏi hang Hòn. Bị
kẻ thù treo lơ lửng trên cây dừa, đứa con nhỏ cùng em gái và đồng đội bị vây
hãm trong hang đá, chị Sứ tự nhủ: Bữa nay, có lẽ mình chết. Nhưng mình chỉ
thấy tiếc chớ không ân hận mắc cỡ gì cả... Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn
y nguyên, như chị Minh Khai, như Võ Thị Sáu... nên từ phút này trở đi, mình
cũng phải giữ được như vậy... Hay bi kịch cá nhân qua mối tình trái ngang
Xiêm – Lượng và cuộc hôn nhân bất hạnh Xiêm – Kiếm trong tác phẩm Dấu
chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu đã để lại trong lòng người
những nỗi căm hờn về tội ác của bọn giặc. Giọng điệu trữ tình rưng rưng, hào
sảng không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ, mà còn là giọng điệu chủ đạo của
trần thế giới”, đồng thời còn là ý thức hướng tới đề cao tính nhân văn. Đọc
những tác phẩm như Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu; Cơ hội của chúa (1999)
của Nguyễn Việt Hà; Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh; Một mình
một ngựa (2009) của Ma Văn Kháng... không ai có thể phủ nhận sự phát triển
ngày càng cao trong từng góc cạnh của tiểu thuyết. Chúng ta cũng có thể điểm
qua một số hiện tượng tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Có thể nói tác
phẩm đánh dấu sự đổi mới của văn xuôi theo tinh thần đổi mới tư duy là tiểu
thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu. Đến với những sáng tác của Tạ Duy Anh, ta
thấy được sự cách tân nghệ thuật táo bạo trong văn phong của ông.Những tác
phẩm: Lão khổ (1992), Khúc dạo đầu (1991), Thiên thần sám hối (2004)... là
những tác phẩm xuất sắc được dư luận quan tâm nhiều và ghi dấu ấn trong lòng
độc giả. Bên cạnh đó, chúng ta có thể kể thêm một hiện tượng nữa đó là tiểu
thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết đã đem lại khá nhiều yếu tố mới
mẻ cho kinh nghiệm đọc tiểu thuyết của số đông độc giả. Và gần đây người ta
chú ý những tiểu thuyết mới mẻ của Thuận, trong đó có tiểu thuyết Phố tàu
14
(China Town). Đây là một cuốn tiểu thuyết khá lạ như Dương Tường nhận xét
“đây là cuốn tiểu thuyết khó đọc vì nó lạ và mới”, nó đã “khước từ truyền
thống”. Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của nó đến
tình cảm và số phận con người với bao nỗi éo le, bi kịch, xót xa, nỗi buồn dai
dẳng (Thân phận tình yêu của Bảo Ninh). Một số tác phẩm nổi bật với cảm hứng
phê phán và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Những tác phẩm viết về nông thôn cho
thấy sự chi phối của những tập tục, những tâm lý cố hữu ở làng xã đến các mối
quan hệ gia đình, dòng họ. Những cuộc tranh giành quyền lực giữa họ tộc,
những mối thù truyền kiếp... tất cả đè nặng lên cuộc sống, số phận bao nhiêu
người (Bến không chồng; Mảnh đất lắm người nhiều ma...). Các tác giả còn đi
sâu vào khám phá đời sống muôn màu trong cái hàng ngày với các quan hệ thế
1963, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai, sống
và gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi hơn 20 năm... Ngày ấy, ông quen anh
Ma Văn Nho, phó chủ tịch huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Anh Nho cũng là người
Kinh, quê ở Hạ Hòa, Phú Thọ. Hai anh em cùng đi cơ sở, thực hiện ba cùng với
nhân dân, vận động họ tăng gia sản xuất, đóng thuế, đi dân công, xóa mù chữ, vệ
sinh phòng dịch bệnh... Trong đợt đi làm thuế ở thôn Giáng Tùng Tung, huyện
Bảo Thắng, ông bị sốt rét ác tính, may mà có anh Ma Văn Nho - là phó bí thư
Huyện ủy Bảo Thắng cứu sống nhờ kiếm được mấy mũi tiêm. Từ đó ông kết
nghĩa anh em với anh Ma Văn Nho và đổi tên thành Ma Văn Kháng.
Từ tuổi thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được cử đi học
ở khu học xá Trung Quốc. Năm 1954, sau khi tốt nghiệp sư phạm trung cấp tại
khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), Ma Văn Kháng được cử về tiếp quản thủ
đô nhưng ông từ chối và xin về dạy học ở Lào Cai với lý do “muốn viết văn
thành ra dám liều mạng lên miền biên ải một phen xem sao”. Chuyến đi lên Lào
Cai lập nghiệp cũng là bởi ảnh hưởng của các tiểu thuyết lãng mạn. Có gì đó đầy
hào hứng lôi cuốn, thực sự rất hấp dẫn và mới mẻ cứ lớn lên trong tâm hồn anh
giáo viên trẻ tìm được lý tưởng. Ông về dạy cấp II ở Lào Cai và bắt đầu xung
phong tham gia nhiều hoạt động xã hội. Năm 1960 ông được cử về học Đại học
Sư phạm Hà Nội, tốt nghiệp năm 1964 ông lại xin về Lào Cai để dạy cấp III.
Sau đó ông chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí thư Tỉnh ủy rồi làm Phó
Tổng biên tập báo Lao Cai, Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao
động, Uỷ viên Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của
Hội Nhà văn Việt Nam.. Sau này, ngẫm lại, ông thấy việc bị điều lên làm thư ký
cho ông bí thư tỉnh ủy tưởng là điều không may nhưng lại rất may. Vì ở vị trí đó,
16
ông được gắn bó với những gì thuộc về vận mệnh con người, vận mệnh của đất
nước. Ông nhận ra rằng ngẫu sự rất quan trọng, cứ để cho cuộc sống chủ động
miền núi về thấy cái gì cũng lạ nên cứ kêu toáng lên, còn bọn mình ở đây quen
rồi nên thấy cái gì cũng quen hết cả” [56, 15].
Ngoài ra, Ma Văn Kháng còn đứng lớp dạy viết văn nhiều khóa tại trường
viết văn Nguyễn Du khi xưa, nay là khoa Viết văn - Báo chí của Đại học Văn
hóa Hà Nội. Học trò của ông hiện nay nhiều người đã trở thành những tên tuổi
lớn trên văn đàn. Nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ: “Có hai việc cần thiết vào
cuối đời thì tôi đã nỗ lực để làm trong những năm qua, vì con cái tôi không ai
quan tâm đến gia tài văn chương của bố, nên nếu mình không làm thì không ai
làm cho mình cả, bởi thế tôi hệ thống hóa những điều đã viết, gom góp để hoàn
thành nốt những tư liệu dở dang, tổng kê lại những cuốn sách đã xuất bản,
những bài báo người ta đã viết về mình. Điều thứ hai là tôi soạn xong di chúc,
thực sự phải hoàn toàn thanh thản chuẩn bị cho mình mọi tâm thế an lành nhất,
để có thể yên tâm một điều rằng, sinh ra trên cõi đời này, mình đã tận tâm, tận
lực đến cùng để có thể có một cuộc đời tròn vẹn nhất…” [ 56, 30]
Dù tuổi cao cùng những chứng bệnh mà bất kỳ tuổi già nào đều có thể gặp
phải nhưng Ma Văn Kháng không những chăm chỉ viết, ông còn rất chịu khó
đọc tác phẩm của các đồng nghiệp, mà trong đó đa phần là các đồng nghiệp lớp
sau, những người vốn là học trò của ông, thậm chí, ông còn đọc cả tác phẩm của
những cây bút trẻ một cách chân thành, không màu mè. “Đọc nhà văn trẻ để
thấm thấu cái tươi mát phi truyền thống, phi cổ điển”, ông tâm sự. Ngoài việc
tham dự vào đời sống văn học, thi thoảng, các đồng nghiệp vẫn thấy ông… đi
thực tế, dự các buổi gặp gỡ của các ngành. Quan niệm của ông là đừng bao giờ
cho rằng mình đã trưởng thành, không hiểu các nghề khác thế nào, riêng nghề
văn mà tôi theo đuổi thì đó là một nghề cần học hỏi suốt đời. Học nghề mải mê,
không biết mệt, nếu anh còn muốn tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc và
tràn đầy niềm vui này. Ông tâm niệm: “Chẳng ai dự liệu được đời mình sẽ là thế
nào cả. Cách mạng là ngọn gió lớn thổi ta là hạt bụi đi đến các chân trời - một
nhà thơ đã viết thế. Khoa học nhân sinh cho biết 70% đời người do ngẫu nhiên
quyết định. Không ai chọn thời đại, hoàn cảnh để sinh ra và sống với nó cả. Vấn
Xa phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Góc rừng xinh xắn (1972), Người con
trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973),...và các tiểu
thuyết như: Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe (1978), Mưa mùa hạ
(1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Vùng biên ải (1983), Đám cưới không
có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), ... Gần đây trong hai năm
từ năm 2010- 2011, ông vừa cho ra mắt độc giả liên tiếp ba cuốn tiểu thuyết Một
19
mình một ngựa, Bóng đêm và Bến bờ. Và năm 2013 ông có tiểu thuyết Chuyện
của Lý. Có người bảo tiểu thuyết Chuyện của Lý là cuốn sách cuối cùng của lão
nhà văn này. Nói là vậy, ai dám chắc được với niềm đam mê văn chương, sức
lao động bền bỉ, dẻo dai và nghiêm túc, biết đâu ông vẫn còn tiếp tục cho ra lò
những cuốn sách mà ông tâm đắc từ lâu đang được gấp rút hoàn thành.
Với số lượng tác phẩm văn chương khá đồ sộ như vậy, nhà văn Ma Văn
Kháng đã từng nhận được nhiều giải thưởng quan trọng, như truyện ngắn Xa
phủ đoạt giải nhì của tuần báo văn nghệ 1968 - 1969. Tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn được xem là cuốn tiểu thuyết viết về gia đình xuất sắc nhất của ông
được tặng giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985. Tập truyện
Trăng soi sân nhỏ nhận tặng thưởng của Hội đồng Văn xuôi Nhà văn Việt Nam
năm 1995 và giải thưởng văn học Đông Nam Á 1998. Truyện ngắn San cha chải
nhận giải thưởng “Cây bút vàng” cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 - 1998 do Bộ
Công an và Hội Nhà văn đồng tổ chức. Năm 2001, Ma Văn Kháng được vinh dự
nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với cụm tác phẩm: Đồng bạc
trắng hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn.
1.2.2.2.
Ma Văn Kháng – nhà văn mang phong cách riêng
sáng tác mang tính sử thi, với các tác phẩm tiêu biểu là Đồng bạc trắng hoa
xòe, Vùng biên ải...Tư tưởng nhân văn được thể hiện ngay trong những tác phẩm
của ông trong thời kì đầu. Có thể thấy điều đó qua tác phẩm Đồng bạc trắng
hoa xòe. Trong tác phẩm, Ma Văn Kháng hiểu thấm thía một hiện tượng cuộc
sống đặc biệt đến quái dị là chế độ thổ ty phong kiến thế tập phiên thần đã tồn
tại hàng trăm năm ở đây. Tác giả đã tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi
nhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam được tiến hành trên một
vùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu, đặt trong bối cảnh
lịch sử ngàn cân treo sợi tóc của dân tộc.
Ở thời kì thứ hai, ông chú ý tới những sáng tác thế sự - đời tư, với các tiểu
thuyết như Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Ngược dòng nước lũ, Đám
cưới không có giấy giá thú,... bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỉ trước.
Sau 1986, văn học từ cảm hứng sử thi chuyển sang cảm hứng thế sự, Ma Văn
Kháng không là ngoại lệ của xu thế đó. Ông đã vững bước trên đường đổi mới
với những cảm hứng mới, tâm thế mới và bút lực ngày càng mạnh mẽ. Sự
21
nghiệp đổi mới văn học đã được khẳng định trong đó có đóng góp tích cực của
cây bút điềm đạm mà quyết liệt, bình tĩnh chọn lựa, kiên định trước những chao
đảo, nhiễu loạn của văn đàn khi không tránh khỏi những xu thế cơ hội và vụ lợi
của cơ chế thị trường và mở cửa văn hóa hội nhập toàn cầu. Ma Văn Kháng trải
qua quá trình đổi mới với những nhọc nhằn nhưng can đảm và nhẫn nại. Nhà
văn là một minh chứng cho thái độ chừng mực, ôn hòa mà kiên cường, khí
phách. Nhà văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái nhìn mới nhiều chiều để thấy
cả bề mặt lẫn bề sâu với tất cả quan hệ ngổn ngang, chồng chéo, phức tạp của
nó. Con người là đối tượng để khám phá không còn và không thể được quan
niệm như trước. Đó là con người trong mối quan hệ đa chiều lịch sử, xã hội, gia
đình và với chính mình, là con người trong tính toàn vẹn, phong phú và phức
chẳng gì bằng. Tên tuổi của ông vẫn còn sức sống với thời gian và những tác
phẩm của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng bạn đọc.
1.3.
Vị trí của tiểu thuyết Ma Văn Kháng
1.3.1. Các đề tài nổi bật
Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn chung được sáng tác theo hai
mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài về dân tộc miền núi với cảm
hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư.
Viết về đề tài miền núi, ông tập trung đi vào khám phá, phản ánh cuộc đấu
tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số, về hiện thực cuộc sống lao động và
chiến đấu của người dân miền núi Tây Bắc. Trải qua 22 năm công tác, giảng dạy
ở vùng dân tộc, Ma Văn Kháng hiểu rõ được đời sống của đồng bào dân tộc
miền núi mà nhất là vùng đất Lào Cai nơi ông công tác. Đó là cuộc sống còn
nhiều gian nan, khó khăn còn nhiều vết tàn dư của những quan niệm, phong tục
lạc hậu. Ông là người chứng kiến những biến động to lớn trong đời sống chính
trị - xã hội cũng như cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái mới và cái cũ. Đó
là cuộc cách mạng có tính chất rộng lớn không riêng gì đồng bào dân tộc Lào
Cai mà còn là cuộc đấu tranh chung của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Mỗi con
người, từ già đến trẻ đều có một mảng đời, một biến cố, một bước ngoặt liên
quan đến cuộc đấu tranh có tính chất chuyển đổi của “thời kỳ bão táp dữ dội
đó”.
23
Viết về đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn muốn lột tả thế vươn vai
đứng dậy đổi đời của những con người cách mạng núi rừng. Sống cùng đồng
sự đục khoét của họ hàng nhà mối. Khi mùa lũ đến phải chịu sự công phá dữ dội
của 18 tỷ m3 nước để so sánh với cuộc đấu tranh giữa cái tích cực và cái tiêu cực
đang tồn tại, tiếp diễn trong đời sống xã hội như một vấn nạn. Trong cuộc đấu
tranh ấy, dẫu cái cũ, cái xấu chưa hoàn toàn triệt tiêu song đã tạo tiền đề mở
đường cho cái tốt, cái đúng được khẳng định, được chiến thắng.
Sau chiến tranh, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, nhiều quan điểm và giá trị đạo đức truyền thống đang có nguy
cơ bị bào mòn, xem nhẹ. Nhận thấy rõ được sự biến đổi sâu sắc đó, Ma Văn
Kháng cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (1985) và
ngay từ khi ra đời nó đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và bàn luận sôi nổi.
Mùa lá rụng trong vườn xoay quanh chủ đề gia đình, những chuyện liên quan
mật thiết đến đời sống hàng ngày trong sự quan hệ, ứng xử giữa các thành viên
gồm nhiều thế hệ. Trong đó, vấn đề lớn được quan tâm, phản ánh là thái độ
sống, ý thức sống của mỗi thành viên trước những tác động nhiều mặt của đời
sống kinh tế thị trường. Sự cảnh tỉnh về những giá trị đạo đức truyền thống đang
có nguy cơ bị bào mòn, bị xâm thực bởi những giá trị vật chất. Xung quanh vấn
đề gia đình, tác phẩm còn đề cập đến sự vận động, phát triển tính cách cá nhân
trong quan hệ nhiều mặt với đời sống xã hội, sự quan tâm tới số phận của mỗi cá
nhân trong cuộc sống giao thời hiện nay. Lối sống thực dụng, ích kỷ cùng với
những dục vọng thấp hèn coi đồng tiền là trên hết, bất chấp mọi chuẩn mực, mọi
giá trị đạo đức đang hình thành và có nguy cơ lấn át giá trị truyền thống. Tác giả
Trần Đăng Xuyền nhận định: “Mùa lá rụng trong vườn là tác phẩm đã khơi
được vào dòng chảy của cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẫy ra được một mảng
tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn
về nó và cũng hy vọng, tin yêu ở nó. Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ
sống, một trách nhiệm sống” [59; 18]. Với giá trị đó, năm 1985, tiểu thuyết Mùa
lá rụng trong vườn được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.
Cũng trong giai đoạn này, ông cho xuất bản tập truyện ngắn Ngày đẹp
trời. Năm 1988, nhà xuất bản Phụ nữ cho xuất bản cuốn Trái chín mùa thu.
cho độc giả với cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa (2009) với giải thưởng của
Hội Nhà văn Hà Nội. Theo tâm sự của nhà văn thì đây là cuốn tiểu thuyết ông
viết về lớp cán bộ lãnh đạo, những người đã cộng tác cùng nhà văn ở miền núi.