Đặc điểm truyện ngắn của Cao Tiến Lê sau 1986 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG VĂN THƯỞNG

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
CỦA CAO TIẾN LÊ SAU 1986

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG VĂN THƯỞNG

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
CỦA CAO TIẾN LÊ SAU 1986

Chuyên ngành : VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số

: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2015


1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.............................................................................1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................5
6. Đóng góp mới của đề tài ..............................................................................5
7. Cấu trúc luận văn...........................................................................................6
Chương 1...........................................................................................................7
NHÌN CHUNG VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1986
VÀ VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN CAO TIẾN LÊ.................................................7
1.1. Khái niệm truyện ngắn và ưu thế của thể loại............................................7
1.1.1. Khái niệm truyện ngắn............................................................................7
1.1.2. Ưu thế của truyện ngắn...........................................................................9
1.2. Những đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986...............................11
1.2.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội.........................................................................11
1.2.2. Bức tranh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986.......................13
1.3. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Cao Tiến Lê....................................16
1.3.1. Cuộc đời................................................................................................16
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác.................................................................................18
1.3.3. Nhìn chung về truyện ngắn Cao Tiến Lê .............................................20
Chương 2.........................................................................................................23
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN CAO TIẾN LÊ TRÊN ..................................23
PHƯƠNG DIỆN ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG VÀ NHÂN VẬT...........................23


iii

2.1. Cách lựa chọn đề tài.................................................................................23
2.1.1. Chiến tranh và người lính .....................................................................23
2.1.2. Cuộc sống thời hậu chiến......................................................................29

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, truyện ngắn Việt Nam có sự
khởi sắc, trở thành một thể loại có nhiều thành tựu được bạn đọc ghi nhận.
Nhiều gương mặt tài năng xuất hiện như Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Bảo
Ninh, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Hướng, Ma Văn Kháng, Võ Thị
Hảo…Trong số đó, Cao Tiến Lê là một gương mặt không trở thành “hiện
tượng” nhưng lại được cảm tình, chú ý ở một bộ phận độc giả. Ông là người
nghiêm túc trong văn chương và mẫn cán với nghề. Dấu ấn của một ngòi bút
xuất thân từ quân đội, viết nhiều về bộ đội cũng thể hiện rõ. Vì thế nghiên cứu
truyện ngắn Cao Tiến Lê sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn bức tranh truyện ngắn
Việt Nam đương đại.
1.2. Cao Tiến Lê sáng tác trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết,
kí, văn học cho thiếu nhi. Tuy nhiên, mảng sáng tác thành công nhất vẫn là
truyện ngắn. Ông đạt giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn do Báo văn nghệ tổ
chức (1972 - 1973) với tác phẩm Mùi thơm giây cháy chậm. Từ sau giải
thưởng này, ông vẫn cần mẫn viết và có những thành công nhất định. Nghiên
cứu đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định vai trò của truyện ngắn trong sự
nghiệp của nhà văn và chỉ ra vị trí của ông trong bức tranh truyện ngắn Việt
Nam sau 1986.
1.3. Mặc dù truyện ngắn Cao Tiến Lê không được giảng dạy trong nhà
trường nhưng nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Cao Tiến Lê cũng giúp chúng
tôi dạy học tốt hơn phần truyện ngắn Việt Nam sau 1986.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Truyện ngắn Cao Tiến Lê đang xuất hiện đều đặn trên diễn đàn và đang
được độc giả quan tâm đón nhận. Xuất hiện trên văn đàn dù không tạo nên


2

3
một cách dí dỏm bên cạnh những câu văn chứa đầy tính thơ. Cuốn sách bắt
đầu từ những trải nghiệm cá nhân của nhà văn để mở rộng biên độ tới nhiều
cảm xúc trong cuộc sống. Trong đó, nhà văn đề cập nhiều đến triết lý thân
thuộc: “người với người sống để yêu nhau”. Cũng giống tác giả Trần Hoàng
Thiên Kim, Thanh Huyền cũng chỉ nêu cảm nhận chung cho tập truyện, chưa
đi vào phân tích một cách cụ thể các tác phẩm.
Thụy Khê, với bài viết ''Xin đừng quên tôi của Cao Tiến Lê''
[], nhận xét: ''Cao Tiến Lê đến với bạn đọc bằng
mỗi thâm tình của một người từng trải, với những nghiệm sinh sâu sắc về tình
yêu/ sự sống/ cái chết. Ông muốn gỡ gạc với thời gian bằng ''Bản nhạc ngôn
từ'' mà mình đau đáu quy ẩn vào kí hiệu, hoài thai đứa con tinh thần với tập
truyện ngắn đầy đặn Xin đừng quên tôi. Với văn phong trong sáng, giản dị,
nhẹ nhàng Xin đừng quên tôi, mang đến cho bạn đọc những khoảnh khắc
nghiệm sinh thú vị. Mười sáu truyện là mười sáu khúc biến tấu đa điệu
của bản nhạc cuộc sống, lùa thanh âm trong trẻo vào tâm hồn người nghệ
sĩ vào đời sống hiện thực trần trụi, nơi con người đang bế tắc và mất
thăng bằng. Xin đừng quên tôi, giống như một loài hoa mà tác giả gieo
mầm lên cuộc sống với bức thông điệp nhân văn sâu sắc: Tình người là
loài hoa đẹp nhất mà con người có thể tìm thấy ý nghĩ về một cuộc sống
đích thực''. Đây cũng là một bài báo, đã nêu được cảm nhận chung về một
tập truyện.
Bài viết của Minh Ngọc nhan đề: ''Xứ Nghệ trong hồn cốt Cao Tiến Lê''
đăng trên ''Tạp chí Nhà văn'' số 42, năm 2004'' viết: ''Truyện của ông đầy
nhiệt huyết, mang đậm chất chiến sĩ và sự nhạy bén của người nghệ sĩ khi tái
hiện cuộc sống lại có chút ngang tàng, gàn gàn của ông đồ Nghệ''. Bài viết có
cảm nhận đúng về phong cách tác giả Cao Tiến Lê, tuy chưa đi sâu phân tích
lí giải cụ thể.



- Bước đầu chỉ ra vị trí của Cao Tiến Lê trong bức tranh truyện ngắn
Việt Nam sau 1986
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đặc điểm truyện ngắn của Cao
Tiến Lê sau 1986 (trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu truyện ngắn của Cao Tiến Lê, các
thể loại sáng tác khác của ông chỉ được đề cập khi thật cần thiết để so sánh.
Phạm vi tư liệu khảo sát là các tập truyện ngắn:
- Ở trần - Nxb Quân đội nhân dân, năm 1990
- Ớt ngọt - Nxb Thanh niên, năm 1998
- Một đời vô duyên - Nxb Thanh niên, năm 1999
- Truyện ngắn Cao Tiến Lê - Nxb Hội nhà văn Hà Nội, Năm 2003
- Xin đừng quên tôi - Nxb Thời đại, năm 2012
- Cao Tiến Lê truyện ngắn chọc lọc - Nxb Thanh niên, năm 2013
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp phân loại - thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
6. Đóng góp mới của đề tài
Truyện ngắn Cao Tiến Lê cho đến nay chưa được quan tâm đúng mức.
Luận văn là công trình đầu tiên có tính hệ thống, khảo sát toàn diện truyện


6
ngắn của Cao Tiến Lê sau 1986, trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn Việt
Nam đương đại.

Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc là ba mươi trang, biến hóa về kiểu loại
tình cảm, trào phúng, kì ảo, hướng về biến cố thật hay tưởng tượng, hiện thực
hay là phóng túng. Biến hóa về nội dung: thay đổi vô cùng vô tận. Muốn có
chất liệu để kể, cần có một cái gì đó xẩy ra, dù đó chỉ là một thay đổi chút xíu
về sự cân bằng, về các mối quan hệ. Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì
cũng thành biến cố. Thậm chí thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả
vì nó làm cho sự chờ đợi bị hụt hẫng'' [67, tr 12].
Ở phương Đông, người Trung Quốc gọi truyện ngắn là "đoản thiên
tiểu thuyết". Nhà văn Trương Hiền Lượng (Trung Quốc) trong Lời tựa của


8
một cuốn truyện cực ngắn đã có một ý kiến thú vị về truyện ngắn: ''Truyện
ngắn giống như nước hoa quả cô đặc, pha thêm một chút nước, ít nhất cũng
biến thành truyện vừa, lại cho thêm ít gia vị thành truyện dài cũng không
khó'' [67, tr 35].
Ở Việt Nam quan niệm về truyện ngắn cũng thật muôn hình vạn trạng.
Nguyễn Kiên khẳng định: ''Tôi cho rằng mỗi truyện ngắn là một trường hợp
trong quan hệ giữa con người và đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, mỗi
quan hệ được bộc lộ. Truyện ngắn phải nắm bắt được cái trường hợp ấy.
trường hợp ở đây là màn kịch chớp nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lí,
một biến chuyển tình cảm kéo dài chậm rãi trong nhiều ngày [...]. Nhưng nhìn
chung, thì vẫn có thể gọi là một trường hợp” [67, tr 19, 20].
Nhà văn Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi, lại phân biệt
truyện ngắn với truyện dài: "Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau về tính
chất. Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng
chi tiết với sự bố trí chặt chẽ bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân
nhắc. Muốn truyện ngắn ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý
làm ý chính, làm chủ đề cho truyện... Những chi tiết trong truyện chỉ xoay
quanh chủ đề ấy thôi'' [67, tr 25].

của đời sống văn học. Thể loại mà giới nghiên cứu và độc giả xem là "thuốc
thử" của mỗi nhà văn trên con đường sự nghiệp văn chương. Với hình thức
gọn nhẹ, súc tích, dễ đọc...do đó nó có tính cập nhật kịp thời cho độc giả.
Trong xã hội hiện đại truyện ngắn chiếm nhiều ưu thế riêng, đã dành
được nhiều tình cảm của độc giả. Truyện ngắn xứng đáng là một trong những
thể loại hàng đầu, món ăn tinh thần cho bạn đọc trong cuộc sống hiện đại đầy
tri thức khoa học nhưng cũng lắm bon chen, bề bộn khó lường.
Nguyễn Minh Châu từng nói trong Truyện ngắn: ''Tôi viết truyện ngắn,
chỉ cần vài trang văn xuôi mà có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ
người đọc những điều rất sâu xa và gia diết của con người, khiến người đọc
phải nhớ mãi, đọc đi đọc lại vẫn không thấy chán. Bởi một thủ thuật của
truyện ngắn là điểm huyệt. Quả đúng không sai nếu tiểu thuyết đi theo diện


11
rộng thì truyện ngắn đi theo điểm, tiểu thuyết đi theo trục thời gian còn truyện
ngắn xoáy vào những thời điểm nào đó. Tiểu thuyết cho độc giả ngày dài,
tháng rộng ngâm ngợi thì truyện ngắn khiến độc giả đọc liền một mạch. Với
lợi thế của mình truyện ngắn muốn vươn đến cuộc sống bằng công dụng có
một không hai của mình, cho cuộc sống cái nhìn toàn bích về đời sống vật
chất lẫn tinh thần và hết sức gần gũi với đời thường'' [10, tr 14].
Phạm Xuân Nguyên nói: Truyện ngắn hôm nay tiếp tục lật xới hiện thực
hai chiều - quá khứ - hiện tại'' để mang đến một tiếng nói định vị cho người đọc
đánh giá nhìn nhận những người, những việc như bây giờ. Truyện ngắn bấy giờ
không còn là mũi khoan thăm dò nhỏ nhẹ mà đã mang sức nặng của những khái
quát lớn.
Nguyên Ngọc trong bài viết trong: ''Văn xuôi sau 1975 thử thăm dò đôi
nét về quy luật phát triển'' khẳng định: ''Đến đây bỗng nổi lên một quy luật thú vị
về sự phát triển của thể loại văn học. Truyện ngắn bỗng nổi lên vị trí hàng đầu.
Những năm trước truyện ngắn dường như lịm đi bị đè nặng bởi những tiểu

triển'' Vũ Tuấn Anh có ý rằng: ''Có thể nói đến sự thay đổi về tính chất, một
chặng đường khác biệt trong tiến trình văn học, thế kỷ mà đổi mới văn học
mở ra. Từ sự chú trọng đến lịch sử - xã hội, văn học hướng về đề tài thế sự
đời tư, từ cảm hứng sử thi tìm đến chiều sâu nhân bản, từ con người nguyên
phiến, sang con người đa diện, từ con người đại diện cho giai cấp, dân tộc
sang con người cá thể và chính những con người cá thể và chính những cá thể
của nhân vật này mà tìm đến các hình tượng phổ quát, theo cách mà
Đoxtoiepxki đã từng tâm niệm'' [2, tr 15].
Nếu như trước đây các nhà văn ''phải nghĩ trong những điều Đảng nghĩ,
bay theo những đường dân tộc bay'' và "tự bạt chiều cao cho thấp đi khỏi
chạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang cho khỏi kềnh càng'' thì nay được lột
xác, được tự do sáng tạo. Lớp nhà văn như Nguyễn Minh Châu không còn cơ
hội đọc lời ai điếu nữa. Thực tế thì không ít một số nhà văn quen thuộc với lối
viết sáo mòn, cũ rích đành phải gác bút vì ra khỏi sở trường quen thuộc và họ


13
chết cứng, nhường chỗ cho lớp nhà văn tân tiến. Lớp văn nghệ sĩ có tâm
huyết với nghề trở về cuộc sống chân thực, đầy ý nghĩa, để kiếm tìm và thiết
lập những giá trị phong phú của đời sống tinh thần con người.
Trong môi trường "cởi trói" đó, con người lại đối diện với cuộc sống
thường nhật, giá trị cuộc sống cần phải xem xét lại thước đo chuẩn mực. Nhu
cầu nhận thức của con người cũng không ở chỗ khuôn vàng thước ngọc nữa.
Sự tiếp nhận của bạn đọc không còn dễ dãi ở cái nhìn phiến diện, con người
toàn phiến, mà thị hiếu độc giả đòi hỏi cái nhìn đa diện, nhiều chiều kích khác
nhau về cuộc đời.
1.2.2. Bức tranh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Đại hội VI năm 1986 đã mở ra chặng đường mới cho văn học Việt
Nam. Các nhìn nhận đánh giá về truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 cho dù
còn nhiều tranh luận, nhưng về mặt thực tế, truyện ngắn đã có những thành

trang thôi mà có sức nặng còn cả hơn tiểu thuyết trường thiên. Rõ ràng trong
các thể loại, truyện ngắn đã tiến một bước xa hơn cả" [48, tr 87].
Với tư cách là thể tài tiên phong đặc dụng cho cuộc sống, truyện ngắn
thực sự mở ra một trường đua tiếp sức trong sáng tạo và có sự cách tân đổi
mới toàn diện nhất.
Đổi mới quan niệm hiện thực về con người, con người chưa bao giờ
như lúc này đang dịch chuyển rõ rệt. Mỗi một giai đoạn lịch sử có quan niệm
hiện thực về con người không giống nhau. Cái hệ quả ấy dẫn đến sự nới rộng
biên độ đề tài, chủ đề, từ con người sử thi, sang con người thế sự đời tư. Mọi
khía cạnh cuộc sống đời tư được chú ý thu hút, đôi khi thầm kín nhất, con
người có cả ''rồng phượng lẫn rắn rết".
Truyện ngắn viết về chiến tranh không còn mang hơi thở, âm hưởng sử
thi. Mà nay viết về nỗi đau thân xác thường nhật, sự ám ảnh, sự cô đơn, cái
tôi cá nhân bộc lộ đôi khi dồn nén hết sức, đi đến sự quay đầu với lợi ích cộng
đồng. Phạm Thị Hoài trong Viết như một phép ứng xử, có ý: Văn chương là
một trò chơi vô tăm tích, và viết văn là một phép ứng xử với bản thân mình,


15
sau là ứng xử với môi trường mà môi trường ở đây là toàn bộ những gì tự
nhiên và con người tạo ra kể cả những di sản quá khứ và những tín hiệu mơ
hồ về tương lai.
Hay như Nguyễn Minh Châu nói: cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa
đoan. Không phải là sự kiện lịch sử dựng lại con người mà là con người, số
phận con người dựng lại lịch sử. Cảm hứng theo khuynh hướng sử thi lãng
mạn giảm dần và thay vào đó là cảm hứng thế sự, đời tư. Đặc điểm cơ bản
của các tác phẩm là tinh thần dân chủ, phát huy cảm hứng tôn trọng sự thật,
đề cao cá tính sáng tạo của cá nhân và khai thác triệt để công năng thể loại.
Người ta vẫn nói về khả năng "áp sát cuộc sống" khả năng "thấu thị đời sống"
của văn xuôi và truyện ngắn nói riêng.

Cao Tiến Lê sinh ngày 31 tháng 12 năm 1937, bút danh: Tế Liên, Nam
Lương, Lê Đô Lương, Mai Tiến Cường, quê tại Xã Lam Sơn (xã Bạch Ngọc
cũ), huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An. Bản thân là người thông minh nhanh
nhẹn, tháo vát, hào hoa, lãng mạn sống có chí hướng. Ông có thiên hướng văn
chương từ lúc thuở thiếu thời.
Nhà văn tham gia vào hai cuộc chiến đấu thần thánh trường kì của dân
tộc. Ông chia còn sẻ: ''cuộc sống chiến đấu chống Pháp và chống Mĩ đã hun
đúc trong ông niềm khát vọng làm một chứng nhân lịch sử của hai cuộc chiến
tranh khốc liệt, đã thôi thúc ông viết trên mọi đường hành quân''. Trực tiếp
chiến đấu ở đơn vị bộ binh, làm chiến sĩ bảo vệ giới tuyến 17 tạm thời. Ông
không ngần ngại xông pha trên các trận mạc, trên tuyến lửa Trường Sơn ác
liệt. Nhà văn tâm sự: ''tôi là lính bảo vệ giới tuyến 17, rồi lăn lội ở tuyến lửa
Quân khu VI, đi lên từ tiểu đội trưởng, trung đội rồi trở thành đại đội trưởng.
Một năm thì có tám tháng tôi lăn lộn ở chiến trường nên xông pha chẳng kém
bất cứ một chiến sĩ chiến đấu trực tiếp nào. Tôi cảm ơn nơi vùng khói lửa đã
cho tôi dũng khí để trưởng thành, cho tôi lòng tin yêu vào con người để viết
nên những trang văn giàu lòng trắc ẩn, dù rất nhiều lần đã bước hụt chân vào
cái chết, bị thương tích đầy mình'' [28].


17
Năm 1967, ông là phóng viên báo Quân khu bốn, báo Mặt trận đường
9, báo Quân đội nhân dân. Ông viết khỏe và khá nhiều, tài năng dần dà được
khẳng định. Năm 1972, ông đã đạt giải Nhì cuộc thi viết truyện ngắn báo Văn
nghệ với truyện Mùi thơm giây cháy chậm. Ông nói: ''hồi đó biết tin mình
được giải là qua cái đài Orionton mà ông vừa đạp xe vừa đeo bên hông vừa
nghe điểm báo qua đài phát thanh. Cảm giác của ông lúc đó thật khó tả. Ông
vừa đạp xe, vừa thấy con đường phía trước rộng thênh thang và trải đầy màu
xanh của hòa bình. Ông biết chắc chắn định mệnh đã gắn ông với cây bút và
chắc chắn rằng tình yêu văn chương trong ông sẽ chẳng thể nào vơi cạn''.

tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Tiền lương của anh hàng tháng phần nhiều
anh đã giúp bà con nghèo đói ở quê, đến khi mẹ chết anh không có để lo ma
chay cho mẹ. Tiểu thuyết xoáy vào nỗi mất mát, nỗi đau của một người
lính. Họ không tài nào hòa nhập được với cuộc sống đời thường đầy đa
đoan và phức tạp bội phần. Họ chấp nhận nỗi đau là vì đồng đội vì trách
nhiệm với nhân dân.
Với thể loại kí, Cao Tiến Lê có 4 tập như sau:
- Ngược rừng ba chẽ (1976), Nxb Thanh niên
- Mùa ca cao (1982), Nxb Thanh niên
- Nửa đời ngoảnh lại (2004), Nxb Kim đồng
- Thương lắm người ơi (Truyện - kí), (2006), Nxb Quân đội
Truyện thiếu nhi có 2 tập
- Vỏ trứng thạch sùng (1995), Nxb Kim đồng
- Thoát hiểm (2000), Nxb Kim đồng
Hiện nay tác giả đang tiếp tục sáng tác bền bỉ dù tuổi đã cao và sắp cho
ra đời những tác phẩm như sau:
- Nắng trong đêm (Tiểu thuyết)
- Tiền (Truyện ngắn)
- Thư nặc danh (Truyện ngắn)
- Tưởng không bao giờ nói ra (Truyện ngắn)


20
1.3.3. Nhìn chung về truyện ngắn Cao Tiến Lê
Cao Tiến Lê tâm sự rằng: ''còn khỏe mạnh còn minh mẫn thì ông còn
suy nghĩ tới những trang viết và đó cũng là một cách trả lãi với cuộc đời''.
Truyện ngắn là một phần tiêu biểu của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Cao
Tiến Lê. Ông kể về kỉ niệm truyện ngắn đầu tay: Bức thư bị nát, sau khi viết
xong chuyện đó, ông đã chạy ra đường vẫy xe và gửi theo hòm thư ra báo
Quân đội nhân dân và được in ngay sau thời gian ngắn. Nỗi vui mừng hạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status