i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THUỶ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THÍ
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “NHIỆT
HỌC” VẬT LÍ 8 - THCS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn vật lý
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. VÕ HOÀNG NGỌC
NGHỆ AN – 2015
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp và
người thân.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Võ Hoàng Ngọc,
người thầy đã tận tình hướng dẫn cho tôi thực hiện đề tài luận văn.
Cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ở khoa Sau đại học và khoa
Vật lí - Công nghệ trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và
chỉ bảo tôi trong suốt khóa học .
Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và học sinh hai
BTTN
Bài tập thí nghiệm
BTTNVL
Bài tập thí nghiệm vật lí
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
HSG
Học sinh giỏi
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nhanh của khoa học hiện đại, yêu cầu trình độ nhân lực ngày
càng cao để phát triển kinh tế thời hội nhập đã đặt nền giáo dục Việt Nam vào
tình thế phải “Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực
tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm”. Luật Giáo dục Việt Nam 2005, điều 28,
mục 2 có ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm;
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Giáo dục phổ thông Việt
Nam đang nỗ lực thực hiện đổi mới toàn diện, đồng bộ cả về mục đích, nội
dung, phương pháp và phương tiện dạy học để đáp ứng yêu cầu đó.
Vật lý là một khoa học thực nghiệm. Để có thể tự lực tìm tòi, nhận thức
kiến thức vật lý, học sinh cần phải phát triển các thao tác tư duy vật lý, hình
thành kỹ năng làm thí nghiệm vật lý. Bài tập thí nghiệm vật lý là một phương
tiện tốt để tạo cơ hội giúp học sinh phát triển tư duy, rèn luyện các kỹ năng,
hình thành khả năng tự lực chiếm lĩnh tri thức, tự sáng tạo ra cách làm mới.
Triển khai đổi mới phương pháp dạy học, cùng với việc thay đổi chương
trình, sách giáo khoa, từ năm 2001 đến nay, các trường trung học cơ sở đã
được trang bị thêm khá nhiều thiết bị thí nghiệm vật lý. Tuy vậy, trong sách
giáo khoa, sách bài tập, số bài tập thí nghiệm vật lý chưa nhiều, mỗi chương
chỉ có một vài bài thực hành kiểm nghiệm, học sinh không có điều kiện luyện
tập thí nghiệm, các thiết bị cũng chưa phát huy hết tác dụng vào dạy học. Gần
đây đã có một số giáo viên chịu khó tìm tòi, sáng tạo thêm một số bài tập thí
nghiệm để sử dụng cho quá trình dạy học. Đã có một số đề tài luận văn thạc
sỹ giáo dục nghiên cứu theo hướng này, nhưng chủ yếu ở bậc trung học phổ
2
3
5.3. Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm chương “Nhiệt học” Vật lý 8,
đề xuất các phương án và cách thức sử dụng vào dạy học.
5.4. Thiết kế tiến trình dạy học một số bài học chương “Nhiệt học” Vật lý
8 có sử dụng hệ thống bài tập thí nghiệm .Thiết kế đề kiểm tra chất lượng dạy
học chương “Nhiệt học” Vật lý 8.
5.5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm và xử lý kết quả.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học có liên quan đến đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên Vật lý 8, các tài
liệu tham khảo, các tài liệu hướng dẫn và các văn bản quy định của Bộ
GD&ĐT có liên quan.
- Điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học
chương “Nhiệt học” Vật lý 8 ở một số trường THCS.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
- Xử lý thống kê các số liệu điều tra và thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của đề tài
7.1. Về lí luận
- Hệ thống hóa lý luận về bài tập thí nghiệm vật lý và cách thức sử dụng vào
dạy học ở bậc trung học có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh.
7.2. Về thực tiễn
- Xây dựng được hệ thống 31 bài tập thí nghiệm chương “Nhiệt học” Vật
lý 8 và cách thức sử dụng vào dạy học.
- Thiết kế được 8 giáo án dạy học một số bài học chương “Nhiệt học” Vật
lý 8 có sử dụng hệ thống bài tập thí nghiệm đã xây dựng.
động nhận thức liên tục cho người học, biến hình thức hoạt động bên ngoài
thành hình thức hoạt động bên trong. Ý thức, nhân cách của người học là sản
phẩm của giáo dục. Học là hành động của chủ thể thích ứng với các tình
huống, qua đó chủ thể chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách
cá nhân.
Có nhiều cách phân loại khác nhau về hoạt động học. Theo A.V.Petrovski có
hai kiểu phân loại chính: học ngẫu nhiên và học có chủ định [24]. Ở đây
chúng tôi bàn về hoạt động học có chủ định (còn gọi là học tập).
Theo lí thuyết hoạt động của A.N. Leonchev, nguyên lí nền tảng của
hoạt động, đó là: Bất kì hoạt động nào cũng có 4 đặc điểm cơ bản: 1. Mục
đích hoạt động học; 2. Đối tượng hoạt động; 3. Chủ thể hoạt động; 4. Hoạt
động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp (nhờ công cụ vật chất và tâm lí).
Về cấu trúc hoạt động, hoạt động chia làm 3 cấp độ: hoạt động, hành
động, thao tác. Tương ứng với chúng là: động cơ, mục đích, phương pháp và
phương tiện. Có 6 thành tố như thế cùng các mối quan hệ điều chỉnh lẫn nhau
trong quá trình hoạt động, ta có thể thấy cấu trúc vĩ mô của hoạt động như sơ
đồ 1.1.
Động cơ và hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Muốn thỏa mãn
động cơ, người học phải thực hiện những hành động bao gồm nhiều thao tác
và mỗi thao tác trong từng điều kiện, phương tiện nhất định, với những mục
đích cụ thể. Như vậy, để có được hoạt động mang tính tự giác, tích cực và lâu
dài thì đòi hỏi phải tạo được một động cơ ban đầu đúng đắn, mang tính tích
cực cao. Hoạt động nhận thức của học sinh là hoạt động của học sinh thích
ứng với tình huống, qua đó học sinh chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát
triển nhân cách cá nhân. Mỗi tri thức mới học của học sinh là sản phẩm hoạt
Hoạt
động
Động GV
cơ là tổ chức các
động xây dựng tri
hiện tượng, sự kiện,các nguyên lí hoạt động của một số dụng cụ trong thực
tiễn.
- Có ý thức tự giác cao trong học tập: tự biết nhiệm vụ của mình để
hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, không bị nhắc nhở bởi các tác nhân bên
ngoài như gia đình, bạn bè, thầy cô.
- Có tinh thần vượt qua khó khăn trong học tập về mọi mặt (điều kiện
vật chất, gia đình, thời gian, phương tiện đi lại, …)
7
- Có lòng đam mê, say mê học tập với môn học mà mình yêu thính: tìm
hiểu các sách tham khảo,nâng cao, khám phá về mọi vật ở xung quanh cuộc
sống.
- Đạt kết quả học tập tốt với sự cố gắng học tập, khám phá thế giới
không ngừng của bản thân.
1.1.3. Sự cần thiết của việc tích cực hoá hoạt động nhận thức học sinh
Đổi mới PPDH là một trong các nhiệm vụ có tính thời sự, lâu dài của
ngành giáo dục. Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết
Trung ương 4 khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII 12/1996),
được thế chế hoá trong Luật Giáo dục (02/12/1998), được cụ thể hoá trong các
chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4/1999).
Điều 28.2 của Luật Giáo dục (14/6/2005) đã ghi: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương
pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS,
tập trung vào việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên
không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Như
vậy, rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng
1.1.4.2. GV phải tăng cường sử dụng phương pháp vấn đáp.
Vấn đáp tạo ra quá trình tương tác giữa GV và HS, được thể hiện thông
qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề mà GV đặt ra.
Qua việc trả lời hệ thống câu hỏi dẫn dắt của GV, HS thể hiện được suy nghĩ,
ý tưởng của mình, từ đó khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập. Vấn
đáp là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của HS, dạy HS cách tự suy
nghĩ đúng đắn. Bằng cách này, HS hiểu nội dung học tập hơn là học vẹt, học
thuộc lòng. Vấn đáp gợi mở lôi cuốn HS tham gia vào bài học, làm cho không
khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của
HS, rèn luyện cho HS năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn
đạt của người khác.
1.1.4.3. GV nên gia tăng tổ chức dạy học theo phương pháp nhóm nhỏ.
Dạy học theo nhóm nhỏ HS học được cách cộng tác trên nhiều phương diện.
HS được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong
nhóm, trong lớp, được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải
9
tối ưu cho nhiệm vụ được giao. Học theo nhóm, kiến thức của HS sẽ bớt phần chủ
quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS
được rèn luyện và phát triển. Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn
khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của mình, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ
mới và học hỏi lẫn nhau. Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ
nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham
gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra. HS hào hứng khi có sự đóng góp của mình
vào thành công chung của cả lớp. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc
biệt là những em nhút nhát trở nên mạnh dạn hơn; các em học được cách trình bày
ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn, từ đó giúp HS dễ hoà
nhập vào cộng đồng nhóm tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và
sinh hoạt. Từ đó, vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của HS thêm phong phú; kĩ
thông qua một số biện pháp khác để tác động vào tâm lý HS như:
- Thái độ thân thiện, dễ gần, dễ trao đổi, chia sẻ giữa GV và HS.
- Tạo bầu không khí thi đua học tập trong tập thể lớp HS.
- Động viên, khen thưởng HS khi có thành tích học tập tốt.
- Kiểm tra thường xuyên để đánh giá, nhắc nhở trách nhiệm HS.
1.2. Bài tập thí nghiệm vật lý
1.2.1. Khái niệm BTTNVL
BTTN là những bài tập mà việc giải nó đòi hỏi phải tiến hành thí nghiệm
hoặc phải vận dụng kỹ năng thực hành. BTTN vừa mang đặc trưng của bài
tập vừa mang đặc trưng của thí nghiệm, nó có tác dụng trong việc đào sâu,
củng cố kiến thức và bồi dưỡng kỹ năng thực hành cho HS trong dạy học vật
lí. [16]
BTTN có nhiều tác động tốt về cả ba mặt: giáo dưỡng, giáo dục và giáo
dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt là làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí thuyết và
thực tiễn. Giải BTTN là một hình thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng
học tập, tăng cường hứng thú, gắn học với hành, lí luận với thực tiễn. Vì vậy,
nếu sử dụng BTTN một cách hợp lí thì có thể đạt được mục đích kích thích
tính tích cực, tự lực, phát triển óc sáng tạo,đồng thời bộc lộ rõ hơn khả năng
sở trường, sở thích về vật lí của mỗi HS.
1.2.2. Phân loại BTTNVL
Có nhiều cách phân loại BTTNVL tùy vào đặc điểm của bài tập. Căn cứ
BTTN
Vật lí
vào độ khó và phương thức giải, ta có
thể phân
loại BTTNVL như sơ đồ 1.2.
BTTN định tính
Làm thí nghiệm, quan
sát, mô tả, giải thích
đó ?”; “Hiện tượng đó tuân theo quy luật nào ?” …
Ví dụ: Lấy một cốc nước đầy và một thìa con muối tinh. Hãy cho muối
dần dần vào cốc nước cho đến khi hết thìa muối và quan sát. Hiện tượng đã
xảy ra như thế nào ? Giải thích hiện tượng ?
Tác dụng: Rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm,tính kiên trì khi thực hiện
các thao tác thí nghiệm, khả năng quan sát phát hiện vấn đề, gắn lý thuyết với
thực tiễn, do đó khắc sâu kiến thức bồi dưỡng khả năng tự học và hứng thú
môn học, đồng thời điều chỉnh các quan niệm sai lầm về kiến thức.
- BTTN thiết kế phương án thí nghiệm: Đây là loại bài tập phổ biến nhất
vì thí nghiệm được tiến hành trong tư duy, phù hợp với điều kiện thời gian ít,
thiết bị hạn chế. Bài tập này yêu cầu HS căn cứ vào yêu cầu của bài toán, vận
dụng các định luật một cách hợp lý, thiết kế phương án thí nghiệm để đo đạc
một đại lượng vật lí nào đó, xác định sự phụ thuộc nào đó giữa các thông số
12
vật lí. Câu hỏi của loại bài tập này thường là: “Làm thế nào để đo được…..
với các thiết bị…?”, “Hãy tìm cách xác định đại lượng.… với các thiết
bị…..?”, “Nêu phương án đo … với các dụng cụ ….?”, “Nêu các phương án
đo …. ?”
Ví dụ: Hãy trình bày một phương án xác định nhiệt dung riêng của một
chất lỏng L không phản ứng hoá học với các chất khi tiếp xúc. Dụng cụ gồm:
1 nhiệt lượng kế có nhiệt dung riêng là là C K, nước có nhiệt dung riêng là CN,
1 nhiệt kế, 1 cân Rôbecvan không có bộ quả cân, hai chiếc cốc giống hệt nhau
(cốc có thể chứa khối lượng nước hoặc khối lượng chất lỏng L lớn hơn khối
lượng của nhiệt lượng kế), bình đun và bếp đun.
Tác dụng: Kích thích và phát huy các hoạt động tích cực, tự lực thiết kế, hình
thành trực giác khoa học cho HS, bồi dưỡng tư duy lí thuyết và tư duy tiền thực
nghiệm đồng thời phát triển tư duy sáng tạo cho HS.
1.2.2.2. BTTNVL định lượng
của sắt.
- Mức độ thứ ba: Cho dụng cụ: vài quả nặng bằng sắt, dây mảnh, cốc
thủy tinh, bình nước, cân Robecvan, đèn cồn, bếp điện, giá thí nghiệm, nhiệt
lượng kế, nhiệt kế, biết nước có c = 4190J/kg. 0C. Hãy tự chọn dụng cụ, xác
định cách làm thí nghiệm, tự tiến hành để xác định nhiệt dung riêng của sắt.
1.2.3. Phương pháp hướng dẫn HS giải BTTNVL
BTTNVL là một loại bài tập vật lý nên việc giải BTTNVL cũng có các
bước cơ bản như giải một bài tập vật lý: Tìm hiểu, phân tích đề bài, xác định
cái cần tìm, cái đã biết; Xác định mối liên hệ giữa cái đã biết với cái cần tìm;
Xác định thứ tự các bước giải quyết vấn đề; Tiến hành giải quyết vấn đề tìm
ra kết quả; Nhận xét, biện luận, trả lời.
Tuy nhiên BTTNVL khi giải phải làm thí nghiệm hoặc tối thiểu cũng
phải thiết kế phương án thí nghiệm nên phương pháp giải có những nét riêng.
Điểm khác biệt cơ bản của BTTNVL là khi giải không chỉ giải quyết bài toán
vật lý về lý thuyết mà phải thực hiện thêm toàn bộ hoặc một số việc sau: chọn
dụng cụ thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ, tiến
hành thí nghiệm, quan sát,thu thập số liệu, xử lý kết quả thu được. Do vậy,
14
giải BTTNVL phức tạp hơn, rất cần ở HS kỹ năng làm thí nghiệm và GV
cũng cần phải sử dụng thêm tranh ảnh, phương tiện trình chiếu hỗ trợ hướng
dẫn HS làm thí nghiệm.[13]
Trước khi hướng dẫn HS làm BTTNVL tự GV phải trả lời được câu hỏi
“Bài tập thí nghiệm này thuộc dạng nào ?” Mỗi dạng có mục đích thí nghiệm,
cách thức thực hiện, phương tiện thực hiện khác nhau, do đó cách hướng dẫn
HS giải BTTN cũng khác nhau. [13]
1.2.3.1. Dạng 1: Làm thí nghiệm, quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng, quá
trình
- Mục đích thí nghiệm: Quan sát, ghi nhận được hiện tượng, quá trình vật
thời điểm, vị trí hoặc tập hợp giá trị của một đại lượng vật lý trong một quá
trình vật lý nào đó.
- Cách thức tiến hành: Lập hoặc tìm hiểu phương án; Lắp ráp dụng cụ,
vật liệu, dụng cụ đo; Có thể phải tác động để quá trình vật lý xảy ra; Đo đạc
đại lượng vật lý cần đo; Xử lý kết quả, kết luận giá trị hoặc tập hợp giá trị cần
đo.
- Phương tiện thực hiện: Dụng cụ, vật liệu thí nghiệm; Dụng cụ đo đại
lượng vật lý; Phương tiện ghi nhận kết quả đo.
Hướng dẫn HS giải bài tập dạng này GV phải vấn đáp, lưu ý HS: [13]
- Cần phải đo đại lượng nào ? tại vị trí nào ? trong khoảng thời gian
nào ?
- Dụng cụ đo là gì ? Giới hạn đo, độ chia nhỏ nhất thế nào là phù hợp ?
Cách đo đại lượng tại thời điểm, trong quá trình ?
- Cách xử lý các kết quả đo được như thế nào ?
- Cách phân công, phối hợp thực hiện trong nhóm HS ?
1.2.3.4. Dạng 4: Khảo sát, kiểm chứng quan hệ định lượng vật lí
- Mục đích thí nghiệm: Xác lập mới hoặc kiểm tra lại mối quan hệ định
lượng giữa hai hay một số đại lượng vật lý.
- Cách thức tiến hành: Lập hoặc tìm hiểu phương án; Lắp ráp dụng cụ,
vật liệu thí nghiệm, các dụng cụ đo; Tác động để hiện tượng, quá trình xảy ra;
16
Đo đạc các đại lượng vật lý cần xác định hay kiểm tra lại mối quan hệ phụ
thuộc; Xử lý số liệu, phân tích, so sánh, xác định hoặc khẳng định mối quan
hệ phụ thuộc giữa hai hay một số đại lượng vật lý.
- Phương tiện thực hiện: Dụng cụ, vật liệu thí nghiệm; Các dụng cụ đo đại
lượng vật lý; Phương tiện ghi nhận kết quả đo.
Hướng dẫn HS giải bài tập dạng này GV phải vấn đáp, lưu ý HS: [13]
- Cần phải xác định mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý nào ? Trong
không tràn ra ngoài. Có hiện tượng đó là do giữa các phân tử nước có khoảng
cách, các phân tử muối đã len vào các khoảng cách đó”.
Ta chuyển thành BTTNVL: “Lấy một cốc nước đầy và một thìa con muối
tinh. Hãy cho muối dần dần vào nước mỗi giây 1 hạt cho đến khi hết thìa muối
và quan sát. Hiện tượng xảy ra như thế nào ? Giải thích hiện tượng ?”
1.2.4.2. Lựa chọn các bài tập có nội dung liên quan đến thực hành, thí
nghiệm trong SGK, sách bài tập, sách tham khảo biên soạn lại thành BTTN.
Ví dụ: Sách Bài tập vật lí 8 của Đoàn Ngọc Căn có bài “Tại sao quả bóng
bàn bị bẹp nhưng không bị nứt, được nhúng vào nước nóng lại có thể phồng
lên như cũ ?” Bài tập này có thể biên soạn lại thành các BTTN như sau:
“Có một quả bóng bàn bị bẹp nhưng không bị nứt, một cái cốc và một
phích nước nóng. Hãy nêu cách làm để quả bóng bàn có thể phồng lên như
cũ ?”.
“Cho một quả bóng bàn bị bẹp, nhưng không bị nứt, một cái cốc và một
phích nước nóng. Hãy suy nghĩ tìm ra cách làm để làm cho quả bóng bàn
phồng lên như cũ và tiến hành làm thử để kiểm tra kết quả ?”.
“Cho một quả bóng bàn bị bẹp, nhưng không bị nứt, một cái cốc và một
phích nước nóng. Hãy rót nước nóng vào cốc, bỏ quả bóng bàn vào cốc nước
nóng. Quan sát hiện tượng và giải thích ?”.
“Có một quả bóng bàn bị bẹp nhưng không bị nứt, hãy tìm thêm các dụng
cụ, vật liệu và nêu cách làm để cho quả bóng bàn có thể phồng lên như cũ ?”.
1.2.4.3. Tự nghiên cứu và xây dựng thêm các BTTN.
GV có thể chuyển hóa một số hiện tượng thường gặp, quan sát được
trong thực tế đời sống thành BTTNVL để sử dụng vào quá trình dạy học.
18
Ví dụ: Thực tế: Vào thời tiết lạnh giá muốn có nước ấm để uống ta
thường rót nước lạnh vào nửa cốc, rồi rót tiếp nước nóng từ trong phích vào
cốc đó đến 3/4 cốc. Khi đó ta có nước ấm để uống vào khoảng 370C - 400C.
công thức vật lý, GV có thể sử dụng một số BTTN có dụng cụ đơn giản, tốn ít
thời gian, yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, quan sát, vận dụng giải thích.
- Trong tiết thực hành, GV phải giao cho HS các BTTN có nhiều dụng
cụ, nội dung phức tạp, có quan sát hiện tượng, đo đạc các đại lượng, xử lý
nhiều số liệu, buộc HS phải vận dụng phối hợp nhiều kiến thức, kỹ năng để
giải quyết, qua đó củng cố tổng hợp các kiến thức, rèn luyện phối hợp các kỹ
năng thực hành, thí nghiệm, lý giải, trình bày kết quả, …
- Trong tiết ôn tập, hệ thống hóa, GV chỉ nên sử dụng vài BTTN tương
tự với BTTN đã làm, có dụng cụ đơn giản, tốn ít thời gian, yêu cầu HS làm thí
nghiệm, quan sát, giải thích.
1.3.3. Sử dụng BTTNVL làm bài tập tự giải ở nhà
BTTN tự giải ở nhà được sử dụng trong các trường hợp:
- Số bài tập quá nhiều, thời gian các tiết trên lớp không đủ để giải quyết.
- Một số BTTN cần có thời gian rất dài để chuẩn bị và tiến hành.
- Các BTTN khó dành riêng cho các HS khá, giỏi đam mê bộ môn.
BTTN tự làm ở nhà cần phải thỏa mãn điều kiện: dụng cụ, vật liệu rẻ
tiền, vật liệu tận dụng, HS có thể tự tìm kiếm, tự mua được dễ dàng.
BTTN ở nhà dành cho đa số HS nên chọn BTTN có nội dung đơn giản,
cách giải lặp lại theo mẫu đã biết hoặc HS đã từng thực hiện.
BTTN ở nhà cho HS khá, giỏi đam mê bộ môn nên chọn BTTN nội dung
phức tạp hơn, đòi hỏi sáng tạo cách làm. Tuy vậy, GV cần phải có gợi ý,
hướng dẫn tìm tòi một phần (HS khá, giỏi), hướng dẫn khái quát (HS giỏi) để
HS thiết kế phương án, hướng dẫn, hỗ trợ HS tìm kiếm dụng cụ, vật liệu, …
1.3.4. Sử dụng BTTNVL trong các tiết ngoại khoá
GV vật lý nên tổ chức hoạt động ngoại khóa, giúp HS vận dụng các kiến
thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, tăng niềm tin, sự hứng khởi
học tập của HS. Có thể tổ chức riêng buổi ngoại khóa Vật lý, cũng có thể tổ
chức buổi phối hợp với các bộ môn Hóa học, Sinh học, … có thể kết hợp
trong tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ngoại khóa vật lý thường sử dụng các
bài tập định tính dưới dạng các câu đố, giải thích hiện tượng tưởng như “khác
- Tự chọn dụng cụ, lập phương án, tự tiến hành thí nghiệm, quan sát, đo
đạc, xử lý kết quả để rút ra kết luận về một quá trình vật lý, xác định một mối
quan hệ, hay kiểm nghiệm một quan hệ đã biết giữa các đại lượng.