Thiết kế giếng khoan khai thác cho cấu tạo Đông bắc mỏ rồng Bồn trũng cửu long - Pdf 33

Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA CHẤT
------oOo------
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ
THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN
KHAI THÁC CHO CẤU TẠO
ĐÔNG BẮC MỎ RỒNG
BỒN TRŨNG CỬU LONG
GVHD : TH.S PHAN VĂN KÔNG
SVTH : HẠ NGUYÊN VŨ
NIÊN KHÓA 2000 - 2004
TP. HỒ CHÍ MINH 7 / 2004
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 1
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ tận tình chu đáo của qúi thầy cô khoa Đòa Chất trường
Đại học Khoa học Tự nhiên, sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn và nguồn động
viên to lớn của gia đình sau cùng bài tiểu luận của em trên cơ bản cũng đã hoàn
thành. Do thiếu kinh nghiệm thực tế và kiến thức chuyên môn có hạn nên sẽ
không khỏi có thiếu sót trong bài báo cáo nên em rất mong có sự đóng góp ý
kiến chân thành từ qúi thấy cô. Các ý kiến đóng góp này em xin ghi nhận tất cả
và sẽ lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mình.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến qúi thầy cô, gia đình
và các bạn.
 Em xin cảm ơn thầy Th.S Phan Văn Kông đã tận tụy giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận này.

3.2 Biện luận thông số tính và trữ lượng đòa chất ban đầu các thân dầu………….43
3.3 Tính tóan chỉ số công nghệ khai thác…………………………………………………………………….50
3.4 Biện luận số lượng, vò trí giếng và các công trình biển phát triển mỏ……115
3.5 Kết luận và kiến nghò………………………………………………………………………………………………..224
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………………………….225
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 3
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
NHẬP ĐỀ
Trong những năm gần đây dầu thô đã trở thành sản phẩm suất khẩu
đứng đầu của nước ta. Mặc dù là một ngành khá non trẻ nhưng nó đã không
ngừng phát triển và đạt được những thành công to lớn. Sự thành công đó thể
hiện rõ hơn khi hàng loạt các mỏ mới được phát hiện, khí đồng hành trước kia bò
loại bỏ thì nay cũng đã được đưa vào sử dụng, khai thác. Thành công to lớn đó
sẽ không thể có nếu thiếu đi các công tác thăm dò cơ bản tìm kiếm các tích tụ
dầu khí. Ngành dầu khí đòi hỏi cần có các máy móc chuyên dụng hiện đại cũng
như đội ngũ kó sư, cử nhân và các chuyên gia lành nghề. Để đáp ứng chủ trương
lớn của Đảng và nhà nước trong công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất
nước trường Đại học Khoa học Tự nhiên nói chung, bộ môn Đòa Chất Dầu Khí,
q thầy cô và chúng em nói riêng đã không ngừng đào tạo học tập miệt mài
nhằm cập nhật thông tin, kiến thức cơ bản cần thiết góp phần xây dựng đất nước
giàu mạnh.
Chính vì lẽ đó mà em đã nhận đề tài:” Thiết kế giếng khoan khai thác
cho cấu tạo Đông Bắc Rồng” để làm tiểu luận ra trường.
Mục đích chính của đề tài này là:
 Dựa vào kết quả tìm kiếm thăm dò đòa chất, đặc tính thấm chứa
các tầng sản phẩm dự báo khả năng chứa dầu và tiềm năng khu vực.
 Biện luận các thông số tính toán trữ lượng các thân dầu.
 Thiết kế, dự báo khả năng khai thác các thân dầu vùng Đông Bắc
Rồng.

Năng lượng tạo ra từ các động cơ đốt trong dùng để khoan, các xí nghiệp
trên bờ dùng điện từ đường dây 35 KV từ TP.HCM qua nhà máy phát điện Phú
Mỹ và Bà Ròa. Nước sinh hoạt cung cấp từ bờ bằng tàu chuyên dụng còn nước
kỹ thuật thì từ giếng khoan tại chỗ.
Cấu tạo Rồng là phần kéo dài về phía Tây Nam của đới nâng trung tâm
bồn trũng Cửu Long, móng và các lớp bò băm nát bởi hàng loạt đứt gãy á kinh
tuyến và vó tuyến. Biển ở vùng mỏ có độ sâu từ 25 – 55m. Nhiệt độ nước thay
đổi từ 24.9
o
C đến 29
o
C. Nồng độ muối trong nước từ 33 – 35g/l. Khí hậu của
vùng mỏ là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông (tháng 11 – 3) chủ yếu là gió
mùa Đông Bắc, các cơn gió mạnh cực đại vào tháng 12 và tháng 1. Gió thổi mùa
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 6
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
Đông xác đònh hướng sóng biển (TB và B – TB) chiều cao sóng có thể lên đến
8m. Nhiệt độ không khí mùa Đông từ 24
o
C – 27
o
C về đêm và buổi sáng. Mưa ít
và thời kỳ gió mùa Đông Bắc (0.07mm vào tháng 2 là tháng khô nhất), độ ẩm
tương đối của không khí tối thiểu là 65%.
Trong mùa chuyển tiếp (tháng 4 – 5) các khối khí dòch chuyển từ Bắc
xuống Nam. Dần dần gió hướng Tây Nam từ vùng xích đạo chiếm ưu thế. Gió
này xác đònh mức tăng độ ẩm không khí mặc dù lượng mưa rơi vẫn chưa lớn và
đều đặn. Nhiệt độ không khí từ 25
o

Ritte.
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 7
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
Điều kiện đòa chất công trình các trầm tích đáy đa dạng theo số liệu
khảo sát đòa chấn công trình ở phần Nam mỏ, khoảng 6 – 8m từ bề mặt đáy gặp
nhiều thấu kính bùn, đất sét chảy. Ngược lại ở nửa Bắc mỏ không phát hiện các
điều kiện đòa chất công trình không thuận lợi. Phần trên lát cắt đòa chất là á sét
nửa cứng có độ bền cao. Nhìn chung trước khi xây dựng công trình biển, lắp đặt
các giàn khoan tự nâng cần tiến hành các công tác khảo sát đòa chất công trình.
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT:
Mỏ Rồng thuộc bồn trũng Cửu Long, về lòch sử nghiên cứu nhìn chung
gồm năm giai đoạn:
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1975:
Vào những năm đầu của thập kỷ 60 đã có những dự đoán khả quan về
tiềm năng dầu khí ở khu bồn trũng, nó đã trở thành đối tượng tìm kiếm dầu khí
của 1 số công ty nước ngoài.
Từ năm 1960 – 1970 công ty Mandrel đã đo đòa vật lý thềm lục đòa phía
Nam với mạng lưới tuyến khảo sát là 39km x 50km.
Năm 1974 công ty Petty Ray tiến hành nghiên cứu đòa vật lý với mạng
lưới tuyến 2km x 2km trên khu vực lô số 09. Đầu năm 1975, công ty Mobil Oil
đã khoan giếng BH-1X trên cấu tạo Bạch Hổ, khi thử vỉa tầng Mioxen hạ đã thu
được dòng dầu công nghiệp đầu tiên với lưu lượng 2400 thùng/ngày đêm.
1.2.2 Giai đoạn 1975 -1980:
Năm 1976 công ty Pháp đã tiến hành đo đòa vật lý theo mạng lưới tuyến
khu vực và liên kết đòa chất lô số 9, 16, 17 vào khu vực đồng bằng sông Cửu
Long.
Năm 1978 công ty Geco của Nauy tiến hành đo đòa vật lý với mạng lưới
tuyến khảo sát 8km x 8km, 4km x 4km và tiếp tục khảo sát chi tiết với mạng lưới
dày hơn là 2km x 2km, 1km x 1km ở lô 09, 16.

Dựa vào dữ liệu khoan, đòa chấn bổ sung để hiệu chỉnh các giếng khác
tiếp theo nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Năm 1992 gần khu vực giếng R9 đã
xây dựng giàn khai thác cố đònh RP-1, từ giàn khoan đã khoan giếng thăm dò
R101 và giếng khai thác R11. Trong đó 2 giếng R116 và R109 có nhiệm vụ
thăm dò chi tiết. Chúng đã khoan vào móng và xác đònh được là đá móng có
chứa nước. Trên kết quả của R3 và R6 đã xây dựng giàn nhẹ RC-1 trên khu
Đông Bắc nhằm thăm dò chi tiết khai thác thử công nghiệp vỉa dầu trong
Mioxen và Oligoxen.
Năm 1993 được đánh dấu bằng việc mở thêm 2 mỏ mới là Đông Rồng
(1993) và Đông Nam Rồng (1995) với giếng mở mỏ tương ứng là R11 và R14.
Tại Đông Nam Rồng khi triển khai “ Đề án thăm dò chi tiết và khai thác thử
công nghiệp khu giếng khoan R14” thì đã xây dựng giàn nhẹ RC-2 năm 1995.
Từ RC-2 khoan thêm giếng khoan thăm dò R21 và giếng khoan khai thác RC-2-
01. Kết quả của 2 giếng này đã khẳng đònh giá trò công nghiệp của mỏ.
1.2.5 Giai đoạn từ 1995 đến nay:
Khai thác dầu được thực hiện đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ ngày 26/06/1996
cho đến nay có thêm 2 mỏ dầu được đưa vào khai thác là mỏ Rạng Đông tháng
8/1998, mỏ Rubi tháng 10/1998. Tổng số lượng khai thác đến 31/12/1999 là 78.3
triệu tấn và đã đưa khí đồng hành ở mỏ Bạch Hổ vào bờ sử dụng cho phát điện
khoảng 3.5 tỉ m
3
.
Năm 1997 từ khối chân đế RP-2 đã kết thúc khoan giếng thăm dò R18
trên mỏ Đông Rồng, thử vỉa đã nhận được dòng dầu công nghiệp từ Oligoxen hạ
còn móng thì hầu như khô.
Với khoảng 100 giếng khai thác dầu từ đá móng mỏ Bạch Hổ, Rồng,
Rạng Đông, Rubi cho lưu lượng hàng trăm tấn/ngày đêm, có giếng trên 1000
tấn/ngày đêm. Khẳng đònh đá móng phong hóa nứt nẻ có tiềm năng dầu khí lớn
(60% trọng lượng, tiềm năng bồn) là đối tượng nghiên cứu chính cần quan tâm
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 10

trúc đòa phương bậc 3 và 4. Chúng được giới hạn bởi các đứt gãy theo hướng
Đông Bắc – Tây Nam gồm các đơn vò cấu trúc chính sau:
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 12
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
1.4.1 Khối Tây Nam:
Là một cấu trúc dạng mũi trong đó phần Tây Nam của nó gắn liền với
dải nâng Côn Sơn. Trên bản đồ cấu trúc mặt móng được thể hiện bằng các
đường đẳng trò từ 1400 – 3400m. Tại phần nâng cao hoàn toàn vắng mặt trầm
tích Oligoxen, còn trầm tích Mioxen hạ ở đây rất mỏng. Khả năng tìm thấy dầu
khí trong móng và trong trầm tích Mioxen hạ là rất thấp vì xa trung tâm bồn và
tầng chắn không bảo đảm.
1.4.2 Khối nâng trung tâm:
Chiều dài khối khoảng 15km, rộng 3 -4km. Trên khối đã khoan hai
giếng thăm dò R-1 và R-9. Trầm tích Oligoxen trên khối này dày khoảng 120 –
130m, trong đó trầm tích điệp Trà Tân hầu như vắng mặt. Khối trung tâm được
giới hạn bởi các đứt gãy về ba phía: Bắc, Nam và Tây. Còn cánh phía Đông thì
nghiêng dần về trục lõm của trũng phía Đông. Trên cánh phía Đông có vài đứt
gãy biên độ nhỏ. Trên mặt móng, đứt gãy cánh phía Tây và cánh phía Nam có
biên độ trên dưới 200m, còn biên độ đứt gãy cánh Bắc khoảng 200 – 300m. Các
giếng khoan trong khối này đã phát hiện dầu trong Mioxen hạ. Nếu xét về vò trí
thì dầu ở đây nằm cao nhất trong số các giếng khoan đã gặp dầu ở bể Cửu Long.
1.4.3 Khối nâng Đông Bắc:
Có chiều dài khoảng 8km rộng 3 – 4km. Khối có dạng đòa lũy hai bậc
với hướng trục Bắc – Đông Bắc, Nam – Tây Nam. Đứt gãy thuận giới hạn phần
phía Tây của khối với biên độ 300 – 700m. Còn phía Đông hai đứt gãy thuận tạo
thành hai bậc (mặt móng) có biên độ tương ứng là 200 – 400m. Trầm tích
Oligoxen trên đòa lũy này dày 500 – 700m, còn trầm tích Mioxen hạ dày 600
-800m. Trên khối đã khoan hai giếng R-3 và R-6. Đặc biệt ngoài đối tượng cát
kết Mioxen hạ chứa dầu (theo kết quả thử vỉa tầng 23, 24) còn phát hiện thân

Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 14
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
1.4.7 Trũng phía Đông:
Ở khu vực mỏ Rồng trũng phía Đông thu hẹp dần kích thước ngang từ
10km trên đường cắt ngang giếng xuống còn 4 – 6km ở phía Nam. Trũng này có
cấu trúc như một đòa hào và bán đòa hào. Chiều sâu lớn nhất đến mặt móng đạt
cỡ 5300 -5350m, trầm tích Oligoxen ở phần sụp lún sâu nhất có thể đạt 2000m.
Trừ vài ranh giới phản xạ liên tục thì hầu hết lát cắt đòa chấn ở phần lõm nhất
đều không phân dò, điều này chứng tỏ trầm tích sét ở đây khá dày và đồng nhất.
Kết quả phân tích đòa hóa ở đây cho thấy tiềm năng sinh dầu ở đây rất lớn.
1.4.8 Đới phân dò sườn phía Đông:
Trong giai đoạn tách giãn chính xảy ra trong suốt Oligoxen thượng đã
làm móng cổ Mezozoi bò hủy hoại bởi đứt gãy. Các móng bò phân cắt này chòu
tác động sụp lún ở những cấp độ khác nhau tạo nên đới phân dò nằm ở sườn Tây
Bắc khối nâng Côn Sơn hiện nay. Tại đới này trầm tích Oligoxen chủ yếu là sét
khá dày.
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 15
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
CHƯƠNG II
CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT, KHẢ NĂNG CHỨA
DẦU, TRỮ LƯNG VÀ TIỀM NĂNG KHU VỰC
2.1 KẾT QỦA CÔNG TÁC TÌM KIẾM THĂM DÒ ĐỊA
CHẤT VÀ CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
2.2 CÁC ĐẶC TÍNH VẬT LÍ, TRẦM TÍCH, THẠCH HỌC
CỦA ĐÁ CHỨA VÀ ĐÁ CHẮN CÁC TẦNG SẢN
PHẨM
2.3 TÍNH CHẤT DẦU, KHÍ VÀ NƯỚC
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 16

tiến hành lại 3 – 4 lần.
p suất đáy đo bằng áp kế đo sâu của hãng Kaster và Amerada với giới
hạn đo tới 600 Kg/cm
3
và chính xác tới 0.25 – 0.6% giới hạn đo.
Đo lưu lượng với dòng dầu tự phun dầu, nước, khí bằng thiết bò đo lưu
lượng tự động. Với dầu lưu lượng đo sau bình tách và được đun 80
o
C, trường hợp
không đủ áp lực cho chất lưu qua hai bình tách thì đo lưu lượng chất lỏng bằng
bồn đo. Dòng không tự phun được tính trung bình theo các điểm từ đầu đường
dòng đến điểm giảm dòng đột ngột.
Lấy mẫu chất lưu là công việc không thể tách rời công tác thử vỉa.
B/ Xử lý và tổng hợp kết quả nghiên cứu:
Sau khi kết thúc thử các đơn vò tiến hành công tác xử lý và tổng hợp kết
quả nghiên cứu, trên cơ sở số liệu thu được trong khi thử, bộ phận nghiên cứu
thủy động lực xử lý và xác đònh thông số vỉa cần thiết như: độ thấm, độ dẫn
thủy, hệ số sản phẩm.
Tổng kết có 25 giếng tự phun, 18 giếng có dòng dầu yếu, 35 đối tượng
chứa nước, 16 đối tượng khô. Trên cơ sở kết quả đo nhiệt độ vỉa ta thấy mối
quan hệ giữa nhiệt độ và độ sâu theo phương trình sau:
T vỉa = 21 + 0.0289H
- H là chiều sâu từ đáy biển
- Gradien nhiệt độ -2.89
o
C/100m
Nhìn chung kết quả thử giếng chủ yếu phản ánh đặc trưng chứa cho
khoảng vỉa thử, còn giá trò thông số chứa, thấm chỉ mang tính bán đònh lượng.
Các khoảng thử trong lát cắt trầm tích thường nhiều vỉa sản phẩm nên
thông số vỉa thường không đặc trưng cho một vỉa cụ thể nào.

Hoạt động Magma có ảnh hưởng nhất đònh đến kiến tạo khu vực, đặc
biệt vào thời kỳ Kainozoi muộn. Bồn trũng Cửu Long có chiều dài khoảng
500km và rộng 150km. Bồn được lắp đầy bởi trầm tích lục đòa, delta. Chiều dày
trầm tích Kainozoi trong bồn đạt tới 7 – 8km.
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 19
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
Theo tài liệu giếng khoan, mẫu lõi, mẫu vụn, các số liệu đòa vật lý giếng
khoan và kết quả minh giải tài liệu đòa chấn 3 chiều cho phép ta xác đònh được cấu
trúc mỏ Rồng phân thành đới kiến tạo bậc II với phương trải Đông Bắc. Tiếp đến
các đơn vò kiến tạo bậc II bò phức tạp bởi cấu tạo bậc III và nhỏ hơn là bậc IV. Các
cấu tạo bậc II, III và đôi khi bậc IV thường bò giới hạn bởi đứt gãy kiến tạo biên độ
lớn và liên quan khối nâng móng.
Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác thử cho thấy khu vực mỏ
Rồng có nhiều tiềm năng chứa dầu khí nhưng đặc trưng bởi cấu ttrúc đòa chất hết
sức phức tạp.
Trên cơ sở kiến tạo và phân bố các tích tụ dầu khí mỏ Rồng được phân
chia ra các khu vực sau:
 Khu vực đới nâng trung tâm.
 Khu vực đới nâng Đông Bắc bao gồm khối nâng cấu tạo bậc III
và các đơn nghiêng.
 Khu vực đới nâng Đông Nam bao gồm khối nâng bậc III và mũi
cấu tạo cùng bậc.
 Khu vực Tây Bắc bao gồm cánh sụt nghiêng Tây Bắc và mũi
cấu tạo.
Theo số liệu khoan và thăm dò đòa chấn trong vùng nghiên cứu đã phân
đònh được bất chỉnh hợp đòa tầng. Các bất chỉnh hợp đều tương ứng với các mặt
phản xạ đòa chấn và cụ thể là: mặt móng trước Kainozoi – móng âm học, nóc điệp
Trà Tân dưới – tầng đòa chấn 10 (SH10), nóc Oligoxen trên SH8 và nóc Mioxen
dưới SH3.

(m)
Chiều
dày TB
(m)
1 2 3 4 5 6 7 8 9
Biển
Đông
(N+Q4)
0-540
0-527
527 0-655
0-622
623 0-579
0-566
566 0-643
0-605
605
Đồng
Nai(N
1
3
)
540-1360
527-1347
820 655-1447
655-1414
792 579-1382
566-1369
803 643-1461
605-1374

(P
3
2
)
3096-3365
3083-3352
269 2860-3190
2827-3157
330 2830-3320
2817-3307
490 3020-3420
2865-3263
398
Trà Cú
(P
3
1
)
3365-3520
3352-3507
155 3190-3341
3157-3308
151 3320-3546
3307-3533
226 3420-3590
3263-3433
170
Móng
trước KZ
3520-3563

Dạng gơnai
90±3 Creta muộn
(K
2
)
R7 3702.3/3685.3 Diorit hocblend 170±5 Jura giữa (J
2
)
R8 3685 Granit gơnai biotit 111±4 Creta muộn
(K
1
)
B thành tạo trầm tích Kainozoi:
Trầm tích Kainozoi với bất chỉnh hợp góc, đòa tầng nằm trên đá móng
kết tinh. Thành tạo trầm tích Kainozoi là trầm tích tướng ven biển, vùng đầm
hồ, châu thổ, ven châu thổ và tiền châu thổ lẫn vật liệu núi lửa.
Trên cơ sở nghiên cứu hoá thạch và bào tử phấn, mẫu lõi, mẫu bùn, kết
quả đòa chấn, biểu đồ carota. Các thành tạo trầm tích mỏ Rồng chia thành
Paleoxen, Neoxen, Oligoxen các thành tạo Đệ Tứ. Chiều dài lớp phủ trầm tích
từ 2500m ở vòm cấu tạo đến 4300m ở phần lún cánh.
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 22
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn
Kông
B1 Trầm tích Paleoxen:
a/ Phụ thống Oligoxen hạ- điệp Trà Cú (P
3
1
tc)
Trầm tích điệp Trà Cú phát hiện ở giếng R3, R6. Phần trên lát cắt điệp
Trà Cú bao gồm các tập sét kết có chiều dày 40m. Theo mẫu vụn và carota, sét

gặp đá phun trào.
 Tập giữa lát cắt đặc trưng bởi sét kết màu đen, nâu đen với các
xen lớp cát kết mỏng. Thành tạo phun trào thấy ở giếng khoan R6, ở vòm trung
tâm có mặt thành tạo này. Phần rìa có thể dày 200m – 300m.
 Tập trên lát cắt gồm cát kết và sét kết cấu tạo khối xen kẽ phiến
xanh xám. Cát kết dạng khối có thấy lớp kẹp sỏi đơn lẻ. Độ mài tròn, lựa chọn
trung bình và tốt. Chiều dày tập 125m. Sét kết bò biến đổi phần dưới, bột kết
arkose bò biến đổi phần trên. Đá núi lửa, sét kết chứa xi măng Kaolinit, thủy
mica đôi khi có serixit. Trầm tích thuộc tướng sườn tích và đầm hồ với sự biến
tướng mạnh.
B2 Trầm tích Neoxen (N
1
)
Chiều dày từ 2km – 2,5km nằm trên thành tạo Paleoxen bò bào mòn với
bất chỉnh hợp góc rõ ràng. Trên cơ sở nghiên cứu hóa thạch thống Mioxen chia
ra các điệp: Bạch Hổ, Côn Sơn, Đồng Nai.
a. Phụ thống Mioxen hạ – điệp Bạch Hổ (N
1
1
bh)
Trầm tích Mioxen hạ nằm bất chỉnh hợp góc trên các thành tạo
Oligoxen. Trong lát cắt gồm các xen lớp cát và lớp sét kết với tỉ lệ khác nhau.
Nói chung cát có cấu tạo khối, màu xám gắn kết yếu, hạt từ trung bình đến thô
thỉnh thoảng có sỏi. Xi măng là Kaolinit, Montmoriolit.
Chiều dày điệp Bạch Hổ thay đổi từ 700m – 1500m. Nóc điệp tương
ứng tầng đòa chấn thứ ba. Theo tài liệu đòa vật lí giếng khoan, thành phần trầm
tích thạch học và hoá thạch, điệp Bạch Hổ chia thành 3 phụ điệp : dưới, giữa và
trên.
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 24
Tiểu luận tốt nghiệp Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phan Văn

Chiều dày điệp Côn Sơn thay đổi từ 600m- 650m
Sinh viên thực hiện: Hạ Nguyên Vũ trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status