Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
Đ
Ồ ÁN TỐT NGHIỆP
Nghiên c
ứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm
năng DK lô 103 b
ể sông Hồng. Thiết kế
gi
ếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1
-C.
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
PH
ẦN I
NGHIÊN C
ỨU CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ 103
PHÍA B
ẮC BỂ SÔNG HỒNG
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
CHƯƠNG I: Đ
ẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
- KINH T
Ế
- NHÂN VĂN
1.1. Đ
ặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1. V
ị trí địa lý:
B
ể Sông Hồng được giới hạn nằm trong khoản
g 14
o
ớng Đông Bắc
- Tây Nam và Nam, phân thành 3 vùng đ
ịa chất:
vùng Tây B
ắc (miền v
õng Hà Nội và một số lô phía Tây Bắc), vùng Trung Tâm (lô
107-108 đ
ến lô 114
-115) và vùng phía Nam (lô 115 đ
ến 121).
Công tác tìm ki
ếm thăm d
ò dầu khí ở bể Sông
H
ồng đ
ã được tiến hành từ đầu
th
ập kỷ 60 của thế kỷ trước. Ngoài các mỏ khí Tiền Hải C, Đông Quan, D14 là
đang khai thác th
ì b
ể Sông Hồng còn có các phát hiện khí là Báo Đen, Báo Vàng,
Hắc Long, Hoàng Long, Bạch Long, Địa Long và một phát hiện dầu là mỏ Th ái
Bình.
Lô 103 có di
ện tích 8062 km
2
(Hình 1.1) n
ằm ở vùng nước nông của vịnh
B
ắc Bộ Việt Nam , thuộc rìa Bắc và sườn Đông Bắc của bể Sông Hồng
’
00
’’
đ
ến 106
0
25
’
00
’’
kinh đ
ộ Đông.
Lô 103 đ
ã được tiến hành tìm kiếm thăm dò từ những năm đầu thập kỷ 80
c
ủa thế kỷ XX, một phần phía Đông Bắc lô 103 và phía Bắc lô 10
7 n
ằm trong hợp
đ
ồng PSC với Total từ năm 1989 đến năm 1992. Hiện nay công tác t
ìm kiếm thăm
dò v
ẫn được tiếp tục trên diện tích lô 103.
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
Hình 1.1: V
ị trí lô 103
Hình 1.2: V
ị trí cấu tạo P
1.1.2. Đ
ặc điểm địa hình, địa mạo
ật thì các hoạt động tìm kiếm
– thăm d
ò và khai thắc dầu khí có thể bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết sau:
- Nhiệt độ không khí: Mùa hè thì nhiệt độ trong khoảng 26
0
C-36
0
C, độ ẩm
tương đ
ối l
à 70%
-80%. Mùa đông nhi
ệt độ thay đổi từ 10
0
C đ
ến 23
0
C, th
ấp nhất có
khi xu
ống đến 6
0
C.
- Lư
ợng m
ưa trung bình năm 1400
–2000mm, lư
ợng m
ưa trung bình trong
ào mùa hè thường có gió Nam, Đông Nam tốc
đ
ộ trung b
ình 9
-11km/h, m
ạnh nhất 74 km/h, có thể đạt 148 km/h khi có gió b
ão.
- Bão: Các c
ơn b
ão nhiệt đới có cường độ trên cấp 7 thường đi vào khu vực
trong th
ời gian từ tháng 7 đến tháng 10
. Th
ời gian ảnh h
ưởng thường ngắn, chỉ từ
1-5 ngày và đi kèm v
ới các c
ơn bão thường có mưa lớn kéo dài vài ngày khi cơn
bão
đi qua.
- Sóng bi
ển: Ở khu vực vào mùa đông hướng sóng Đông Đông Bắc độ cao
trung bình t
ừ 0.7
– 1m cao nh
ất là 2
-3m. Trong th
ời gian
có gió mùa Đông B
ắc
ình, Hải Phòng và Nghệ An…
1.2.1 Giao thông, thông tin liên l
ạc, nguồn điện, nguồn nước
.
- Đường bộ: Đồng bằng Sông Hồng có hệ thống đường bộ khá lớn, nó bao
gồm các quốc lộ nối liền các vùng các tỉnh với nhau. Ở đây có các tuyến đường
qu
ốc lộ lớn nh
ư quốc lộ 1, quốc lộ 5…
- Đư
ờng thủy:
* C
ảng biển: Trong khu vực có các bến cảng l
à cảng Hải Phòng, Cảng Cái
Lân (Qu
ảng Ninh)…
* Khu v
ực có hệ thống sông ng
òi dày đặc với ha
i con sông l
ớn chảy qua l
à
sông H
ồng v
à sông Thái Bình. Chính vì vậy nó rất thuận lợi cho vùng phát triển,
v
ận chuyển h
àng hóa trên nước, thủy hải sản…ở các tỉnh nói riêng và cho cả vùng
nói chung.
- Đư
r
ất nhiều dịch vụ mạng điện tử phát triển ở tất cả các tỉnh, đặc biệt là ở các thành
ph
ố lớn, điều đó đem lại hiệu quả kinh tế rất cao.
- Ngu
ồn điện: Nguồn năng lượng điện phục vụ ch
o các ngành công nghi
ệp và
đ
ời sống nhân dân tương đối tốt. Điện đã về đến các vùng nông thôn, vùng xa xôi
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
h
ẻo lánh. Trong vùng có một số nhà mày điện lớn như nhà máy điện sông Đà, nhiệt
đi
ện Phả Lại …
- Ngu
ồn nước: Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thốn
g sông H
ồng và hệ
th
ống sông Thái Bình nên nguồn nước rất phong phú. Cả nguồn nước trên mặt lẫn
ngu
ồn nước ngầm đều có chất lượng rất tốt. Tuy nhiên, vùng cũng có thể xảy ra
tình tr
ạng thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.
1.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
- Dân số: Đây là khu vực tập trung dân cư đông đúc: 18400600 người (2007)
chiếm 20% số dân cả nước, mật độ dân số cao nhất Việt Nam 1236 người/km
2
(2007). Đây là khu vực có trình
thông ra biển qua cảng Hải Phòng và các cảng biển khác, dễ dàng mở rộng giao lưu
với các vùng khác và các nước trong khu vực. Tuy nhiên, do nằm trong vùng có khí
hậu nhiệt đới gió mùa nên vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như l
ũ
lụt, hạn hán, bão…
- Các ngành nghề chủ yếu:
* Nông nghi
ệp: Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng. Đất là tài
nguyên quan tr
ọng nhất của vùng, trong đó quý nhất là đất phù sa sông Hồng.
Đ
ồng bằng Sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản suất lương thực, thực phẩm.
Trên th
ực tế,
đây là v
ựa lúa lớn thứ 2 cả nước, sau đồng bằng Sông Cửu Long. Số
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
đ
ất đai đã được sử dụng vào hoạt động nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56%
t
ổng diện tích tự nhiên của đồng bằng Sông Hồng, trong đó 70% đất có độ phì
nhiêu t
ừ trung bình trở lên. Ngoài
s
ố đất đai phục vụ lâm nghiệp và các mục đích
khác, s
ố diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha. Nhìn chung, đất
đai c
ủa đồng bằng Sông Hồng được phủ một lớp phù sa của hệ thống Sông Hồng
và Sông Thái Bình b
ược nhập từ vùng khác. Một số tài nguyên
c
ủa v
ùng bị suy thoái do khai thác quá mức.
* Ngư nghi
ệp: Do đặc điểm vị trí địa lý của v
ùng c
ó di
ện tích tiếp xúc với
bi
ển lớn n
ên ngư nghiệp khá phát triển ở đồng bằng Sông Hồng, hệ thống sông
ngòi dày
đ
ặc, đan xen nhau, rất thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản tại các tỉnh nói
riêng và c
ả khu vực nói chung. Đồng thời ở đây lại có đ
ường bờ biển ké
o dài nên
c
ả chất l
ượng và số lượng hải sản ở đây rất phong phú, đem lại nguồn lợi kinh tế
đáng k
ể cho to
àn vùng.
* Du l
ịch: Khu vực n
ày nằm dọc bờ biển Việt Nam, đến bờ biển miền Trung
nên ngoài ngành ngư nghi
ệp, khai thác tiềm năng du lịch cũng l
1.3.1 Thuận lợi
Nh
ững thuận lợi cơ bản của khu vực nghiên cứu đối với công tác tìm kiếm
thăm d
ò dầu khí bao gồm:
- Khu v
ực có những cơ sở hạ tầng phục vụ khá tốt cho công tác tìm kiếm
thăm d
ò dầu khí như: có hệ thống giao thông đầy đủ rất thuận lợi cho việc đi lại,
v
ận
chuy
ển hàng hóa, mạng lưới thông tin đa dạng, để liên lạc từ giàn khoan đến
đ
ất liền. Đặc biệt là gần các cảng biển lớn như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Chân
Mây, V
ũng Áng…có thể dùng làm căn cứ trong quá trình hoạt động.
- Vùng có ngu
ồn lao động dồi dào,
trình
độ dân trí cao.
- Ti
ềm năng kinh tế của vùng lớn, thị trường tiêu thụ dầu khí rộng lớn.
1.3.2 Khó khăn.
- Việc thăm dò dầu khí được tiến hành ở ngoài khơi, xa bờ nên gặp một số
khó khăn v
ề công tác hỗ trợ dịch vụ nh
ư chi phí cho các chuyến bay du lịc
h ngoài
giàn khá cao, quá trình ti
chia làm 2 giai đo
ạn chính sau: trước 1987 và từ 1988 đến nay. Toàn bộ công tác
tìm ki
ếm
- thăm d
ò
bao g
ồm các phương án khảo sát địa vật lý, địa chất và khoan,
có th
ể tóm lược như sau.
2.1.1. Giai đo
ạn trước năm 1987
2.1.1.1. Nghiên c
ứu địa vật lý:
* Thăm dò địa chấn 2D :
Trong khu vực nghiên cứu hầu hết đã được phủ mạng lưới tuyến địa chấn 2D
t
ừ nghi
ê
n c
ứu khu vực đến nghi
ên cứu cấu tạo, bắt đầu bằng mạng 16x16 km và
16x32 km, ghi s
ố
- b
ội 48 của hai t
àu địa chấn Poisk và Iskachen vào năm 1983.
Năm 1984 sau khi có k
ết quả của công tác minh giải địa chấn khu vực,t
àu
ên c
ứu trong giai đoạn n
ày công tác thăm d
ò địa chấn 3D vẫn
còn nhi
ều hạn chế v
à hầu như chưa được tiến hành.
2.1.1.2. Nghiên c
ứu địa chất:
Trong giai đo
ạn này, việc nghiên cứu địa chất, lấy mẫu đá ở các điểm lộ trên
đ
ất liền và trên các đảo cũng được
chú ý đ
ầu tư thích đáng.
2.1.1.3 Khoan thăm d
ò và biểu hiện dầu khí
Trong giai đo
ạn này thì việc thăm dò trong khu vực nghiên cứu vẫn chưa có
gi
ếng khoan nào do trong khu vực chưa phát hiện được cấu tạo triển vọng.
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
Hình 2.2: Công tác kh
ảo sát, nghi
ên cứu khu vực
.
2.1.2 Giai đo
ạn 1988 đến nay:
Bư
ớc vào giai đoạn đổi mới, trên cơ sở chủ trương kêu gọi đầu tư bằng Luật
2
do công ty d
ầu khí Bạch Đằng thu
n
ổ năm 2008 trên khu vực bao gồm phát hiện khí/condensate Hồ
ng Long, Hoàng
Long và các c
ấu tạo Bạch Long, cấu tạo S.
B
ảng 1 :
T
ổng hợp các tài liệu địa chấn thu được trong lô 103 và 107
Năm
Ki
ểu thu
Đơn v
ị thực hiện
Kh
ối l
ượng
1983
2D
Iskatel
1425 km
1989
2D
Total
859.3 km
1990
2D
đi th
ực địa nghiên cứu cấu trúc, đ
ịa hoá khu vực đảo Bạch Long Vĩ do Viện dầu
khí th
ực hiện.
2.1.2.3 Khoan thăm d
ò và biểu hiện dầu khí:
Trong di
ện tích lô nghiên cứu và các lô lân cận đã có 15 giếng khoan thăm dò dầu
khí, trong đó gi
ếng 103T
-H-1X là gi
ếng khoan đầu tiên được Total khoan
t
ừ cuối
năm 1990 và g
ần đây nhất là giếng khoan 106
-YT-2X (2009) do Petronas và gi
ếng
106-YT-2X (2009) đư
ợc Petronas khoan. Vị trí và phân bố của mạng lưới khoan
như sau:
- Lô 102 có 3 gi
ếng khoan: 102
-CQ-1X, 102-HD-1X, 102-TB-1X do
Idemitsu khoan (1994). Trong quá trình khoan có bi
ểu hiện dầu khí nhưng nhà thầu
không th
ử vỉa do tầng chứa kém.
- Lô 103 có 5 gi
ặp khí hydrocacbon.
- Lô 107 có 2 gi
ến
g khoan: 107T-PA-1X (1991), PV107-BAL-1X (2006),
gi
ếng dầu do Total khoan, giếng khô. Giếng thứ 2 do PIDC khoan.
Bảng 2: Khối lượng công tác khoan thăm d
ò khu v
ực lô 103
TT
Tên GK
Độ sâu
(TD)
Đối tượng
Lô
Ghi chú
1
103T-H-1X
3413 m
Mio-Oli
103
Total/1990, phát hiện khí
2
103T-G-1X
3505 m
Mio-Oli
103
Total/1990
3
103-DL-1X
ực nghiên cứu n
ói riêng bao g
ồm nhiều loại khác nhau, phân thành nhiều đới
thành h
ệ khác nhau. Đá móng có tuổi Mesozoi và Paleozoi hoặc Proterozoi gồm đá
cát k
ết, cuội kết, sạn kết xen kẽ với sét kết có tuổi Devon hoặc những lớp đá vôi rất
dày có tu
ổi từ Devon tới Pecmi.
M
ức độ phong hóa, biến chất của các loại đất đá
này khác nhau, ph
ụ thuộc vào vị trí địa lý và mức độ tiếp xúc với các điều kiện tự
nhiên của chúng.
Móng trước Kainozoi cũng mới chỉ được phát hiện ở ngoài vùng nghiên cứu,
trên đ
ất liền trong các giếng khoa
n 81 và B10-STB-1X đ
ã b
ắt gặp đá vôi Cacbon
-
Pecmi.
Ở các điểm lộ tr
ên bán đảo Đồ Sơn gặp cát kết, đá phiến màu đỏ, cuội kết
Devon dư
ới, tr
ên đảo Cát Bà gặp đá vôi màu đen tuổi Cacbon
-Pecmi còn trên các
đ
ảo v
ếng khoan trong khu vực, trầm tích Paleogen
có th
ể chia l
àm 02 phức hệ:
- Tr
ầm tích Paleoxen/Eoxen
- Tr
ầm tích Oligoxen
* Tr
ầm tích Pa
leoxen/Eoxen: H
ệ tầng Ph
ù Tiên (
E
1
pt – E
2
pt)
M
ặt cắt chuẩn trầm tích Paleoxen/Eoxen được Phạm Hồng Quế phát hiện và
mô t
ả ở giếng khoan 104 Phù Tiên
– Hưng Yên t
ừ đ
ộ sâu 3.544m đến 3.860m v
à
đ
ặt tên là điệp Xuân Hòa (1981). Trầm tích bao gồm cát kết, sét bột kết màu nâu
tím, màu xám xen k
ẽ với cuội kết có độ hạt rất khác nhau từ vài cm đến vài chục
ặc biệt
là Trudopollis và Ephedripites.
Hệ tầng được thành tạo trong môi trường sườn tích – sông hồ. Đó là các
trầm tích lấp đầy địa hào sụt lún nhanh, diện phân bố hẹp.
* Tr
ầm tích Oligoxen: Hệ tầng Đ
ình Cao (
E
3
đc)
H
ệ tầng mang t
ên xã Đình Cao (Phù Tiên
– Hưng Yên), nơi đ
ặt giếng khoan
104 m
ở ra mặt cắt chuẩn của hệ tầng. Tại đây từ độ sâu 2.396m đến 3.544m, mặt
c
ắt chủ yếu gồm cát kết m
àu sám sáng, xám sẫm đôi chỗ phớt tím, xen các lớp cuội
k
ết, sạn kết, chuyển l
ên các lớp bột kết, sét kết màu xám, xám đen, rắn
ch
ắc xen ít
l
ớp cuội sạn kết. Bề d
ày của hệ tầng ở mặt cắt này là 1.148m.
H
ệ tầng Đ
ệ tầng Đ
ình Cao mới chỉ tìm th
ấy các vết in lá thực vật, b
ào t
ử phấn
hoa Diatiomeac, Padiatrum và đ
ộng vật nước ngọt.
Hóa th
ạch thân mềm nước ngọt Viviparus kích thước nhỏ, có khoảng phân bố
trong đ
ịa tầng rất rộng (Creta
– Neogen), nhưng có
ý nghĩa quan trọng trong việc
đánh d
ấu đối v
ới trầm tích Oligoxen trong khu vực, n
ên được dùng để nhận biết hệ
t
ầng Đình Cao là lớp chứa Viviparus nhỏ.
H
ệ tầng Đình Cao thành tạo trong môi trường đầm hồ
- sông ngòi. H
ệ tầng này nằm
không ch
ỉnh hợp trên hệ tầng Phù Tiên.
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
3.1.2.2 Tr
ầm tích Neogen (Trầm
tích Mioxen: H
ệ tầng Phong Châu, Phù cừ,
tr
ắng, xám lục gắn kết chắc với những lớp cát bột phân lớp rất mỏng từ cỡ mm đến
cm t
ạo th
ành các cấu tạo dạng mắt, thấu kính, gợn sóng. Cát kết có xi măng chủ
y
ếu
là cacbonat v
ới h
àm lượng cao (25%). Khoáng vật phụ bao gồm nhiều
Glauconit và pyrit. B
ề d
ày của hệ tầng tại giếng khoan này đạt tới 1.180m.
H
ệ tầng Phong Châu phân bố chủ yếu trong dải Khoái Châu
– Ti
ền Hải
(Gi
ếng khoan 100) v
à phát triển ra vịnh Bắc Bộ (
GK 103T-H-1X) v
ới sự xen kẹp
các l
ớp cát kết, cát bột kết v
à sét kết chứa dấu vết than hoặc những lớp kẹp đá vôi
m
ỏng (GK103T
-H-1X, 103-HOL-1X). Cát k
ết có xi măng cacbonat, ít sét. Sét kết
màu xám sáng đ
ệ tầng
Đ
ình Cao (U300
-nóc Oligocene thư
ợng) đến mặt phản xạ H260.
* Tr
ầm tích Mioxen giữa: Hệ tầng Phù Cừ (
N
1
2
pc)
H
ệ tầng Phù Cừ được V.K Golovenol, Lê Văn Chân (1966) mô tả lần đầu
tiên t
ại giếng khoan GK 02 (960
-1180m) trên c
ấu tạo Phù Cừ (miền võn
g Hà N
ội).
Tuy nhiên, khi đó chưa g
ặp được phần đáy của hệ tầng và mặt cắt được mô tả bao
g
ồm các trầm tích đặc trưng tính chu kỳ rõ rệt với các lớp cát kết hạt vừa, cát bột
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
k
ết phân lớp mỏng (dạng sóng, thấu kính, phân lớp xiên) bột kết, sét kết cấu tạo
kh
ối chứa nhiều hóa thạch thực vật, dấu vết động vật ăn bùn, trùng lỗ và các vỉa
than lignit. Cát k
ết có thành phần ít khoáng, độ lựa chọn và mài mòn tốt, khoáng
ơi có
glauconit ( các GK 100, 102, 110, 104). Cát k
ết có xi măng gắn kết nhiều cacbonat,
ít sét, sét b
ột kết m
àu xám sáng đến xám sẫm chứa ít cacbonat, ít vụn thực vật và
than (GK 103T-H-1X) có ít l
ớp đá cacbonat mỏng (GK103T
-H-1X). B
ề d
ày chung
c
ủa hệ tầng thay đổi từ 1.500 đến 2.000m. Điều đáng chú ý l
à sét kết của hệ tầng
thư
ờng có h
àm lượng vật chất hữu cơ bằng 0,86% Wt, đạt tiêu chuẩn của đá mẹ
sinh d
ầu v
à thực tế đã có phát hiện dầu và condensat trong hệ tầng Phủ Cừ ở Miề
n
võng Hà N
ội.
Tu
ổi Mioxen giữa của các phức hệ hoá thạch đ
ược xác định theo Florchuetzia
trilobata v
ới Fl. Semilobata v
à theo Globorotalia, theo Obulina universa.
H
Việc xác định ranh giới giữa hệ tầng Tiên Hưng và hệ tầng Phù Cừ nằm dưới
thường gặp nhiều khó khăn do có sự thay đổi tướng đá. Phan Huy Quynh, Đỗ Bạt
(1985) đ
ã phát hi
ện ở phần dưới của hệ tầng một tập cát kết rất rắn chắc màu xám,
chứa các vết in lá thực vật phân bố tương đối rộng trong các giếng khoan ở Miền
Võng Hà Nội và coi đây là dấu hiệu chuyển giai đoạn trầm tích lục địa. Sau hệ tầng
Phù Cừ và đáy của tập cát kết này có thể coi là ranh giới dưới của hệ tầng Tiên
Hưng. Hệ tầng Tiên Hưng có mặt hầu hết trong tất cả các giếng khoan ở Miền
Võng Hà Nội và ngoài khơi vịnh Bắc Bộ với thành phần chủ yếu là cát kết, ở phần
trên là cát kết hạt thô và sạn vôi kết, bột kết, xen kẽ các vỉa than lignit. Mức độ
chứa than giảm rõ rệt do trầm tích châu thổ ngập nước, với tính biển tăng theo
hướng tiến xa vịnh Bắc Bộ. Các lớp cát phân lớp dày đến dạng khối, màu xám
nhạt, mờ đục hoặc xám xanh, hạt nhỏ đến thô, độ chọn lọc trung bình
đ
ến kém,
chứa hoá thạch động vật và vụn than, gắn kết trung bình
đ
ến kém bằng xi măng
cacbonat và sét. Sét bột kết màu xám lục nhạt, xám sang có chỗ xám nâu, xám đen
(GK 104, 102-HD-1X) chứa vụn than và các hoá thạch, đôi chỗ có glauconit, pyrite
( GK 100, 103 T-H-1X). Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 760 tới 3.000m.
Hoá thạch tìm thấy trong hệ tầng Tiên Hưng gồm các vết in là cổ thực vật,
bào tử phấn hoa, trùng lỗ và Nannoplankton, đặc biệt có một phức hệ đặc trưng
gồm Quercus lobbii, Ziziphus được tìm thấy trong một lớp cát kết hạt vừa, dày
khoảng 10m. Lớp này gặp phần lớn trong các giếng khoan ở Miền Võng Hà Nội.
Lớp cát kết này còn thấy ở nhiều nơi ở miền Bắc như Tầm Chà (Nà Dương, Lạng
Sơn), Bạch Long V
ĩ, Tr
ịnh Quân (Phú Thọ). Tuổi Mioxen trên của hệ tầng được
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
Hệ tầng V
ĩnh B
ảo được phát hiện trong tất cả các giếng khoan từ GK 03
(ven biển) tiến vào đất liền tính lục địa của trầm tích tăng lên, và hệ tầng mang đặc
trưng châu thổ chứa than (GK 02, Phù Cừ). Ngược lại, tiến ra xa biển trầm tích
mang tính thềm lục địa rất rõ; cát bở rời xám sáng đến hạt sẫm, hạt thô đến hạt vừa,
đôi khi thô đến rất thô, độ chọn lọc trung bình
đ
ến tốt xen với xét màu xám, xám
xanh, chứa mica, nhiều pyrite, glauconit và phong phú các mảnh vỏ động vật biển,
thấy tất cả ở các giếng khoan (GK 04-GN-1X, GK 103-H-1X, GK 107T-PA-1X).
Hệ tầng V
ĩnh B
ảo có chiều dày từ 200-500m tăng dần ra biển.
Hệ tầng V
ĩnh B
ảo chủ yếu thành tạo trong môi trường thềm biển.
* Hệ tầng Hải Dương, Kiến Xương:
Các trầm tích Đệ Tứ ít được nghiên cứu trong địa chất dầu khí. Trầm tích
Đệ tứ phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Plioxen (U100) bao gồm cuội, sạn, cát bở
rời (hệ tầng Kiến Xương) chuyển lên là cát, bột, sét và một số nơi có than bùn (hệ
tầng Hải Dương).
Môi trường trầm tích chủ yếu là biển nông đến biển sâu.
Thứ tự và thành phần trầm tích, các mặt ranh giới địa tầng ứng với các
mặt phản xạ địa chấn đều được thể hiện trên mô hình
đ
ịa chất lô. (Hình 3.1)
Hình 3.1: Mô hình
đ
ời gian thiếu vắng trầm tích từ một đến vài triệu năm.
Cấu trúc nghịch đảo Mioxen thể hiện rõ 2 đới cấu trúc bậc cao là đới nâng
Tiền Hải và đới nâng Kiến Xương.
Đ
ới nâng Tiền Hải
phát tri
ển từ đất liền ra biển tới lô 102, Đông Bắc lô 103,
Tây lô 107. Tham gia vào c
ấu trúc của đới nâng có trầm tích Oligoxen v
à Mioxen.
Đ
ặc điểm của đới nâng uốn nếp nghịch đảo n
ày phát triển nhiều cấu tạo nâng là đối
tư
ợng cho t
ìm kiếm và thăm dò dầu
khí.
Ở đây đ
ã có nhiều giếng khoan trên các
c
ấu tạo nh
ư 102
-CQ-1X, 102-HD-1X, 103T-G-1X, 103T-H-1X, c
ấu tạo Bạch
Long, Hoàng Long, H
ồng Long.
Đ
ới nâng nghịch đảo Kiến X
ương phát triển giữa đứt gãy Thái Bình và đứt
gãy Ki
ứa, vì trước đó trầm tích Mioxen đã nằm rất sâu trong địa hào (cổ) nên đất đá đã
t
ừng bị nén ép chặt bởi áp suất tĩnh, cho dù sau khi bị nghịch đảo, mặt cắt được
nâng lên nhưng đ
ất đá này vẫn giữ độ rỗng nguyên sinh
th
ấp có từ trước, rồi lại
ch
ịu thêm các biến đổi thứ sinh nên độ rỗng lại càng kém. Phương hướng tìm kiếm
thăm d
ò cho các cấu tạo loại này là chọn các cấu tạo bình ổn về mặt kiến tạo, ít bị
bào mòn và có th
ời gian bào mòn ngắn nhất trong Mioxen.
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
3.2.1.3 Th
ềm đơn nghiêng Thanh
- Ngh
ệ:
Th
ềm đơn nghiêng Thanh
– Ngh
ệ là phần nhô cao của móng trước Kainozoi.
Móng trư
ớc Kainozoi không chỉ l
à các phức hệ biến chất kết tinh Proterozoi và
ph
ổ biến hơn còn là các thành tạo cacbonat, cacbonat
– sét và l
ục nguyê
n Mesozoi.
ãy khu vực nằm theo hướng TB
-ĐN là nh
ững đứt g
ãy lớn
có liên quan đ
ến sự thành tạo và gắn liền với lịch sử phát triển của bể, tiền thân
chúng là nh
ững đứt gãy thuận và sau trở thành nghịch trong các pha nghịch đảo
ki
ến tạo Mio
xen. Chúng có biên đ
ộ dich chuyển ngang và thẳng đứng lớn.
+ H
ệ thống đứt g
ãy địa phương:
chúng t
ạo với hệ thống đứt g
ãy khu vực góc
g
ần 30
0
chúng là nh
ững đứt gãy địa phương hình thành muộn và hầu hết là những
đ
ứt gãy thuận biên độ dịch chuyển nhỏ.
Ngoài nh
ững đứt gãy khu vực tại lô nghiên cứu đã phát h
i
ện một loạt các
đứt gãy với qui mô khác nhau cả về chiều dài và biên độ, bao gồm các đứt gãy
ể kể nh
ư đứt gãy Sông Hồng, Sông Lô và đứt gãy Sông Chảy, đứt gãy Hưng
Yên Sau này vào pha hình thành và phát tri
ển bể trầm tích Sông Hồng, các đứt
gãy nh
ư đ
ứt gãy Sông Chảy, đứt gãy Sông Lô lại tái ho
ạt động trong tr
ư
ờng
ứng
xu
ất tách gi
ãn, cường độ hoạt động của chúng rất mạnh có chiều dài và biên độ
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
d
ịch chuyển lớn. Đứt gãy chờm nghịch được hình thành và phát triển chủ yếu trong
pha nén ép Mioxen gi
ữa. Hàng loạt đứt gãy được sinh thành nhưng đáng lưu
ý nh
ất
là đ
ứt gãy Vĩnh Ninh và Kiến Xương. Hệ thống đứt gãy này bao gồm cả đứt gãy
khu v
ực và địa phương
* H
ệ thống đứt gãy khu vực: Là những đứt gãy lớn liên quan đến sự thành tạo
và g
ắn liền với lịch sử phát triển của bể trầm tích.
- Đ
ứt g
ãy Sông Lô: Đứt gãy Sông Lô dài khoảng 600km phát triển từ biên
gi
ới Việt
- Trung kéo xu
ống dọc theo thung lũng Sông Lô, men t
heo rìa Tây Nam
c
ủa d
ãy núi Tam Đảo ra đến phía Tây Bắc của lô 107 và nhập vào đứt gãy Vĩnh
Ninh. Đây là đ
ứt g
ãy đồng trầm tích có hướng cắm về phía Tây Nam, nằm ở khu
v
ực đồng bằng thuộc khu vực Sông Hồng bao gồm nhiều đứt g
ãy bậc thang biên độ
d
ịch chuyể
n t
ới 2000m.
- Đ
ứt g
ãy Vĩnh Ninh: Đứt gãy Vĩnh Ninh kéo dài từ Bắc Thành phố Việt Trì
đ
ến Tây Bắc lô 107 sau đó nhập với hệ đứt g
ãy Sông Lô tạo nên địa hào trung tâm
c
ủa phần phía Tây Bắc bể Sông Hồng. Pha uốn nếp chính v
ào Mioxen trên tạo nên
hang lo
* Vai trò c
ủa các hệ thống đứt gãy đối với các tích tụ dầu khí
Đồ Án Tốt Nghiệp Trường Đại Học Mỏ Địa Chất
H
ầu hết các cấu tạo vòm, bán vòm trong phần phía Bắc bể trầm tích Sông
H
ồng đều nằm kề cận với cá
c đ
ứt gãy (đặc biệt là khu vực ngoài khơi vịnh Bắc
B
ộ). Do đó các đứt gãy này đóng vai trò rất quan trọng với sự phá hủy,
b
ảo tồn các
tích t
ụ dầu khí. Trong đó các hệ thống đứt gãy phát triển theo hướng Tây Bắc
-Đông
Nam n
ằm trong vùng trũng trung tâm thườn
g đóng vai tr
ò là các màn chắn kiến tạo
r
ất tốt, ngoài ra vào các thời kỳ hoạt động kiến tạo có thể chúng còn đóng vai trò là
các đư
ờng dẫn dầu và khí di chuyển từ những tầng sinh thấp hơn lên các bẫy chứa.
Còn vùng rìa
Đông Bắc và đới nghịch đảo Bạch Long
V
ĩ, đóng vai trò là các màn
ch
ắn thì hệ thống đứt gãy phát triển theo hướng Đông Bắc
ã t
ạo nên hai
hệ thống đứt gãy dịch ngang trái khu vực đó là hệ thống đứt gãy Sông Hồng ở phía
Bắc và Mae Ping ở phía Nam. Trong thời kỳ hoạt động kiến tạo tích cực này ở khu
vực nghiên cứu (khu vực phía Bắc bể Trầm tích Sông Hồng nói chung) tồn tại 3
miền kiến tạo:
Khu v
ực ở phía Tây đứt gãy Sông Lô (trũng Neogen): ở đây cơ chế kiến tạo
chính v
ẫn l
à tách dãn và s
ụt lún (hoặc do trầm tích bị nâng lên nhưng không vượt
qua m
ặt cơ sở), điều đó nó cho phép hệ thống Sông Hồng tiếp tục vận chuyển một
kh
ối lượng lớn vật chất hạt vụn về phía
ĐN, chúng đ
ã được trầm tích và tạo thành
m
ột châu thổ r
ộng lớn suốt thời kỳ Mioxen dư
ới
, gi
ữa
(châu th
ổ Sông Hồng).
1. Phía B
ắc
-Đông B
ắc đứt gãy Sông Lô (khu vực trũng Paleoge
đầy rất nhanh bằng các trầm tích lục nguyên và cacbonat.
Đến cuối Mioxen trung dịch ngang phải trên cơ sở hệ thống đứt gãy sông
Hồng và M.Ping đạt tới cường độ lớn, trầm tích nằm trong khu vực giữa đứt gãy