Nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 33

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HUY ĐÔNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2015


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HUY ĐÔNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA

Chuyên ngành:


Nguyễn Huy Đông


3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

NXB

Nhà xuất bản

PBGDPL

Phổ biến giáo dục pháp luật

PBPL

Phổ biến pháp luật

TMDV

Thương mại, dịch vụ

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

UBMTTQ

pháp, pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của nhân dân. Đây là một
khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ
chức, có chủ định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương...
nhằm hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp
với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện,
phương pháp đặc thù. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là quá trình hoạt động
thường xuyên, liên tục và lâu dài của chủ thể tuyên truyền lên đối tượng, là cầu
nối để chuyển tải Hiến pháp và pháp luật vào cuộc sống. Tuyên truyền, phổ biến
pháp luật là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện quản
lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng lối sống, lề lối làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân.
Xác định vai trò quan trọng của pháp luật, trong những năm qua hoạt
động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần chúng nhân dân ở tỉnh Hà Tĩnh
nói chung và ở huyện Kỳ Anh nói riêng đã được tích cực triển khai và đạt được
nhiều kết quả quan trọng, từng bước làm chuyển biến nhận thức về pháp luật của
người dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn còn những hạn chế
nhất định như: hoạt động phối hợp phổ biến, pháp luật của chính quyền, đoàn
thể, nhất là ở cơ sở chưa chặt chẽ và thường xuyên; việc nghiên cứu học tập
pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức và của nhân dân chưa triệt để; đặc
biệt một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác tuyên truyền
phổ biến pháp luật, chưa chủ động trong việc phối hợp thực hiện; ý thức tôn


6
trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân chưa tạo chuyển
biến căn bản như mục tiêu đề ra; tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm, tệ nạn
xã hội; đơn thư khiếu kiện đông người vượt cấp vẫn chưa giảm; trình độ của một
số báo cáo viên pháp luật ở cơ sở còn hạn chế; kinh phí dành cho công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa nhiều.

lý ở Việt Nam hướng phát triển (Bộ Tư pháp, Cục trợ giúp pháp lý).
- Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (NXB
Chính trị Quốc gia - Sự thật 2012);
- Nâng cao hiệu quả phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước tại trung tâm học tập cộng đồng các phường, xã trên
địa bàn thành phố Vinh (Luận văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Thị Kim Ngân).
Ngoài ra còn một số văn bản của Đảng và Nhà nước, như: Chỉ Thị số 32CT/TW Ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 37/2008/QĐTTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt chương trình
phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 - 2012; Quyết định số 31/2009/QĐTTg ngày 24/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Đề án tuyên
truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong
các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009 - 2012;
- Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn
pháp luật;
- Chuyên đề: Công tác PBGDPL của Tiến sỹ Nguyễn Duy Lãng - Vụ
trưởng Vụ phổ biến GDPL - Bộ Tư pháp;


8
- Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND ngày 10/9/2008 của UBND tỉnh Hà
Tĩnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình PBGDPL từ năm 2008
đến năm 2012;
Quyết định của UBND tỉnh, huyện về việc ban hành kế hoạch phổ biến
giáo dục pháp luật các năm: 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013,14.
Dưới giác độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích thực
trạng phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung ở tầm vĩ mô; các giải pháp đưa ra
còn mang tính chung chung; chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách
thoả đáng, có hệ thống, đánh giá đầy đủ, khách quan cơ sở lý luận và thực trạng
hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân trên địa bàn một
huyện cụ thể. Xuất phát từ đặc trưng đó, tôi thấy cần thiết phải đi sâu nghiên cứu

tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản, trọng tâm, thiết yếu nhất của pháp luật
nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nội dung luận văn không có ý định tuyên truyền phổ
biến pháp luật một cách chung chung mà hướng tới những nội dung cụ thể đặc
trưng gắn liền với tính chất của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trên địa bàn của huyện Kỳ Anh trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước
ta về pháp luật, ý thức pháp luật và tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa học chính
trị kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và


10
nhân văn như phương pháp phân tích, so sánh, logic - lịch sử. Tất cả những
phương pháp đó dựa trên nền tảng tư duy biện chứng và phép biện chứng duy
vật để đi đến những kết luận chân thực, chính xác.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật cho nhân dân trên địa bàn huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Ngoài ra,
luận văn có thể làm tư liệu giảng dạy, tham khảo cho những công trình nghiên
cứu có liên quan.
- Luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp góp phần nhằm nâng cao
chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung trên địa
bàn Kỳ Anh và Hà Tĩnh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện
nay.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương:

Tính quyền lực: Pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện,
sự đảm bảo đó chính là quyền lực của Nhà nước.
Tính quy phạm: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là những
khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung
chung” [13,tr.136]. Đó là những giới hạn, mà nếu vượt quá là trái pháp luật.


12
Tính ý chí: Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải kết quả
của tự phát hay cảm tính. Đó chính là ý chí của lực lượng lãnh đạo, thống trị xã
hội.
Tính xã hội: Pháp luật phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã
hội, tuy nhiên pháp luật chỉ có khả năng mô hình hoá những nhu cầu xã hội
khách quan đã mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó tác động tới các
quan hệ xã hội khác, hướng các quan hệ đó phát triển theo hướng nhà nước xác
định.
1.1.2. Khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiểu một cách ngắn gọn nhất, “đó là
việc chuyển tải các nội dung của pháp luật đến với mọi cơ quan, tổ chức, công
dân. Làm cho mọi người biết về pháp luật để từ đó thực hiện đúng các quy định
của pháp luật” [20, tr.14-15].
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần thực hiện rộng rãi cách truyền đạt
thông tin hai chiều. Nghĩa là, trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải sử
dụng đa dạng các hình thức thông tin phản hồi từ cơ sở, coi trọng ý kiến của
đông đảo nhân dân. Thông tin phản hồi được thực hiện dưới nhiều hình thức
như: toạ đàm, đối thoại, trao đổi, góp ý… Từ những hình thức này, mọi chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sau khi phổ biến, lấy ý
kiến nhân dân sẽ được thực tiễn cuộc sống ở cơ sở kiểm nghiệm, bổ sung và
kiến nghị. Như vậy, có thể hiểu, tuyên truyền, phổ biến pháp luật là làm cho các
cá nhân người lao động và toàn thể xã hội ý thức được pháp luật để họ tham gia

hiện đại hoá
1.2.1. Mục đích của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần
chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá


14
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì điều đầu tiên là chúng ta
phải xác định mục đích để làm gì ? Cần đạt được mục đích ấy bằng con đường
nào? Tức là phải lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định.
Việc xác định mục đích tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân là
một vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống. Như
vậy, mục đích của tuyên truyền pháp luật cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay
bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:
- Mục đích thức nhất, hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ
thống tri thức pháp luật của công dân (mục đích nhận thức).
Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của người dân trên các lĩnh vực
là một yêu cầu khách quan của công tác tuyên truyền nói chung, tuyên truyền,
phổ biến pháp luật nói riêng. Trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thì
mục đích được đặt ra là trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị
của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong
từng lĩnh vực đời sống. Đây được xem là mục đích hàng đầu, bởi vì, chính sự
am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh
của pháp luật sẽ là nền móng cơ bản để hình thành tâm lý, tình cảm và thái độ
tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật ở mỗi người dân. Hơn nữa, tri thức
pháp luật còn giúp cho mỗi người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của
mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật.
- Mục đích thứ hai: hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục
đích cảm xúc).
Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp luật là mục đích đầu tiên vô cùng
quan trọng nhưng bản thân nó chưa phải là sự quyết định hành vi xử sự hợp

vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi vi phạm
pháp luật và tội phạm. Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật,
ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật.


16
- Mục đích thứ ba: hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo
pháp luật (mục đích hành vi).
Trong hệ thống các mục đích của tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật thì mục đích hình thành hành vi hợp pháp cho nhân dân có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Bởi lẽ, suy đến cùng kết quả của công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật được biểu hiện ở ứng xử theo pháp luật của mọi người dân.
Đây chính là cái đích cần đạt được của tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Suy
cho cùng thì phổ biến tri thức pháp luật, bồi dưỡng niềm tin pháp luật là tiền đề
để giáo dục ý thức nhân cách rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật
hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật. Do vậy, để hình thành hành vi
hợp pháp là một việc khó khăn, lâu dài. Những hành vi hợp pháp của mỗi người
thường biểu hiện qua các việc làm như: Tuân thủ các quy phạm pháp luật; kiềm
chế không thực hiện các điều pháp luật cấm; thực hiện đúng và đầy đủ quyền và
nghĩa vụ pháp lý của công dân; biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật;
biết vận dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm
phạm.
Hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả của một quá trình
nhận thức pháp luật. Trong quá trình nhận thức có nhiều yếu tố tác động (chủ
quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử sự theo pháp
luật. Thông qua tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp người dân hiểu biết và
có lòng tin sâu sắc tự nguyện thực hiện những quy định của pháp luật. Để đạt
được mục đích này trong quá trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải bằng
những hình thức, phương thức tác động khác nhau và tiến hành thường xuyên,
liên tục tạo cho mọi người dân có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào pháp luật,

chẽ, lôgíc.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân nhằm góp phần phát triển
khả năng nhận thức cũng như tổ chức thực hiện pháp luật một cách có trách


18
nhiệm với tư cách là một công dân, biết sử dụng đúng đắn các quyền con người
và quyền công dân chân chính của mình. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật gắn
liền với mục tiêu chung trong giáo dục - đào tạo con người phát triển toàn diện
trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
là nhằm “Đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng hình thành một thế hệ con người Việt
Nam mới có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có
sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và
tinh thần quốc tế chân chính. Nuôi dưỡng hoài bão lớn, tự cường dân tộc, năng
động, sáng tạo, làm chủ được khoa học và công nghệ mới, vươn lên ngang tầm
thời đại, sánh vai cùng thanh niên các nước trên thế giới. Hình thành một lớp
thanh niên nam, nữ ưu tú, vững vàng về chính trị, kiên định con đường xã hội
chủ nghĩa, tiêu biểu cho thế hệ trẻ, trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý, kinh
doanh giỏi, những chuyên gia xuất sắc trên mọi mặt hoạt động của xã hội, những
trí thức uyên bác chiếm lĩnh các đỉnh cao của khoa học, những văn nghệ sĩ có tài
năng, những người lao động có tay nghề cao” [23, tr.15].
Xuất phát từ mục đích của tuyên truyền, phổ biến pháp luật là: trang bị tri
thức pháp luật; bồi dưỡng tình cảm, tâm lý pháp; hướng dẫn hình thành thói
quen xử sự tích cực theo pháp luật, do đó, nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp
luật bao gồm một phạm vi tương đối rộng đó là: các thông tin về pháp luật, gồm
cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định; các thông tin về việc thực
hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý
các vi phạm pháp luật; các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học
về thực hiện áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối
tượng, các tầng lớp dân cư. Đồng thời, phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý

nhân dân cần được tuyên truyền là: Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012; Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014; Luật Đất đai 2013; Luật xử lý vi phạm hành chính
2012; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Chính quyền địa phương 2015; Luật Hoà


20
giải ở cơ sở; Bộ luật Lao động 2012; Bộ Luật Dân sự; Bộ Luật Hình sự; các điều
ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các
thoả thuận quốc tế”...
Hai là, mức độ về hiểu biết pháp luật theo nhu cầu công việc. Mỗi công
dân, mỗi người lao động trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội,
lại có nhu cầu hiểu biết và kỹ năng sử dụng các phương tiện pháp luật khác
nhau. Do đó, nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cấp độ này cũng phải
được mở rộng và chuyên sâu hơn so với mức độ tối thiểu nội dung đó bao gồm:
hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực
tiễn (như quy phạm pháp luật, hệ thống pháp luật, các nguồn và hình thức pháp
luật, các quan hệ pháp luật …); một số văn bản pháp luật thực định liên quan đến
lĩnh vực hoạt động và vùng quan tâm của đối tượng; các quyền và nghĩa vụ cụ thể
của công dân trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; quá trình tố
tụng và vị trí của các chủ thể tố tụng để thực hiện, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ
đó.
Như vậy, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp
luật cho nhân dân như thế nào là cần và đủ, đối với quần chúng nhân dân cần
trang bị cho họ những nội dung kiến thức PL sau đây:
- Những nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết dưới dạng phổ thông nhất về
nguồn gốc, bản chất, vai trò của Nhà nước và pháp luật. Là công cụ để thiết chế
hóa đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được
thực hành có hiệu quả; là dụng cụ để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội;
là công cụ để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ và bổn phận của

hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu tuyên truyền, phổ biến
pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được
mục đích đề ra.


22
Trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước trên mọi lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá xã hội… có nhiều quan điểm, khái niệm đang được nhận
thức lại một cách cơ bản. Đó là sự phát triển tất yếu phù hợp với yêu cầu khách
quan, mang ý nghĩa tích cực, nhưng về góc độ tuyên truyền, phổ biến, đó cũng
là một nét đặc thù đòi hỏi người tuyên truyền phải lựa chọn các nội dung tuyên
truyền pháp luật sao cho vừa mang tính nguyên tắc, tương đối ổn định; vừa
mang tính linh hoạt. Với nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn luôn
phát triển, thay đổi vì vậy đòi hỏi người tiếp cận cũng phải liên tục thường
xuyên cập nhật nếu không muốn trở thành lạc hậu hay “mù” về pháp luật.

1.2.3. Hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần
chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
1.2.3.1. Tuyên truyền miệng
Là hình thức mà người nói trực tiếp nói với người nghe về một nội dung
pháp luật nào đó nhằm nâng cao nhận thức, niềm tin, ý thức cho người nghe và
kích thích người nghe hành động theo mục đích của người tuyên truyền.
Một buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật thường là một buổi nói về
một lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quản lý... gắn với một số chế
định, ngành luật. Một buổi nói chuyện chuyên đề thường không đóng khung
trong phạm vi pháp luật, trong khuôn khổ một vấn đề khép kín mà mở ra nhiều
lĩnh vực có liên quan, nhiều hướng suy nghĩ. Chính vì thế, các buổi nói chuyện
chuyên đề thường thu hút được đông đảo báo cáo viên pháp luật, cán bộ nghiên
cứu, cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ tuyên truyền pháp luật, hoà giải viên,

Thứ nhất, phải gây được thiện cảm đối với người nghe: Việc gây thiện
cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân
thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Thiện


24
cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe, củng cố được niềm tin
về vấn đề đang tuyên truyền. Tuyên truyền viên có thể bắt đầu từ một câu
chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời
gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có
thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền..
Thứ hai, tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói: Nghệ thuật tuyên
truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ.
Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc, truyền cảm. Hết sức tránh lối nói đều đều,
giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm
quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp với nội dung và
giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Người nói có thể kết
hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn,
ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục
đối với người nghe.
Thứ ba, bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng:
Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các
đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc,
lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
gần đến xa và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ
thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu
rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đó nêu ra.
Thứ tư, sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục với ba
bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status