Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục chính trị
Lê thị việt
Phát huy nguồn lực trí thức
thành phố Hà Tĩnh trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
khóa luận tốt nghiệp đại học
ngành cử nhân s phạm giáo dục chính trị
Vinh - 2010
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận: Phát huy nguồn lực trí thức thành phố Hà
Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá , ngoài sự nỗ
lực cố gắng của bản thân mình, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học Khoa Giáo dục Chính trị, sự quan tâm,
động viên, khích lệ kịp thời của gia đình và bạn bè. Đặc biệt, trong quá trình
nghiên cứu đề tài của mình, tôi luôn nhận đợc sự quan tâm hớng dẫn tận tình
của thầy giáo TS. Đinh Thế Định - ngời trực tiếp hớng dẫn khóa luận cho tôi.
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những ngời thân đã
luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn.
Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ngời đã trực tiếp
hớng dẫn và giúp tôi hoàn thành khóa luận này TS. Đinh Thế Định. Chúc thầy
luôn mạnh khoẻ, công tác tốt và đạt đợc những thành công mới trong cuộc sống!
Chúc mọi ngời luôn vui vẻ, hạnh phúc!
Vinh, tháng 05 năm 2010
ng, phỏt huy tim nng ca mỡnh...............................................................54
2.2.4. Tng cng chớnh sỏch ói ng, trng dng v tụn vinh trớ thc, thu
hỳt nhõn ti................................................................................................... 57
KT LUN....................................................................................................... 62
DANH MC TI LIU THAM KHO ........................................................64
Danh mục Các từ viết tắt
Cnh, hđh
Hđnd
KHKT
KH&KT
Nxb
THCS
THPT
Ubnd
XHCN
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hội đồng nhân dân
thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình xây dựng đất nớc. Những công trình đó
thực sự là tài liệu tham khảo rất bổ ích cho luận văn này.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra, khảo sát vai trò, thực trạng của nguồn lực trí thức thành
phố Hà Tĩnh nhằm đề xuất một số phơng hớng, giải pháp phát huy tiềm năng trí
tuệ của nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH, phục vụ cho chiến lợc phát triển đô thị của thành phố trong giai đoạn hiện
nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Làm rõ nguồn lực trí thức và vai trò của nguồn lực trí thức trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng, vai trò của việc phát huy nguồn lực
trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH.
Thứ ba: Đề xuất một số phơng hớng, giải pháp phát huy nguồn lực trí thức
thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài đợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm, đờng lối, chính
sách của Đảng và Nhà nớc ta cùng với với những chủ trơng, chính sách của Tỉnh
3
ủy, Thành ủy, UBND thành phố Hà Tĩnh về trí thức và vai trò của trí thức trong sự
nghiệp cách mạng.
Phơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phơng pháp kết hợp logíc với lịch sử,
phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp - diễn dịch, phơng pháp thống kê, điều tra xã
hội học để chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu đặt ra.
6. Kết cấu của khoá luận
Nguồn lực trong nớc, đặc biệt là nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng,
có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguồn lực nớc ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học - kỹ thuật và
công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất và kinh
doanh từ nớc ngoài.
Nguồn lực nớc ngoài có vai trò quan trọng, thậm chí đặc biệt quan trọng
đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Mặc dù có vai trò khác nhau, nhng giữa nguồn lực trong nớc và nguồn lực nớc
ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đây là mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác, bổ
sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủ
quyền của nhau. Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong nớc (nội lực) với nguồn lực nớc ngoài (ngoại lực) thành sức mạnh tổng hợp để phát
triển kinh tế nhanh và bền vững.
Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của
mỗi quốc gia.
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận
hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nớc, giữa các quốc gia với nhau.
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, vị trí địa lí là một nguồn lực góp
phần định hớng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế.
- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những
nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển
kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng
cho sự phát triển.
- Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân c và nguồn lao động, nguồn vốn,
khoa học - kỹ thuật và công nghệ, chính sách toàn cầu hóa, khu vực hóa và hợp
tác, có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lợc phát triển phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nớc trong từng giai đoạn. Trong đó con ngời đợc xem là nguồn lực
quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của mỗi quốc gia.
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng nh biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia. Các nớc đang phát triển
muốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn, tụt hậu cần phải phát hiện và sử
Theo quan điểm phát triển, trong các yếu tố cấu thành nguồn lực con ngời,
trí tuệ đợc xem là nguồn lực quan trọng nhất, quý giá nhất. Tiến sĩ Nguyễn Thanh
Tuấn cho rằng: "Nguồn nhân lực đó là tổng thể sức lao động dự trữ, những tiềm
năng, những lực lợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngời trong việc
cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội" [21; 70].
Nh vậy, nguồn nhân lực không chỉ có số lợng, chất lợng của ngời lao động
mà nó bao gồm cả tiềm năng dân c bổ sung vào lực lợng lao động. Nguồn nhân
6
lực gồm cả sự kết hợp thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ kỹ năng lao động,
phong cách làm việc với khả năng sáng tạo của ngời lao động. Nếu xét nguồn
nhân lực dới dạng tiềm năng để cung cấp sức lao động cho một ngành, một địa
phơng thì cha đầy đủ mà điều quan trọng là phải khai thác tiềm năng đó nh thế
nào và bằng những biện pháp gì để biến tiềm năng đó thành hiện thực đem lại
hiệu quả cho xã hội.
Nếu xét nguồn nhân lực dới dạng "tiềm năng" hay "sức lao động dự trữ" thì
nó nghiêng về xem xét ở trạng thái tĩnh. Vì vậy, cần phải xem xét thêm nguồn
nhân lực dới khía cạnh "phát huy tính năng động, sáng tạo" của mỗi ngời, tức là ở
trạng thái vận động. Tính năng động, sáng tạo "thể hiện sức mạnh và sự tác động
của con ngời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội". Vấn đề đặt ra với hoạt
động thực tiễn là làm sao phải sử dụng hiệu quả, phân bố lao động hợp lý... điều
đó đòi hỏi phải có một hệ thống các biện pháp tác động của chủ thể sử dụng lao
động nhằm phát huy tối đa tính tích cực, hăng say lao động cùng với sự sáng tạo
không ngừng của ngời lao động nhằm đạt đợc hiệu quả tối u.
Con ngời là một tiềm năng vô tận, đặc biệt là trí tuệ, vì vậy, nếu đợc tự do
phát triển, tự do trong t duy sáng tạo và cống hiến, đợc trả đúng giá trị thực của
sức lao động thì tiềm năng đó sẽ có giá trị hiện thực rất lớn, kết quả lao động đợc
nhân lên gấp bội và trở thành nguồn vốn quan trọng nhất cho sự phát triển xã hội.
Bàn về vấn đề này, trong học thuyết của mình, các nhà sáng lập ra Chủ
nghĩa xã hội khoa học đã căn cứ vào đặc điểm nổi bật nhất của trí thức là lao
động bằng trí óc và trình độ xác định của học vấn biểu hiện thành năng lực tìm
tòi, sáng tạo, phát minh để lý giải trí thức nh một tầng lớp xã hội. Theo đó trí thức
là một tầng lớp xã hội đặc biệt đợc phân biệt với các tầng lớp xã hội khác về năng
lực trí tuệ, trình độ học vấn và do vậy, họ là những ngời lao động trí óc sáng tạo
trên mọi lĩnh vực.
Trí thức không có hệ tởng riêng, chủ yếu vì không có phơng thức sản xuất
riêng và địa vị kinh tế - xã hội độc lập. Trí thức từ thời chiếm hữu nô lệ cách đây
hàng ngàn năm cho đến nay vai trò và t tởng của họ đều phụ vào giai cấp thống trị
xã hội. Nhng trên thực tế lịch sử, dù không có hệ t tởng riêng, trí thức ở chế độ xã
hội nào cũng giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ t tởng
của giai cấp thống trị xã hội. Trí thức không bao giờ tồn tại với t cách một giai
cấp, "phi giai cấp", hoặc "siêu giai cấp", đứng trên các giai cấp. Tính giai cấp của
trí thức thể hiện ở chỗ họ đem vốn kiến thức của mình phục vụ cho giai cấp thống
trị nào trong xã hội.
V.I.Lênin cho rằng: "Tầng lớp trí thức theo nghĩa Đức là Literatliteratentum,
bao gồm không chỉ các nhà văn hóa học mà tất cả những ngời có văn hóa, những ngời làm nghề tự do nói chung, những ngời đại biểu trí óc để phân biệt với đại biểu lao
động chân tay" [17; 309].
8
Kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về đội ngũ trí thức,
Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định: Trí thức là một tầng lớp xã hội
đặc biệt, là một bộ phận tiêu biểu trong lực lợng lao động trí óc. Họ là lực lợng
lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, chủ yếu về mặt lý thuyết và tinh thần cho xã
hội, quy định năng suất, chất lợng, hiệu quả của tốc độ của sản xuất và tinh thần
cho xã hội, xã hội ngày càng hiện đại đặc biệt là xây dựng xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa, vai trò của trí thức ngày càng trở nên quan trọng. Và trên
tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, có đạo đức trong sáng đang nghiên cứu, sáng
tạo, phổ biến những kiến thức khoa học và ứng dụng những tri thức đó vào hoạt
động thực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã hội.
Nguồn lực trí thức có một vị trí quan trọng trong sự phát triển xã hội, nó đợc coi là "sự tinh tuý nhất" của nguồn nhân lực xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử.
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo sức
mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lợc phát triển. Nh vậy, những ngời lao động
có trình độ cao, chuyên sâu một lĩnh vực chuyên môn nào đó, nh những ngời tốt
nghiệp đại học, cao đẳng hoặc tơng đơng trở lên, những nghệ sĩ, bác sỹ, nhà
nghiên cứu, những giáo viên... dù họ cha tốt nghiệp đại học nhng những hoạt
động lao động trí óc của họ, có ảnh hởng to lớn đến sự phát triển xã hội và những
ngời đang học đại học cũng thuộc nguồn nhân lực trí thức.
Hiện nay, những ngời có trình độ đại học trở lên là lực lợng đông đảo nhất
của nguồn lực trí thức ở nớc ta nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Họ có vai trò
quyết định đối với sự phát triển của nguồn nhân lực này. Đặc biệt, trong giai đoạn
hiện nay: giai đoạn mà nhân loại đang bớc vào cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ, vào nền kinh tế tri thức thì những ngời có trình độ từ đại học trở lên luôn đợc coi là ngời đi tiên phong thúc đẩy sự phát triển chất lợng nguồn nhân lực. Việc
phát huy nguồn nhân lực trí thức là sử dụng một hệ thống cơ chế, chính sách
nhằm động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để lực lợng này lao động sáng tạo đạt kết quả cao nhất. Thực chất của việc phát huy là hớng vào mỗi cá nhân con ngời, đề cao tính độc lập sáng tạo của cá nhân, hoặc bố
trí họ vào đúng một vị trí công tác hợp lý, phù hợp với khả năng để mỗi ngời có
cơ hội thể hiện và phát triển tài năng, cống hiến cho xã hội. Có thể nói, đây là quá
trình tìm ra các động lực phù hợp với từng cá nhân, thúc đẩy họ hoạt động để góp
phần cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
* Đặc điểm của nguồn lực trí thức ở nớc ta:
- Trí thức Việt Nam xuất thân từ nghiều giai cấp tầng lớp khác nhau, nhất là
từ công nhân và nông dân, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động. Nguồn lực trí
thức là lực lợng nòng cốt trong khối liên minh công - nông - trí thức dới sự lãnh
đạo của Đảng. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trí thức là lực lợng đã
cùng với nhân dân lao động cả nớc đấu tranh giành độc lập dân tộc; còn trong
đắn, phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại.
Trong thời đại ngày nay, thời đại của nền kinh tế tri thức thì vai trò của trí
thức trong việc hoạch định những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc càng có ý
nghĩa quan trọng. Đặc biệt, khi mà toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm xây dựng
đất nớc theo con đờng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trớc mắt là thực hiện thắng
lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc thì vai trò của nguồn lực trí thức ngày càng trở
nên quan trọng, trở thành động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH. Điều đó thể
hiện ở việc trí thức có thể sáng tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ hiện
11
đại, ứng dụng vào quá trình sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội. Đây là nguồn lực
tạo cơ sở xây dựng các chiến lợc, sách lợc cho quá trình CNH, HĐH, đa ra các
giải pháp để đẩy mạnh CNH, HĐH, bồi dỡng, đào tạo nguồn nhân lực. Trong bối
cảnh cuộc cánh mạng khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão, tác động ngày
càng sâu sắc vào đời sống con ngời, thì việc "trí thức hóa công nhân", "trí thức
hóa nông dân" thành nguồn lực trí thức - chủ thể của quá trình CNH, HĐH đất nớc đợc xem là một vấn đề cấp bách hiện nay.
Nguồn lực trí thức tích cực tham gia công tác lãnh đạo, quản lí, từ công tác
quản lý trực tiếp đến lãnh đạo, quản lý cấp vĩ mô góp phần nâng cao chất lợng,
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực của Đảng, trình độ
quản lí của Nhà nớc.
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc đòi hỏi những ngời lãnh đạo phải có trí tuệ
cao, phải thực sự là tấm gơng sáng cho những ngời lao động noi theo. Họ không
chỉ là những nhà hoạt động thực tiễn mà còn là những nhà lí luận, những trí thức
trực tiếp tham gia vào công tác quản lí, chỉ đạo thực tiễn góp phần thúc đẩy nhanh
chóng quá trình CNH, HĐH đất nớc.
Nguồn nhân lực trí thức trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dỡng nhân tài
để trở thành nguồn nhân lực có trí tuệ trong giai đoạn mới.
CNH, HĐH là đòn bẩy thúc đẩy nguồn nhân lực. Điều này đợc thể hiện ở
Hà Hoa đợc chọn là nơi đặt trụ sở của tỉnh lị tỉnh Hà Tĩnh.
Giai đoạn từ 1976 - 1991, thành phố Hà Tĩnh là một đơn vị trực thuộc tỉnh
Nghệ - Tĩnh. Năm 1991, thành phố Hà Tĩnh là tỉnh lị Hà Tĩnh. Đến năm 2007,
thành phố Hà Tĩnh là đô thị loại III. Ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thủ tớng Chính
phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 89/2007/ NĐ - CP về việc thành lập
thành phố Hà Tĩnh.
Trải qua hơn 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới, thành phố Hà Tĩnh đã đạt
đợc nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã
hội, an ninh - quốc phòng... Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà
Tĩnh lần thứ XVIII (2005 - 2010) và 3 năm thực hiện Nghị quyết số 18/NQ
TƯ của Ban thờng vụ Tỉnh ủy về phơng hớng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hà
Tĩnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo, thực hiện Nghị quyết số 09/NQ
TƯ về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2002 đến 2005 của Ban chấp hành
Tỉnh ủy, đến nay tốc độ phát triển kinh tế xã hội hằng năm của thành phố Hà Tĩnh
đạt 13-15%/năm. Năm 2004 đạt 12,68%/năm, năm 2006 đạt 15,65/năm, năm
2007 là 16%/năm.
Hiện nay thành phố Hà Tĩnh đã và đang ra sức thực hiện chơng trình phát
triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà
Tĩnh lần thứ XVIII, với các mục tiêu cụ thể: "Tổng giá trị sản xuất các ngành đến
năm 2010 đạt 3.483 tỷ đồng, tốc độ tăng trởng bình quân đầu ngời 20 triệu đồng,
thu ngân sách bình quân hàng năm trên 18%/năm. Cơ cấu kinh tế công nghiệp xây dựng đạt 53 - 54%; thơng mại dịch vụ 38 - 39%; nông nghiệp - thủy sản đạt
13
trên 8%. Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa 85%, khối phố văn hóa đạt 68%, xã, phờng
văn hóa đạt 50 - 55%. Hộ nghèo còn dới 5%" [11, 11].
Thành phố Hà Tĩnh đợc thành lập đánh dấu bớc ngoặt quan trọng trong quá
trình phát triển đô thị Hà Tĩnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố Hà Tĩnh nói riêng và tỉnh nhà nói chung.
14
trong đó: Giáo dục: 1.108; Văn hoá, nghệ thuật: 15; Quản lý nhà nớc: 369; Y tế Thể dục - Thể thao: 168; Đảng, đoàn thể: 267; các ngành khác: 118) [19].
- Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị từ cơ sở đến thành phố: 493,
trong đó: đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị cấp thành phố là 204 bằng
41,4%/ tổng số, bằng 0,255% dân số thành phố, cơ quan đảng: 37, cơ quan chính
quyền: 138, cán bộ đoàn thể: 29. Số trí thức đang đảm nhận vai trò lãnh đạo (trởng, phó phòng ban và tơng đơng trở lên): 76, chiếm 38,2%.
+ Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị phờng, xã là 292, trong đó
cán bộ chuyên trách: 179, cán bộ chủ chốt: 87, công chức chuyên môn: 113. Cán
bộ bán chuyên trách: 169 [19].
+ Số trí thức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghiệp nhà nớc là 136; cán bộ khoa học và chuyên gia: 21; lĩnh vực văn hoá nghệ
thuật: 15; lĩnh vực giảng dạy: 1.108; lĩnh vực y tế, thể dục thể thao: 168 [19].
Nh vậy, có thể thấy rằng lực lợng trí thức thành phố chiếm số đông trong
dân c thành phố. Họ ngày càng khẳng định đợc vai trò của mình trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội và đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển
chung của quê hơng.
- Về trình độ chuyên môn: Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị
cấp thành phố có trình độ đại học: 153, chiếm 75%; trong đó khối đảng 27, chiếm
73%, khối chính quyền: 108, chiếm 78,3%, khối đoàn thể: 18 chiếm 62,1%. Số trí
thức đang đảm nhận vai trò lãnh đạo: 64, đạt 84,2%. Số trí thức có trình độ sau
đại học: 05, đạt 2,9%. Số trí thức hoạt động ở phờng, xã: có trình độ đại học, cao
đẳng: 38 ,chiếm 13,1%, trung cấp: 112 chiếm 38,8%. Số trí thức tham gia quản lý
trong các doanh nghiệp nhà nớc: 136, trong đó Ban giám đốc: 26; cán bộ có trình
độ đại học trở lên là 112, chiếm 82,4% [19].
- Về trình độ lý luận chính trị: số trí thức hoạt động trong hệ thống chính
trị cấp thành phố có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: 31 chiếm 15,2%. Cán bộ
công chức phờng, xã có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: 02 chiếm 0,7%; trung
cũng đã đạt đợc những thành tựu quan trọng:
Đội ngũ cán bộ là lực lợng lớn trong nguồn lực trí thức thành phố. Họ là
những ngời có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức trực tiếp đa chủ trơng,
chính sách, đờng lối của Đảng và Nhà nớc phổ biến sâu rộng trong nhân dân.
Hiện nay, thành phố Hà Tĩnh có tổng số cán bộ trong hệ thống chính trị từ cơ sở
đến thành phố là 493 đồng chí = 0,616% dân số thành phố. Trong đó, cán bộ nữ là
151 đồng chí = 30,6%.
Trong những năm qua, công tác quy hoạch cán bộ, xây dựng đội ngũ cán
bộ đã đợc Ban thờng vụ Thành ủy quan tâm, triển khai nghiêm túc, từng địa phơng, đơn vị định kỳ tiến hành rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch.
Đến 8/2006 có 15/15 phờng, xã hoàn thiện quy hoạch cán bộ (trừ phờng Nguyễn
Du mới thành lập). Đối với quy hoạch cán bộ thành phố cho đến nay đã đợc Ban
Thờng vụ Tỉnh ủy phê duyệt theo phân cấp. Quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ
từ thành phố đến cơ sở cơ bản đảm bảo yêu cầu, chất lợng. Đến nay, đã quy hoạch
16
đợc 71 chức danh từ trởng phòng, phó phòng, ban, ngành và tơng đơng trở lên với
284 cán bộ dự nguồn. Quy hoạch ban Thờng vụ Thành ủy là 38 đồng chí, bằng
3,5 lần so với số lợng đơng nhiệm. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố là 79 bằng
2,29 lần so với số đơng nhiệm [18].
Công tác luân chuyển cán bộ bớc đầu đạt kết quả tốt. Chỉ tính từ năm 2002
đến nay đã luân chuyển đợc 19 cán bộ. Trong đó luân chuyển từ xã, phờng lên
thành phố là 02 đồng chí, từ thành phố xuống xã, phờng là 04 đồng chí, giữa các
cơ quan đảng, nhà nớc, đoàn thể là 09 đồng chí; giữa các xã, phờng: 04 đồng chí.
Trong quá trình thực hiện luân chuyển cán bộ, thành phố đã làm tốt công tác t tởng, tạo đợc sự đồng thuận trong các đơn vị, địa phơng nơi có cán bộ luân chuyển
đến, tạo sự cân đối về lực lợng cán bộ giữa các đơn vị, khắc phục tình trạng cục
bộ khép kín.
Công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ đợc các cấp quan tâm. Các cấp ủy đã tạo
điều kiện thuận lợi để cử cán bộ đi đào tạo, bồi dỡng, u tiên số cán bộ đơng chức
đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức; quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và cán bộ làm công tác tổ chức. Mối quan
hệ, trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan tổ chức với cơ quan, ban, ngành liên quan
trong thực hiện công tác cán bộ ngày càng tốt hơn. Phơng tiện làm việc về cơ bản
đáp ứng yêu cầu.
Quá trình 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ơng 3 (khóa VIII) về chiến lợc cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, công tác cán bộ của thành
phố Hà Tĩnh đã đạt đợc những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ từ cơ sở
đến thành phố đợc nâng lên về mọi mặt, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của
thành phố. Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành ngày càng đợc nâng lên, từng bớc đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ. Số cán bộ đợc đào tạo ở phờng, xã và đào tạo
nâng cao ở thành phố, số cán bộ ứng dụng khoa học công nghệ vào các khâu quản
lý và thực hiện vụ nhiệm chuyên môn ngày càng tăng. Đa số cán bộ giữ đợc phẩm
chất, đạo đức, có lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, với phong trào của địa
phơng. Quá trình thực hiện Nghị quyết, đội ngũ cán bộ các cấp các ngành, các
lĩnh vực đều thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của mình.
Cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nớc, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từ
cơ sở đến thành phố phần đông có bản lĩnh chính trị vững vàng; đợc rèn luyện,
thử thách qua thực tiễn cách mạng, có kinh nghiệm lãnh đạo, vận động, tập hợp
quần chúng nhân dân; năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành từng bớc đáp ứng
nhiệm vụ CNH, HĐH.
Cán bộ lãnh đạo trong lực lợng vũ trang: kiên định vững vàng, và trung
thành với cách mạng; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, hợp đồng tác chiến cao,
sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, giữ gìn an ninh
chính trị và an toàn xã hội trên địa bàn. Hầu hết cán bộ đều đợc đào tạo cơ bản.
Cán bộ khoa học chuyên gia trong các lĩnh vực: nhìn chung tâm huyết, tân
tụy, ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học công nghệ trong chỉ đạo sản xuất, kinh
doanh, năng lực, chất lợng công tác từng bớc đáp ứng yêu cầu.
18
bình, tự phê bình, tinh thần trách nhiệm cha cao, thái độ phục vụ nhân dân còn
hạn chế, làm việc cầm chừng, ngại học tập, nhất là các môn tin học, ngoại ngữ...
Giáo dục và đào tạo đợc Đảng và Nhà nớc ta xác định là quốc sách hàng
đầu, là con đờng quan trọng nhất để đào tạo con ngời phát triển toàn diện cả về
đức, trí, thể, mĩ. Nhận thức đợc vấn đề này, trong những năm qua, giáo dục thành
19
phố luôn là đơn vị lá cờ đầu toàn tỉnh về chất lợng mũi nhọn, đại trà và kết quả
tuyển sinh vào trung học phổ thông. Quy mô trờng lớp đợc giữ vững và có bớc
phát triển mới. Toàn thành phố có 18 trờng mầm non, trong đó có 2 trờng t thục;
17 trờng tiểu học, 10 trờng THCS; 4 trờng THPT. Hiện tại có 15/17 trờng tiểu học
đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 7 trờng đạt chuẩn mức độ hai; 7/18 trờng mầm
non, 6/10 trờng THCS đạt chuẩn. Số trờng đạt chuẩn quốc gia chiếm tỉ lệ 66.2%
tổng số các trờng mầm non, tiểu học, THCS trong thành phố, đạt 84.8% chỉ tiêu
đề ra. Phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, công tác phổ cập giáo dục bậc trung học có
nhiều chuyển biến tốt 13/16 phờng, xã cơ bản đạt phổ cập bậc trung học, 16/16
phờng, xã có trung tâm học tập cộng đồng.
Năm học 2008 - 2009 trên địa bàn thành phố có 1244 giáo viên, trong đó
có 684 ngời có trình độ đại học trở lên với 26 thạc sỹ, còn lại là cao đẳng và trung
cấp. Công tác bồi dỡng đội ngũ giáo viên tiếp tục đợc chú trọng, trình độ nhận
thức chính trị, trình độ chuyên môn ngày càng đợc nâng cao. Tỷ lệ đảng viên
trong các nhà trờng bình quân 58.6%; số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm
tỷ lệ 97.8%, trong đó trên chuẩn 78.3%; tỷ lệ giáo viên trên lớp đối với tiểu học là
1,45 giáo viên/lớp, THCS là 2,04 giáo viên/lớp.
Nhìn chung đội ngũ giáo viên thành phố có trình độ chuyên môn khá, có
tinh thần trách nhiệm cao. Phần lớn đội ngũ giáo viên đợc sử dụng đúng chuyên
ngành đào tạo, tận tâm với nghề nghiệp và đang phát huy vai trò của mình trong
việc giáo dục đào tạo con ngời mới XHCN. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều giáo viên
11), trong đó có 21 bác sỹ, 54 y sỹ, 1 dợc sỹ đại học, còn lại là y tá, dợc tá, nữ hộ
sinh...
Từ lâu, ngành đã có chơng trình đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và đào
tạo sau đại học trên các lĩnh vực nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho các
thầy thuốc. Nhiều bác sỹ giỏi có kinh nghiệm đã giải quyết đợc nhiều ca bệnh
hiểm nghèo. Đây là ngành mà hầu hết lực lợng lao động luôn đợc làm đúng với
chuyên môn đã đợc đào tạo. Gần đây, số cán bộ chuyên ngành y và dợc đã đợc
phân bổ đồng đều trên khắp địa bàn thành phố. Vì đây là trung tâm của tỉnh nên
nhiều cán bộ y tế có điều kiện học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên
môn, bắt kịp với những tiến bộ KHKT mới.
Đa phần các cán bộ trong lĩnh vực y tế đều yêu nghề, say mê nghề nghiệp,
hết lòng chăm sóc ngời bệnh. Nhng bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số trí thức
cha thực sự hài lòng với công việc và cha phát huy hết năng lực sáng tạo của
mình. Điều này đòi hỏi các cơ quan chuyên trách phải có những chính sách phù
hợp để kích thích tinh thần lao động hăng say của lực lợng trí thức này.
Hiện nay, ngành văn hoá thông tin thành phố có 31 cán bộ, nhân viên (17
nam và 14 nữ), bằng 7,03% toàn tỉnh, trong đó có 12 ngời có trình độ đại học trở
lên. Về trình độ lý luận chính trị, có 1 ngời có trình độ lý luận cao cấp, 7 ngời
trung cấp còn lại là sơ cấp. Lực lợng trí thức thành phố cũng có nhiều điều kiện
để phát huy năng lực, vai trò của mình. Thời gian qua, lãnh đạo thành phố đã có
nhiều chính sách phù hợp để nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ trong
lĩnh vực văn hoá thông tin thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và giao lu
21