Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm thức ăn để nuôi thuần dưỡng cá chuối hoa (Channa maculata Lacepede, 1802) tại khu vực Thanh Hóa - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------@&?-------

TRƯƠNG THỊ THU TRANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ
THỬ NGHIỆM THỨC ĂN ĐỂ NUÔI THUẦN DƯỠNG
CÁ CHUỐI HOA (Channa maculata Lacépède, 1802)
TẠI KHU VỰC THANH HÓA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN


2

NGHỆ AN - 2015


3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-------@&?-------

TRƯƠNG THỊ THU TRANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ

Trương Thị Thu Trang


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Dực là
người đã định hướng, hướng dẫn trực tiếp và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho
tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn nhiệm vụ quỹ quy gen cấp nhà nước: "Khai thác và
phát triển nguồn gen cá Chuối hoa (Channa maculata Lacepede), cá Lóc đen
(Channa striata Bloch), cá Ngạnh (Cranoglanis sinensis Peters) ở Bắc Trung Bộ"
do ThS. Nguyễn Đình Vinh làm chủ nhiệm, Trường Đại học Vinh là cơ quan chủ
trì đã tạo điều kiện hỗ trợ vật liệu, cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện đề tài.
Xin chân thành cám ơn quý thầy cô trong khoa Nông- Lâm- Ngư, Trường
Đại học Vinh đã động viên, tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm học
tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng
trong quá trình nghiên cưú khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước
vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Gia đình, bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ về tinh thần, vật chất
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi xin được bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Xin chân thành cám ơn các kỹ thuật viên và Khoa giải phẫu bệnh - Bệnh
viện hữu nghị đa khoa Nghệ An đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ để tôi hoàn
thành tốt đề tài.
Do điều kiện thời gian có hạn và kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế
nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô, các anh chị cùng bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015

:
:
:
:
:
:

Khối lượng toàn thân cá
Cộng tác viên
Giai đoạn
Khối lượng tuyến sinh dục
Hệ số thành thục
Mùn bã hữu cơ
Độ béo Fulton
Độ béo Clark
Chiều dài chuẩn từ mút mõm đến gốc vây đuôi.
Sức sinh sản
Số thứ tự
Trung bình
Chiều dài toàn thân
Khối lượng cá bỏ nội quan


1
MỞ ĐẦU
Nguồn lợi cá nước ngọt của Thanh Hóa khá phong phú, phân bố tự nhiên
dọc theo các hệ thống sông suối. Các loài cá ở đây đóng vai trò quan trọng trong
việc cung cấp sản lượng cá tự nhiên, thuần hóa để nuôi và tăng sự đa dạng sinh
học các loài thủy sinh. Có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá Chiên,
cá Bỗng, cá Măng… nhiều loài tuy kích thước nhỏ nhưng mật độ lớn như cá

Xuất phát từ nhu cầu khoa học và thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa
Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh tôi chọn thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm thức ăn để nuôi
thuần dưỡng Cá Chuối Hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) tại khu vực
Thanh Hóa”.
*Mục tiêu của đề tài
Tìm hiểu được một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm thức ăn để nuôi
thuần dưỡng cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) tại khu vực
Thanh Hóa.


3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược đặc điểm của cá Chuối hoa
1.1.1. Vị trí phân loại
Ngành động vật có dây sống: Chordata
Lớp cá vây tia: Actinopterigii
Bộ cá Vược: Perciformes
Họ cá quả: Channidae
Giống: Channa
Loài cá Chuối hoa: Channa maculata Lacépède, 1802
Tên Tiếng Anh: Blotched snakehead
Tên đồng vật:
Channa maculata Uyeno & Arai in Masuda et all, 1984: 122 ref. 6442;
Kottelat 2001: 63, fig. 156, Freshwater fishes of Nothern Vietnam
Bostrychus maculatus Lacépède, 1802: 140-143, Hist. Nat. Poiss. III
Ophiocephalus maculatus Cuvier & Valenciennes, 1831: 437, Hist. Nat.
Poiss.VII; Mai Đình Yên, 1978: 285, hình 125, Cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc
Việt Nam.

mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá dài [25].
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá thuộc loài cá dữ, vồ mồi, ăn cá con, ếch nhái, sâu bọ, động vật thủy
sinh. Thân dài 3 – 8 cm ăn côn trùng, cá con và tôm con; thân dài trên 8 cm ăn cá
con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn 100 g cá. Trong điều kiện nuôi cá
cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt mồi [25].
Ở nhiệt độ 20 - 350C, sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau
cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.
Sau khi nở, luân trùng được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột.
Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu
trùng muỗi đỏ [25].
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng
Cá Chuối hoa sinh trưởng tương đối nhanh. Con lớn nhất đến 5 kg, nhìn
chung cá 1 tuổi có thể thân dài 19 – 39 cm, nặng 0,5 kg. Cá 2 tuổi thân dài 38,5
– 40 cm, nặng 1,2 - 1,5 kg. Cá 3 tuổi thân dài 45 – 59 cm, nặng 1,8 - 2,5 kg. Cá
4 tuổi có thể đạt 3,5 – 4 kg, lớn nhất có thể đạt tới 10 – 12 kg/con (con đực và
cái chênh lệch lớn); khi nhiệt độ trên 20 oC sinh trưởng nhanh, dưới 15 oC sinh
trưởng chậm [25].
1.1.6. Đặc điểm sinh sản
Cá từ một năm tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản. Mùa sinh sản là từ
tháng 4 - 6 hàng năm. Đến mùa sinh sản cá thường sống từng đôi, làm tổ ở các
vùng gần bờ ao, đầm, hồ, ruộng nước, sông ngòi. Chúng thường dọn sạch các cây
cối thuỷ sinh tạo thành khoảng trống, mặt thoáng với độ rộng từ 0,4 - 0,6 m2 để
đẻ trứng vào đó. Trứng nổi trên mặt nước và dính lại với nhau thành đám. Cá đực
và cá cái quanh quẩn gần tổ để bảo vệ trứng và chăm sóc con cái đến khi cá con
tự kiếm ăn và tránh được kẻ thù.
Cá đẻ thành nhiều đợt trong mùa đẻ, mỗi đợt từ 5.000 - 30.000 trứng, tuỳ
theo kích thước của cá [25].



trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển [22].


7
b. Khí hậu, thời tiết
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt: xuân,
hạ, thu, đông. Mùa hạ nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam
khô, nóng. Mùa đông lạnh và ít mưa.
Về chế độ nắng và bức xạ mặt trời, Thanh Hóa có tổng số giờ nắng bình
quân trong năm từ 1.600 - 1.800 giờ. Các tháng có số giờ nắng nhiều nhất trong
năm là từ tháng V đến tháng VIII đạt từ 237 - 288 giờ/tháng, các tháng XII và
tháng I có số giờ nắng thấp nhất từ 55- 59 giờ/tháng.Tổng bức xạ vào các tháng
mùa hè lên rất cao, đạt tới 500 - 600 cal/cm2/ngày từ tháng V đến tháng VII, đó là
thời kỳ ít mây và mặt trời ở gần thiên đỉnh. Tuy nhiên vào mùa đông xuân rất
nhiều mây, ít nắng và mặt trời xuống thấp cho nên bức xạ mặt trời giảm sút rõ
rệt, cực tiểu vào các tháng XII hoặc tháng I với mức độ 200 - 500 cal/cm 2/ngày.
Về chế độ nhiệt,Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng
230C- 240C, tổng nhiệt độ năm vào khoảng 8.500 0C- 8.7000C. Hàng năm có 4
tháng nhiệt độ trung bình thấp dưới 200C (từ tháng XII đến tháng III năm sau), có
8 tháng nhiệt độ trung bình cao hơn 20 0C (từ tháng IV đến tháng XI). Biên độ
ngày đêm từ 70C - 100C, biên độ năm từ 110C - 120C. Về độ ẩm,Độ ẩm không khí
biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ ẩm giữa các mùa là không lớn. Độ ẩm
trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%, phía Nam có độ ẩm cao hơn phía
Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sương mù [22].
Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ 1.456,6 - 1.762,6
mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam và
từ Tây sang Đông. Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IV năm sau) lượng mưa rất
ít, chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, khô hạn nhất là tháng I, lượng mưa chỉ
đạt 4 – 5 mm/tháng. Ngược lại mùa mưa (từ tháng V đến tháng X) tập trung tới
80 - 85% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng VIII có 15 đến 19 ngày

đang hoạt động như: Hồ thuỷ lợi, thuỷ điện Cửa Đạt; Hồ sông Mực; Hồ Cống
Khê; Các hồ đang thi công như: Hồ thuỷ điện Trung Sơn,… Chức năng chính
của hồ là tích nước, ngăn lũ, phát điện, cung cấp nguồn nước tưới và nuôi trồng
thuỷ sản [22].
Nguồn lợi cá nước ngọt của Thanh Hóa khá phong phú. Chỉ tính riêng lưu
vực hệ thống sông Mã, Dương Quang Ngọc (2007) [17] đã phát hiện 263 loài cá.
phân bố tự nhiên dọc theo các hệ thống sông suối, đồng thời rất đa dạng về sinh


9
thái học, có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá Chiên, cá Bỗng, cá
Măng,…; nhiều loài tuy kích thước nhỏ nhưng mật độ lớn như cá Đục, cá
Mương, cá Cháo; có những loài được nhân dân tuyển chọn làm cá nuôi truyền
thống như cá Chép, cá Mè, cá Trôi; có những loài cá quí như cá Chình; có những
loài cá có ý nghĩa phòng dịch do ăn bò gậy như cá Rô, cá Cờ, cá Sóc; có nhiều
loài có thể làm cá cảnh và cá làm đồ dùng dạy học như cá Ép, cá Ngần; có những
loài cá có giá trị trên thị trường xuất khẩu như cá Trê, lươn; nhiều loại ăn thực
vật phù du hay thực vật thượng đẳng như cá Mè, cá Bỗng, cá Rầm xanh, có chuỗi
thức ăn ngắn nên hiệu suất sinh học cao.
Những năm gần đây, việc gia tăng các phương tiện khai thác, số lượng
người đánh bắt cá tăng và trình độ khai thác của nhân dân được nâng lên đã dẫn
đến nguồn lợi bị suy giảm trên hầu hết các vực nước tự nhiên, khai thác quá khả
năng khôi phục của các quần thể cá đã làm giảm sút sản lượng cá tự nhiên và là
nguyên nhân chính dẫn đến nguồi lợi cá tự nhiên đang dần bị cạn kiệt. Dưới áp
lực khai thác đó, một số loài cá đã bị tiêu diệt, nhiều loại cá khác trở nên khan
hiếm, khó bắt gặp và đang ở trong tình trạng báo động mức VU và EN
(Vulnerable và Endangred). Trong đó có loài cá Chuối hoa (Channa manulata
Lacépède,1802) được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)[3] với mức độ loài có
nguy cơ tuyệt chủng cao (EN) và nó cũng có tên trong danh mục loài thủy sản
quý hiếm cần được bảo vệ [4].

vật thuỷ sinh như ếch, nhái, cá con... Cá Chuối hoa (Channa macurata) là loài có
tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, đặc biệt nơi có nhiều thức ăn, con cái có tốc
độ lớn nhanh hơn con đực. Mùa sinh sản từ tháng 4 - 6 hằng năm. Cá Chuối hoa
thường làm tổ đẻ trứng, bảo vệ trứng và con [29].
Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày, nơi yên
tĩnh có nhiều thực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 - 350C, sau 3 ngày trứng nở thành
cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự
nhiên bên ngoài.
Khoảng 10 - 15 năm gần đây sản lượng cá Chuối hoa giảm sút nghiêm
trọng, số lượng cá trưởng thành ước tính giảm tới trên 80%. Nhiều vùng Cá
Chuối hoa trở nên khan hiếm, có thể coi như không còn. Nguyên nhân chính là
nơi cư trú bị chia cắt, có biến đổi lớn, thu hẹp trên 50% do xây dựng các công
trình thủy lợi, thay đổi chế độ canh tác trên đồng ruộng như trồng các cây ngắn


11
ngày, tưới tiêu khoa học, phun thuốc trừ sâu, bị đánh bắt quá mức nhất là vào
mùa sinh sản. Mặt khác, nhiều năm liên tiếp cá bị bệnh lở loét, lan truyền nhanh
thành dịch, làm chết hàng loạt.
Vì vậy cá Chuối hoa (Channa maculata) đã được đưa vào danh sách các
loài cần bảo vệ của ngành Thủy sản từ năm 1996. Tuy nhiên chưa có quy chế
khai thác và bảo vệ loài cá này. Cần giảm cường độ khai thác Cá chuối hoa ở
vùng đồng bằng và ven biển. Giảm việc dùng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,
chống ô nhiễm các vực nước. Cần nghiên cứu kỹ hơn loài cá này, tạo nguồn
giống cung cấp cho các vùng nuôi và phục hồi tái tạo nguồn lợi tự nhiên [29].


12
Chương 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.2. Vật liệu nghiên cứu
Bảng 2.1. Các dụng cụ và hóa chất nghiên cứu
Dụng cụ thí nghiệm
- Bộ giải phẫu: dùi, kéo các loại, panh các loại, dao
- Khay cốc thủy tinh 100ml, 200ml, 500ml
- Cân, thước panme
- Đĩa Petri, lam kính, lamen, pipet.
- Bôcan đựng mẫu
- Kính hiển vi, máy ảnh
2.4. Phương pháp nghiên cứu

Hóa chất thí nghiệm
- Muối NaCl tinh khiết
- Nước cất
- Nước muối sinh lí 0,85%
- Cồn 900 và formalin
- Dung dịch Bouin

2.4.1. Sơ đồ khối nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh sản
của cá Chuối hoa (Channa macurata Lacépède, 1802) tại Thanh Hóa

Điều tra
hiện trường

Đặc điểm về
hình thái

Nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm

2.4.2. Phương pháp thu thập vật mẫu
Tiến hành thu mẫu từ ngư dân khai thác hoặc bến cá, chợ cá ở các vùng
ven sông ở khu vực Thanh Hóa. Tiến hành thu mẫu theo tháng và các mẫu thu
sau khi thu được xác định khối lượng bằng cân điện tử, đo chiều dài cá bằng
thước đo có độ chính xác đến mm.
Tiến hành mổ cá ngay khi cá còn tươi để thu tuyến sinh dục. Cá được mổ
bụng theo hình vòng cung kéo dài từ hậu môn lên đến vây ngực. Sau đó lấy tuyến
sinh dục loại bỏ phần mỡ bám vào tuyến sinh dục và tất cả các phần khác rửa
sạch máu và cân tuyến sinh dục bằng cân điện tử. Tuyến sinh dục được cố định
bằng dung dịch Bouin, tuyến tiêu hóa và phần cơ thể còn lại được bảo quản trong
dung dịch formalin 10% hoặc cồn 700. Các mẫu này được tiến hành cắt lớp,
nhuộm tại Khoa giải phẫu bệnh - Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An.
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái:
Xác định các chỉ tiêu hình thái theo Pravdin (1961) [19]
Các chỉ tiêu hình thái thu thập và ký hiệu gồm:
- Các số đo: Chiều dài toàn thân (L); chiều dài chuẩn (Lo); dài đầu (T);
dài cuống đuôi (Lcd); chiều cao lớn nhất của thân (H); chiều cao cuống đuôi
(ccd); đường kính mắt (O); chiều dài mõm (Ot); khoảng cách giữa 2 ổ mắt (OO).
- Các chỉ tiêu số lượng: Số tia vây ngực (P); số tia vây lưng (D); số tia vây
bụng (V); số tia vây hậu môn (A); số vảy đường bên (L.l); số hàng vảy trên


15
đường bên tính tới khởi điểm vây lưng; số hàng vảy dưới đường bên tính tới khởi
điểm vây bụng; số lược mang ở cung mang 1 và số đốt sống.
2.4.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng
- Hàng thàng tiến hành thu mẫu, cân khối lượng và đo chiều dài của cá
Chuối hoa bằng cân điện tử và thước panme.
- Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân theo
Laurence, 1951:

- Xác định tuổi cá bằng cách đếm các vòng sinh trưởng biểu hiện trên vảy
theo hướng dẫn nghiên cứu của Pravdin, 1973 [19].
Lấy từ mỗi con cá 5 - 10 vảy ở hai bên sườn phía trên đường bên. Xử lý
sạch vảy bằng dung dịch NaOH 5 - 10%, dùng bàn chải mềm làm sạch chất nhờn
trên vảy. Dùng kính hiển vi quan sát.
+ Vòng tuổi của cá Chuối hoa trên vẩy đường bên
Việc xác định tuổi cá được nghiên cứu qua vẩy cá theo Pravdin (1961)
[19]: Vòng tuổi trên vẩy là các vòng sẫm màu hình thành vào thời kỳcá tăng
trưởng chậm, còn các vòng sáng hình thành vào thời kỳ cá tăng trưởng nhanh, và
các vòng tối rất hẹp so với vòng sáng.
+ Phân biệt vòng tuổi và vòng phụ: Khi quan sát vẩy cá thấy có sự xuất
hiện vòng phụ. Các vòng phụ này là những lớp xương kế tiếp vòng tuổi, độ rộng,
hẹp của những vòng này có biến đổi, tuy nhiên các vòng phụ này là những vòng
đứt quãng, không liên tục và không song song với mép của lát cắt như vòng tuổi.
Theo Pravdin (1961) thì vòng phụ hình thành do kết quả thay đổi đột ngột, ngẫu
nhiên, không mang tính chất chu kỳ của điều kiện môi trường như dinh dưỡng
kém hoặc do bệnh tật [19].
Ở một số cá cái đã tham gia sinh sản, từ vòng tuổi năm thứ ba trở đi
thường xuất hiện một vòng nhỏ kế cận với vòng tuổi.
- Xác định khối lượng và chiều dài cá bằng cân điện tử và thước panme có
độ chính xác cao.
- Xác định giới tính: mô tả đặc điểm hình thái.
- Giải phẫu quan sát tuyến sinh dục để xác định mức độ thành thục của
tuyến sinh dục theo thang 6 bậc của O.F Xakun và N.A Butskaia [26]. (số mẫu
xử lý > 30 mẫu).


17
Từ kết quả số liệu thu được sẽ thiết lập được mối quan hệ giữa tuổi với
chiều dài và giữa tuổi với khối lượng. Kết hợp với việc phân tích tổ chức mô học

18
mạch máu nhỏ. Khẽ ấn vào tinh sào, không thấy sẹ lỏng chảy ra. Khi cắt ngang
tinh sào, các mép của nó không tròn mà sắc cạnh. Cá ở giai đoạn này khá lâu,
nhiều loài cá từ mùa thu đến mùa xuân năm sau.
+ Giai đoạn IV: Các tuyến sinh dục hầu như đạt đến mức phát triển cao
nhất. Buồng trứng rất lớn và chiếm khoảng 2/3 khoang bụng. Hạt trứng lớn,
trong suốt và khi ấn có noãn bào chảy ra. Khi cắt buồng trứng và nạo bằng kéo,
trứng rời ra từng cái một. Tinh sào màu trắng chứa đầy sẹ, rất dễ chảy ra khi ta ấn
nhẹ vào bụng cá. Nếu cắt ngang tinh sào, các mép của nó tròn lại ngay và chỗ cắt
có dịch nhờn chảy ra. Giai đoạn này ở một số cá không lâu và nhanh chóng
chuyển sang giai đoạn sau.
+ Giai đoạn V: Trứng và sẹ chín đến nỗi mà khi ta ấn nhẹ tay một cái
xuống bụng cá, nó liền chảy ra ngay, không phải từng giọt mà từng tia. Nếu cầm
ngược cá lên và lắc nhẹ thì trứng và sẹ chảy tự do.
+ Giai đoạn VI: Các cá thể sau khi đẻ. Sản phẩm sinh dục được đẻ hết.
Xoang cơ thể rỗng. Buồng trứng và tinh hoàn rất nhỏ, nhão, sưng lên, có màu đỏ
sẫm. Thường thường trong buồng trứng còn lại một ít trứng nhỏ, Những trứng đó
chuyển biến và thoái hóa đi. Qua một vài ngày nó mọng lên và tuyến sinh dục
chuyển sang giai đoạn II-III.
- Phương pháp xác định sức sinh sản và kích thước trứng: Các mẫu trứng
sẽ tiến hành đếm để ước tính số lượng trứng trên cá thể. Áp dụng các công thức
để tính sức sinh sản tương đối và tuyệt đối. Mỗi một buồng trứng, lấy khoảng
200 trứng, đo đường kính trứng qua kính hiển vi để xác định kích thước trứng.
- Xác đinh mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản được xác định dựa trên cơ sở chín muồi sinh dục và
những khảo sát trực tiếp trên sông
2.4.7 Phương pháp nuôi thuần dưỡng cá Chuối hoa
+) Phương pháp bố trí thí nghiệm
Cá được nuôi thuần dưỡng trong giai trong ao với 3 công thức thức ăn,
mỗi công thức lặp lại 3 lần,trong đó:


Giai 9
CT2

+) Môi trường sống của cá.
- Cá được nuôi trong giai tại ao số 1 trại ngọt Hưng Nguyên.
- Số lượng giai: 9 cái, diện tích: 2x3x2m
- Điều kiện môi trường tại ao:
Độ mặn

< 6‰

Độ trong
DO
pH
Nhiệt độ

20 - 30
> 3mg/l
6,5 - 8
20 - 30

* Mật độ nuôi cá thuần dưỡng
- Cá nuôi thuần dưỡng với mật độ 3,3 con/m 3 (40 con/giai), cá nuôi trong
9 giai thí nghiệm, tổng đàn cá nuôi thuần dưỡng là 360 cá thể.
+) Chăm sóc và quản lý
- Thức ăn sử dụng nuôi thuần dưỡng là cá tạp, thức ăn công nghiệp có độ
đạm 45%.
- Cho ăn ngày 2 lần, sáng 7h và chiều 17h, khẩu phần 3-5% TLT.
- Cách cho ăn: bỏ thức ăn vào nhá cho ăn và thả xuống cho cá ăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status