Luận văn
TÁI BẢO HIỂM VÀ THỰC
TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÁI
BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM
1
MỤC LỤC
trang
LỜI NÓI ĐẦU ---------------------------------------------------
1
CHƯƠNG I- TỪ BẢO HIỂM TỚI TÁI BẢO HIỂM
I. TỪ BẢO HIỂM ĐẾN TÁI BẢO HIỂM
3
1. Lịch sử phát triển của tài bảo hiểm
3
1.1 Khái niệm về tái bảo hiểm
3
1.2 Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm
3
9
4.2. Tái bảo hiểm bắt buộc
11
4.3. Tái bảo hiểm lực chọn – bắt buộc
12
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM
12
1. Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
12
1.1. Định nghĩa
12
1.2. Tính chất
13
1.3. Các dạng Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
13
2.5. Phi Tái bảo hiểm theo hợp đồng Tái bảo hiểm phi tỷ lệ
25
2.6. Tái lập trách nhiệm theo hợp đồng
28
CHƯƠNG II - THỊ TRƯỜNG TÁI BẢO HIỂM THẾ GIỚI
I. Các bên tham gia vào thị trường tái bảo hiểm
30
1. Khái niệm về thị trường Tái bảo hiểm
30
1.1. Định nghĩa
30
1.2. Đặc điểm
30
2. Các thành viên tham gia vào thị trường Tái bảo hiểm
31
2. Một số nhận định về thị trường Tái bảo hiểm thế giới trong
tương lai
44
3
2.1. Xu hướng cạnh tranh và phí
44
2.2. Sự hợp nhất các nhà Tái bảo hiểm chuyên nghiệp
45
2.3. Thay đổi cung cầu trên thị trường Tái bảo hiểm thế giới
46
2.4. Tái bảo hiểm tỷ lệ hay phi tỷ lệ
46
CHƯƠNG III - THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÁI BẢO HIỂM Ở
VIỆT Nam
Ơ
I. Quá trình phát triển của Tái bảo hiểm ở Việt Nam
II. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM CỦA VINARE
56
1. Sù ra đời và chức năng nhiệm vụ của công ty Tái bảo hiểm
quốc gia Việt Nam (VINARE)
56
1.1. Sù ra đời của VINARE
56
1.2. Chức năng và quyền hạn của VINARE
57
2. Hoạt động kinh doanh của VINARE
59
2.1. Tình hình kinh doanh nói chung
59
2.2. Mức Tái bảo hiểm bắt buộc của VINARE
63
2.3. Kinh doanh nhận Tái bảo hiểm
68
Tái bảo hiểm
1.3. Thuận lợi và khó khăn của thị trường Tái bảo hiểm
70
2. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường Tái bảo hiểm ở
72
Việt Nam
2.1. Giải pháp từ phía các công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm
72
2.2. Một số kiến nghị đối với Nhà nước
76
KẾT LUẬN
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
80
PHỤ LỤC
bảo hiểm cũng chính là Bảo hiểm khi các công ty Bảo hiểm gốc Bảo hiểm rủi
ro một lần nữa. Thông qua các hoạt động Tái bảo hiểm, một luồng tiền tệ đã
xuất hiện và chu chuyển trong thị trường tiền tệ Việt Nam cũng như giữa thị
trường tài chính Việt Nam với thị trường tài chính quốc tế. Nh vậy, có thể coi
Tái bảo hiểm nh là một hoạt động tài chính đối ngoại và đóng góp của nó vào
việc điều hoà dòng chảy ngoại tệ khỏi Việt Nam là vô cùng to lớn.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh
tế Việt Nam rất cần những động lực mới để phát triển. Trong bối cảnh đó, thị
trường bảo hiểm - Tái bảo hiểm sẽ là một nhân tố tích cực góp phần vào quá
trình phát triển của nền kinh tế. Tuy nghiệp vụ Tái bảo hiểm chưa được giảng
dạy chính thức ở trường Đại học Ngoại thương, song xuất phát từ thực tiễn trên
đây đề tài “Tỏi bảo hiểm và thực tế thị trường Tái bảo hiểm ở Việt Nam” được
chọn để nghiên cứu. Khoá luận trình bày những nét cơ bản nhất về Tái bảo
hiểm cùng một số thông tin về thị trường Tái bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đú, khoỏ luận cũng trình bày một số kiến nghị và giải pháp nhằm
thúc đẩy thị trường Tái bảo hiểm ở nước ta phát triển. Khoá luận bao gồm ba
chương:
Chương I: Khái niệm chung về Tái bảo hiểm.
Chương II: Thị trường Tái bảo hiểm.
Chương III: Thực tế thị trường Tái bảo hiểm ở Việt Nam.
6
Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức còn hạn chế nờn
Khoỏ luận này không tránh khỏi sai sót. Vì vậy em rất mong nhận được những
ý kiến nhận xét của các thầy cô giáo và các bạn.
Nhân đây, em còng xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo tổ bộ
môn Vận tải và Bảo hiểm trong Ngoại thương, đặc biệt là thầy Phan Anh Tuấn
đã hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện Khoá luận tốt nghiệp.
Em còng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt
- Do phương pháp và kỹ thuật xác định phí Bảo hiểm khụng chớnh xác,
thu không đủ bù chi sẽ dẫn đến phá sản.
- Do đối tượng tham gia Bảo hiểm hoạt động ở địa bàn quá xa, công ty
không đủ khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro.
Để tránh phá sản, các công ty bảo hiểm thường áp dụng hai biện pháp cơ
bản là Đồng bảo hiểm và Tái bảo hiểm. Đồng bảo hiểm có nghĩa là nhiều công
ty Bảo hiểm cùng Bảo hiểm cho một đối tượng tham gia. Nó có tác dụng phân
tán rủi ro để tránh phá sản. Tuy vậy, nú cú hai nhược điểm lớn là:
- Việc ký kết hợp đồng thường bị kéo dài.
8
- Nếu có tổn thất xảy ra, việc bồi thường rất khó tập trung dẫn đến tình
trạng đối tượng tham gia Bảo hiểm dễ nghi ngờ khả năng tài chính của công ty
Bảo hiểm.
Để khắc phục những tồn tại trên, người ta thường sử dụng biện pháp Tái
bảo hiểm. Trong Tái bảo hiểm, công ty Bảo hiểm ban đầu là công ty gốc (hay
công ty nhượng Tái bảo hiểm) đóng vai trò người tham gia Bảo hiểm trong hợp
đồng Tái bảo hiểm.
1.3. Khái quát lịch sử ra đời và quá trình phát triển cuả tái bảo
hiểm
Như chóng ta đều biết, ngành Bảo hiểm không phải là một khái niệm
trùng lặp mà nó mang tính giai cấp sõu sắc,vỡ một mặt bản chất và nhiệm vụ
của nó được xác định qua những trật tự xã hội khác nhau và các qui luật kinh tế
cơ bản của xã hội đó, măt khác hoạt động của nó có tác dụng trở lại đối với sự
phát triển của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của xã hội đó. Vì vậy, sự
phát triển của ngành Bảo hiểm nói chung và của Tái bảo hiểm nói riêng đều
gắn chặt với sự phát triển của xã hội và của nền sản xuất hàng hoá.
1.3.1- Giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của Tái bảo hiểm
1.3.2- Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
Giai đoạn này được đặc trưng thông qua các biến động lớn sau đây:
- Sù phục hồi nhanh chóng của các công ty Tái bảo hiểm của CHLB
Đức: Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai các công ty Tái bảo hiểm Đức đã bị
cắt đứt quan hệ với quốc tế và năm 1947 lại bị cấm không cho hoạt động ở
nước ngoài. Nhưng ngay sau khi lệnh cấm này được bãi bỏ, năm 1950, thỡ cỏc
công ty Tái bảo hiểm ở CHLB Đức đã nhanh chóng khôi phục lại địa vị truyền
thống của mình. Đến những năm 70, tổng doanh thu phí của thị trường CHLB
Đức đã chiếm vị trí thứ ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.
- Sù thành lập các công ty Bảo hiểm nhà nước ở các nước XHCN ảnh
hưởng nhiều đến sự phát triển của Tái bảo hiểm quốc tế. Các nước này đã tiến
hành biện pháp độc quyền về Tái bảo hiểm, hạn chế quan hệ với thị trường Tái
bảo hiểm TBCN đồng thời không tiến hành Tái bảo hiểm cho các loại hình Bảo
hiểm đối nội.
- Tại các nước chậm phát triển hay mới giành được độc lập, những tổ
chức độc quyền về Tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã được thành lập nhằm
bảo vệ lợi Ých riêng của họ. Sự kiện này thu hẹp phạm vi hoạt động của các
công ty Tái bảo hiểm quốc tế ở những nước đó.
10
- Trong thời gian này, hình thức Tái bảo hiểm không theo tỷ lệ là hình
thức tối ưu nhất đáp ứng nhu cầu đảm bảo của các công ty Bảo hiểm gốc và
ngày càng được phổ biến. Điều này làm cho các nhà Tái bảo hiểm có khó khăn
hơn trong việc tớnh phớ phù hợp với phần rủi ro mà họ phải chịu. Hơn nữa đó
khả năng xảy ra tổn thất ngày càng tăng vì vậy đặc điểm của giai đoạn này là
chiều hướng gia tăng của kết quả kinh doanh quỹ đầu tư tiền tệ Bảo hiểm thông
qua lãi suất cao đồng thời với chiều hướng ngày càng giảm của kết quả kinh
doanh Tái bảo hiểm đơn thuần
2. Một số nguyên tắc về pháp lý của hợp đồng Tái bảo hiểm
đặc trưng trong Tái bảo hiểm. Trong hợp đồng Tái bảo hiểm, nguyên tắc này
phải đặc biệt được tôn trọng. Cụ thể là công ty nhượng tái phải cung cấp đầy đủ
mọi thông tin liên quan tới đối tượng Bảo hiểm cho công ty nhận tái biết, nếu
có rủi ro xảy ra thì phải thông báo và tính toán tổn thất một cách trung thực.
Ngược lại công ty nhận tái cũng phải trung thực trong việc đưa ra những thống
kê tổn thất trên thị trường thế giới để tớnh đỳng phớ Tái bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thường (Principle of indemnity) cho phép công ty nhượng
tái được toàn quyền hành động trong việc giải quyết khiếu nại, trừ khi có quy
định khác trong hợp đồng Tái bảo hiểm. Kết quả của việc giải quyết khiếu nại
đó sẽ được các công ty nhận tái chấp thuận. Tuy nhiên theo nguyên tắc này khi
công ty nhượng tái muốn đòi bồi thường từ công ty nhận tỏi thỡ phải chứng
minh được tổn thất rơi vào phạm vi hợp đồng Tái bảo hiểm. Cách thức tính
toán và thanh toán bồi thường tuỳ thuộc vào từng phương thức Tái bảo hiểm và
điều khoản thanh toán được quy định trong hợp đồng.
3.Tác dụng của Tái bảo hiểm
3.1. Đối với công ty nhượng Tái bảo hiểm
Tác dụng đầu tiên là Tái bảo hiểm giúp cho công ty nhượng tái có thể
tăng khả năng nhận Bảo hiểm và có thể nhận Bảo hiểm cho những rủi ro lớn
mà không cần phải tăng thêm vốn, tức là tăng khả năng ký kết của người Bảo
12
hiểm, đặc biệt là đối với các công ty mới thành lập, vốn kinh doanh còn hạn
chế:
Mức ký kết = Mức giữ lại + Khả năng cung cấp bởi người nhận Tái bảo hiểm
Thứ hai, Tái bảo hiểm đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường
trong trường hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm
hoạ, chẳng hạn như một trận bão đánh vào hàng nghìn hợp đồng trong cùng
một sự cố. Nhờ đó tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty
nhượng Tái bảo hiểm ổn định hơn.
Trong suốt nhiều thế kỷ qua, các nhà Tái bảo hiểm chỉ áp dụng một hình
thức Tái bảo hiểm duy nhất. Đó là “Tỏi bảo hiểm tuỳ ý lùa chọn cho từng rủi ro
riêng biệt”. Đầu thế kỷ XIX, để đáp ứng nhu cầu của ngành Bảo hiểm đang
ngày càng phát triển mạnh mẽ, ngành Tái bảo hiểm đã bắt đầu phát triển nhanh
chóng và nhiều hình thức Tái bảo hiểm mới được thiết lập. Trong lý thuyết
cũng như trên thực tế, Tái bảo hiểm được phân loại theo ba hình thức: Tái bảo
hiểm tuỳ ý lùa chọn, Tái bảo hiểm bắt buộc và Tái bảo hiểm lùa chọn-bắt buộc.
4.1. Tái bảo hiểm tuỳ ý lùa chọn (Facultative Reinsurance)
Thủ tục để tiến hành thực hiện một hợp đồng Tái bảo hiểm tuỳ ý lùa
chọn bao gồm:
- Trước hết công ty nhượng thông báo cho nhà Tái bảo hiểm một dịch vụ
nào đó mà họ cần Tái bảo hiểm dưới hình thức một phiếu đề nghị (Slip), trong
đó có ghi các đặc điểm chính của rủi ro cần Tái bảo hiểm.
- Sau khi nhận được phiếu đề nghị này, nhà Tái bảo hiểm có toàn quyền
tự do lùa chọn nhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay bằng một số tiền cố
định trên cơ sở rủi ro được đề nghị. Nhà Tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia
của mình thông thường bằng cách ghi trực tiếp vào bản thứ hai của phiếu đề
nghị và gửi trả lại công ty nhượng. Dĩ nhiên nhà Tái bảo hiểm có quyền khước
từ tham gia vào hợp đồng nếu họ không muốn.
14
- Dịch vụ Tái bảo hiểm này cũng sẽ tự động chấm dứt hiệu lực nếu như
đến ngày mãn hạn hợp đồng Bảo hiểm gốc mà không có sự tái lập hợp đồng,
tuy nhiên dù hợp đồng Bảo hiểm gốc có tái lập thì cũng không có nghĩa là nhà
Tái bảo hiểm buộc phải tiếp tục nhận hợp đồng Tái bảo hiểm cho thời kỳ kế
tiếp, mà họ có quyền tự do lùa chọn tiếp tục nhận hay từ chối không tham gia
tiếp nữa, trừ khi có sự giao kết nào khác.
* Ưu điểm:
trước trong hợp đồng cho tới một hạn mức trách nhiệm ngang với số tiền hạn
mức tối đa đã được thoả thuận từ trước. Ngược lại công ty nhận Tái bảo hiểm
cũng phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó. Với hình thức này công ty
nhượng có toàn quyền tự do chấp nhận và định giá phí Bảo hiểm cho những
đơn vị rủi ro mà người được Bảo hiểm yêu cầu Bảo hiểm và không cần tham
khảo trước ý kiến của công ty nhận Tái bảo hiểm.
* Thủ tục thu xếp hợp đồng Tái bảo hiểm bắt buộc:
- Công ty nhượng gửi cho nhà Tái bảo hiểm những số liệu thống kê về
những rủi ro (Số lượng, số tiền Bảo hiểm, tổn thất…) thuộc loại hình dịch vụ
dự định Tái bảo hiểm bằng hợp đồng Tái bảo hiểm bắt buộc.
- Cỏc bên sẽ trao đổi đàm phán các chi tiết của hợp đồng: phạm vi bảo
vệ, các điều khoản hợp đồng…Nếu chấp nhận, nhà Tái bảo hiểm sẽ xác nhận
bằng văn bản việc nhận Tái bảo hiểm cho mọi đơn vị rủi ro mà công ty nhượng
tái theo nghĩa vụ đã thoả thuận.
* Ưu điểm:
- Hợp đồng Tái bảo hiểm bắt buộc phải giảm đáng kể các chi phí hành
chính, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý nghiệp vụ.
- Công ty nhượng chủ động trong cung cấp dịch vụ mà không phụ thuộc
vào công ty nhận Tái bảo hiểm.
* Nhược điểm:
16
- Hình thức này mang tính cố định trong khoảng thời gian ghi trong hợp
đồng, do đó thiếu tính linh hoạt khi công ty nhượng muốn điều chỉnh hợp
đồng.
- Do công ty nhượng phải tái đi tất cả những đơn vị rủi ro mà hai bên đã
thoả thuận nên công ty nhượng sẽ phải tái đi cả những rủi ro mà họ có đủ khả
năng giữ lại. Điều này làm giảm hiệu quả kinh doanh của họ.
4.3. Tái bảo hiểm lùa chọn-bắt buộc (Fac-obli Reinsurance)
1.2. Tính chất
- Trách nhiệm của công ty nhượng và công ty nhận Tái bảo hiểm được
tính theo tỷ lệ tương ứng của mỗi bên tham gia.
- Phí và tiền bồi thường được chia sẻ giữa công ty nhượng và công ty
nhận Tái bảo hiểm theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên về số tiền Bảo hiểm. Chẳng
hạn, nếu phần tham gia của nhà Tái bảo hiểm trên một rủi ro là 40% của giá trị
rủi ro đú thỡ họ cũng sẽ nhận được 40% của số phí Bảo hiểm và sẽ đóng góp
tiền bồi thường vào mỗi vụ tổn thất thuộc rủi ro đó là 40%.
1.3. Các dạng Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
1.3.1- Tái bảo hiểm mức dôi (Surplus)
a. Khái niệm: Tái bảo hiểm mức dôi là phương pháp Tái bảo hiểm mà ở
đó công ty nhượng Tái bảo hiểm giữ lại cho mỡnh một số tiền Bảo hiểm nhất
định, phù hợp với khả năng , phần vượt quá sẽ đem tái đi cho các công ty nhận
Tái bảo hiểm. Vì vậy, phí Bảo hiểm và phần bồi thường nếu có cũng được phân
bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận.
b. Ưu điểm và nhược điểm của Tái bảo hiểm mức dôi:
* Ưu điểm:
- Với dạng Tái bảo hiểm này công ty nhượng đảm bảo được sự cân bằng
trong kinh doanh và có thể nhận Bảo hiểm những rủi ro có giá trị lớn hơn khả
năng tài chính của mình.
18
- Tái bảo hiểm mức dụi cũn cú ưu điểm là công ty nhượng có điều kiện
giữ lại một khối lượng kim ngạch Bảo hiểm lớn và do đó có mức phí thu nhập
lớn không cần phải Tái bảo hiểm. Mức Tái bảo hiểm được khống chế bằng một
số tiền tối đa do hai bên thoả thuận khi tham gia vào hợp đồng Tái bảo hiểm.
* Nhược điểm:
- Chi phí hành chính tốn kém do phải tính toán phân bổ trách nhiệm cho
mức dôi thứ hai và sau đó là tuần tự các mức dôi tiếp theo.
1.3.2- Tái bảo hiểm số thành ( Quota share)
a. Khái niệm: Theo phương pháp này công ty nhượng giữ lại cho mình
một tỷ lệ phần trăm số tiền Bảo hiểm nhất định, phần còn lại đem tái cho các
công ty khác. Như vậy, phí Bảo hiểm hay trách nhiệm bồi thường nếu có cũng
được phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận.
* Ưu điểm :
- Đối với nhà Tái bảo hiểm, dạng Tái bảo hiểm này có tính cân đối và dễ
chấp nhận hơn dạng Tái bảo hiểm mức dôi, có khả năng phân tán rủi ro tốt
hơn, linh hoạt hơn các loại Tái bảo hiểm khác.
- Mức phí dạng Tái bảo hiểm này cao nhất, ngoài ra điều kiện về phí tạm
giữ (premium reserves) cũng có tỷ lệ cao, nhờ vậy công ty nhượng có điều kiện
huy động vốn đầu tư.
* Nhược điểm:
- Công ty nhượng phải đem Tái bảo hiểm toàn bộ các đơn vị rủi ro gốc
theo một tỷ lệ định trước, kể cả những rủi ro nhỏ mà công ty hoàn toàn có khả
năng giữ lại.
- Công ty nhượng không chủ động trong việc khống chế tỷ lệ bồi thường
đối với mức giữ lại của mình đồng thời không có khả năng giảm hệ số biến
thiên của phần tổn thất thuộc mức giữ lại.
20
b. Kỹ thuật thực hiện phương pháp Tái bảo hiểm số thành
Với dạng Tái bảo hiểm này ngay từ khi bắt đầu thoả thuận giữa công ty
nhượng và nhà Tái bảo hiểm, mức giữ lại của công ty nhượng được Ên định
bằng một tỷ lệ đồng nhất cho mọi rủi ro được Bảo hiểm. Chẳng hạn, nếu công
ty nhượng dự kiến giữ lại 20% của toàn bộ nghiệp vụ Bảo hiểm vỏ tàu, máy
móc và đem Tái bảo hiểm 80% còn lại thì tỷ lệ về trách nhiệm, phí thu và bồi
thường tổn thất… phân bổ giữa công ty nhượng và nhà Tái bảo hiểm đều được
đem Tái bảo hiểm. Hoa hồng Tái bảo hiểm hoàn toàn khác với môi giới phí, là
số tiền mà nhà Tái bảo hiểm phải trả riêng cho người môi giới khi dịch vụ Bảo
hiểm được tái Bảo hiểm gián tiếp qua môi giới.
1.4.2- Đặc điểm
- Thông thường trong các dạng Tái bảo hiểm, hoa hồng Tái bảo hiểm chỉ
áp dụng cho dạng Tái bảo hiểm tỷ lệ.
- Điều cơ bản là nhà Tái bảo hiểm cần thiết phải trả cho công ty nhượng
một khoản hoa hồng đủ để chi phí cho việc điều hành dịch vụ của công ty
nhượng. Hoa hồng Tái bảo hiểm được tính toán trên cơ sở tổn thất thực tế, số
phớ Tỏi bảo hiểm… nên đôi khi hoa hồng có thể cao hơn hoặc thấp hơn chi phí
thực tế mà họ bỏ ra.
- Kết quả thực tế về tổn thất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tài chính
của công ty nhượng. Nếu kết quả thực tế xấu hơn dự kiến thì công ty nhượng
vẫn có thể cú “lói” do hoa hồng Tái bảo hiểm trong khi kết quả của công ty
nhận Tái bảo hiểm là thua lỗ. Ngược lại, nếu kết quả thực tế tốt hơn so với kế
hoạch thì công ty nhận Tái bảo hiểm lại thu được rất nhiờự lợi nhuận.
1.4.3- Các loại hoa hồng Tái bảo hiểm
22
* Hoa hồng Tái bảo hiểm cố định (Fixed Rate): là một khoản tiền mà
công ty nhận Tái bảo hiểm trả cho công ty nhượng được biểu thị bằng một tỷ lệ
phần trăm cố định của số phí Tái bảo hiểm.
* Hoa hồng Tái bảo hiểm theo thang luỹ tiến (Sliding Scale
Commission): Cơ sở để tính hoa hồng theo thang luỹ tiến là lấy mức hoa hồng
cố định làm chuẩn từ đó quy định mức tăng giảm theo tỷ lệ bồi thường. Như
vậy kết quả bồi thường càng thấp thì tỷ lệ hoa hồng càng tăng lên và ngược lại.
Thông thường vào đầu kỳ, nhà Tái bảo hiểm sẽ trả cho công ty nhượng
một khoản hoa hồng ở mức tối thiểu. Sau đó, vào cuối kỳ nghiệp vụ Bảo hiểm,
một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý trong nhiều năm tham gia hợp đồng Tái bảo hiểm.
1.5. Phí tạm giữ và bồi thường:
* Phí tạm giữ (Premium reserve): Phí tạm giữ là một khoản dự phòng
riờng giỳp cho công ty nhượng trong việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ
Bảo hiểm gốc trước khi quyết toán đòi bồi thường của nhà Tái bảo hiểm. Nh
vậy, việc thanh toán Tái bảo hiểm có thể thực hiện theo định kỳ. Ngoài ra, đối
với một số nước việc giữ lại một khoản phí Tái bảo hiểm của nhà Tái bảo hiểm
là một điều kiện quan trọng trong việc thực hiện thanh toán cân đối của những
dịch vụ Tái bảo hiểm chuyển ra nước ngoài và cũng là mối quan hệ giữa sự bảo
lãnh của nhà Tái bảo hiểm và khả năng thanh toán của công ty nhượng. Thông
thường, khoản dự phòng này được tính bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của
phí Tái bảo hiểm toàn phần (khoảng 35-40%). Phí tạm giữ sẽ được hoàn trả cho
nhà Tái bảo hiểm vào thời điểm tương ứng của năm kế tiếp và được tớnh thờm
một khoản lãi nhất định (lãi suất 3-5%).
* Bồi thường tạm giữ (Loss Reserve): Bồi thường tạm giữ là một khoản
tiền mà công ty nhượng tính toán trên cơ sở những vụ tổn thất đã xảy ra nhưng
chưa được giải quyết trong năm. Khoản này công ty nhượng sẽ giữ lại không
thanh toán cho nhà Tái bảo hiểm vào thời điểm quyết toán của năm tài chính
mà dùng để thanh toán cho các vụ tổn thất trong kỳ thanh toán tiếp theo.
Thông thường mức tạm giữ bồi thường là 100% tổng số tiền ước tính. Khoản
này sẽ được hoàn trả vào thời kỳ tương ứng của năm kế tiếp cho nhà Tái bảo
hiểm, đồng thời công ty nhượng phải trả lãi theo một mức lãi suất đã thoả
thuận.
* Bồi thường trả ngay (Cash loss): Bồi thường trả ngay là khoản bồi
thường mà nhà Tái bảo hiểm phải thanh toán ngay cho công ty nhượng,
24
không dùng để đối trừ trong thời kỳ thanh toán theo quy định chung của hợp
đồng Tái bảo hiểm. Thông thường, khoản tiền này được yêu cầu thanh toán