Tác động của lãi suất đến tốc độ tăng trường kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007-2012 - Pdf 33

Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

LỜI MỞ ĐẦU
Lãi suất luôn được coi là một biến số nhạy cảm đối với nền kinh tế. Nó tác động đến lợi ích của
các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng rất lớn đến nhà lợi nhuận của các nhà kinh doanh tài chính, quyết
định hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Lãi suất là một chủ đề thu
hút khá nhiều sự quan tâm của mọi người trong xã hội, đặc biệt là các nhà kinh doanh trong thị
trường tài chính và nó cũng tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Không thể phủ nhận vai trò của lãi suất trong việc điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô. Muốn điều hành
nền kinh tế có hiệu quả, Nhà nước phải nghiên cứu, nắm bắt tác động của lãi suất. Đối với Việt Nam,
vai trò của lãi suất thể hiện quan trọng hơn trong việc phát triển kinh tế thị trường, đặc biệt khi nước
ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong những năm gần đây, lãi suất thực
sự đã trở thành một trong vấn đề cấp thiết hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, việc dự báo
và kiểm soát được mức độ biến động của lãi suất vô cùng phức tạp. Để minh chứng tầm quan trọng
cũng như mức độ ảnh hưởng của lãi suất đối với sự phát triển kinh tế. Nhóm chúng em làm về đề tài
“Tác động của lãi suất đến tốc độ tăng trường kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007-2012”. Mặc dù,
nhóm đã cố gắng nỗ lực hoàn thành đề tài nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót.
Nhóm kính mong cô góp ý chân thành để những đề tài tiểu luận tới nhóm có thể có kết quả tốt
hơn nữa.


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

I.

Các học thuyết về lãi suất
1. Khái niệm và đặc điểm cơ bản của lãi suất
1.1 Khái niệm

- Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng
vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ

phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng Trương Ương cấp
tiền vay cho ngân hàng.


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

Lãi suất tái chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành cho các NHTM,trong trường
hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá.Lãi suất
tái chiết khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay
khác trong khung lãi suất được phép.
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên
ngân hàng. Lão suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường
liên ngân hàng.
Lãi suất cơ bản: là lãi suất để các ngân hàng sử dụng làm cơ sở ấn định lãi suất kinh doanh của mình.
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước nhưng đều được hình thành trên cơ sở thị
trường và có một mức lợi nhuận bình quân cho phép.
2.1.2. Căn cứ vào giá trị của tiền lãi:
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ. Lãi suất danh nghĩa thường
được công bố chính thức trong các hợp đồng tín dụng và ghi rõ trên công cụ nợ.
Lãi suất thực: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát. Lãi suất
thực phản ánh chính xác khoản thu nhập thực tế từ tiền lãi mà người cho vay nhận được.
Lãi suất thực trả: Lãi suất ghi trên hợp đồng thường là tỷ lệ %/năm, tuy nhiên việc trả lãi thường lại
diễn ra định kì hằng tháng, quý…do đó so với mức lãi suất ghi trên hợp đồng thì lãi suất thực trả sẽ
cao hơn lãi suất trên hợp đồng.
2.1.3. Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất
Lãi suất cố định: là lãi suất được quy định cố định trong thời hạn vay
Lãi suất thả nổi: là lãi suất được quy định và có thể lên xuống theo lãi suất thị trường theo thời hạn
tín dụng
2.1.4. Căn cứ vào loại tiền cho vay:
Lãi suất nội tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ

J.M.KEYNES rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ. Tuy nhiên quan điểm của M. Friedman
khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai trò của lãi suất. Nên Keynes cho rằng cầu tiền là một
hàm của lãi suất còn M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời
gian dài, ông đi đế khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu về tiền mà cầu
tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệm tính ổn định cao của cầu tiền tệ.
Có thể thấy rằng : quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền tệ đã rất thành công trong việc
xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng. Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này
là suy bản chất của lợi tức là bản chất của tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể.
Tóm lại, lãi suất là tỷ lệ % giữa khoản tiền người đi vay phải trả thêm cho người cho vay trên tổng
số tiền vay đầu một thời hạn nhất định để được sử dụng tiền vay đó.
Mô hình, nhận xét, giải thích
Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất

II.
1.

1.1 Lạm phát kỳ vọng
Khi giữ tiền, chúng ta phải chịu chi phí cơ hội của việc giữ tiền- đó là tiền lãi bị mất đi khi giữ tài
sản ở dạng tiền chứ không phải ở dạng tài sản sinh lời khác.
Khi lãi suất tăng nhẹ, chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng không đáng kể, lợi ích của việc giữ tiền
cho giao dịch và dự phòng vẫn lớn hơn chi phí nên người ta vẫn giữ lượng tiền như trước.
Ta thấy rằng: Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực tế - tỷ lệ lạm phát
Do đó, để duy trì tỷ lệ lãi suất không giảm, khi tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi suất cũng phải tăng lên
tương ứng,


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, người dân sẽ chuyển phần tiết kiệm của mình sang dự trữ hàng hóa
hoặc các dạng hình thức tài sản phi tài chính như vàng, ngoại tệ mạnh hơn là cho vay. Điều đó làm


Tiêu cực: Lãi suất tăng khiến nhiều doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay, mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.. Để tiếp tục duy trì sản xuất doanh nghiệp phải cắt giảm
các chi phí khác để đẩy mạnh doanh số bán hàng, thu hẹp đầu tư, vay vốn ngân hàng. Việc vay
vốn với lãi suất cao làm cho giá thành của sản phẩm cũng tăng theo.


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

r↑ → I↓ → AD↓ → Y↓ → P↓
r
SM

r2
r1

B
A
LM2
LM1

P
P1

P2

Đồ thị biểu thị tác động của lãi suất đến giá cả

Tích cực: Lãi suất giảm giúp ngân hàng giảm nhanh giá vốn, đẩy mạnh hoạt động tín dụng. Đồng
thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm chi phí vay vốn, qua đó hạ giá thành sản phẩm, nâng

Lãi suất tăng cao hơn sẽ phân phối lại thu nhập từ người vay tiền sang người gửi tiền. Điều này
làm tăng sức chi tiêu của người tiết kiệm, nhưng sự chi tiêu này bị hạn chế bởi mức tiêu dùng
cận biên (phần chi tăng thêm cho tiêu dùng trong mỗi giá trị thu nhập tăng thêm), do vậy người
tiết kiệm có xu hướng tăng chi tiêu dùng thấp hơn sự hạn chế chi tiêu đầu tư của người đi vay,
nhất là khi lãi suất tăng cao vượt tỷ suất lợi nhuận đầu tư và các danh mục đầu tư và dự án, làm
thu nhập của người đi vay giảm. Do vậy, dẫn đến tổng chi tiêu giảm, GDP giảm. Mặt khác, đối
với các hộ gia đình nắm giữ nhiều cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất tăng sẽ làm giảm giá tài sản tài
chính, do đó, giảm thu nhập, từ đó tạo sức ép giảm tiêu dùng của các hộ gia đình.
-

Chạy mô hình, phân tích, giải thích tác động, ảnh hưởng của lãi suất tới sự phát triển
KT VN giai đoạn 2007-2012

Bảng tốc độ tăng trường GDP các quý từ năm 2007-2012
Năm

2007

2008

2009

2010

2011

2012

GDP


5.72

4.41

6.44

5.71

4.8

Quý 3

8.46

5.98

5.98

7.18

6.02

5.05

Quý 4

8.46

5.89


8.25
8.25

2009

2010
8.125

2011
9

2012
9

7.08
7

8

9

9

11.1

7

8

9

8.25

7.08
6.31

9

8.125
6.87
5.89

5.32

5.03

GDP (%)
LSCB (%)

2007

2008

2009

2010

2011

Dependent Variable: Y
Method: Least Squares


Std. Error

t-Statistic

6.522794 -1.184190
0.034372 -4.169641
1.349010 2.429320
0.065950 -2.489534
Mean dependent var
S.D. dependent var
Akaike info criterion
Schwarz criterion
Hannan-Quinn criter.
Durbin-Watson stat

Prob.
0.2502
0.0005
0.0247
0.0217
6.220000
1.395346
3.141239
3.337581
3.193329
1.436988

2012


hai phía. Cùng với những khó khăn do kinh tế thế giới suy thoái, thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu,
thị trường vốn, thị trường lao động thì bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương,
tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực, nhất
là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả
nên chất lượng tăng trưởng chưa cao và chưa thật vững chắc.
- Năm 2010: tốc độ tăng trưởng kinh tế có chuyển biến tích cực tăng lên 6,78% so với năm 2009 do
hồi phục nên kinh tế, vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới, và thực hiện các chính sách


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, ngăn chặn lạm phát cao trở lại, chú
trọng đầu tư.
- Năm 2011 một loạt khó khăn và thách thức: Lạm phát tăng trở lại; kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn;
lãi suất tăng cao; doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tín dụng thu hẹp;
tỷ giá có những thời điểm biến động phức tạp. Những bất ổn trên đây do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là các cân đối vĩ mô không ổn định, thiếu vững chắc tiềm ẩn
trong nền kinh tế nước ta từ nhiều năm qua. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, chưa tập
trung quan tâm đến chiều sâu, đặc biệt là chưa coi trọng chất lượng và sự bền vững trong phát triển
của từng ngành, lĩnh vực nói riêng và của tăng trưởng toàn nền kinh tế nói chung.
- Năm 2012: Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối
cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý,
khẳng định tính kịp thời, đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp thực hiện của Trung
ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh
hưởng từ diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu cùng với việc thắt chặt tài khoá và tiền tệ trong nước
để kiềm chế lạm phát nên gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng
đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước nên kinh tế - xã hội có những chuyển biến tích cực và đúng
hướng. Kinh tế vĩ mô nhìn chung ổn định. Tăng trưởng ở mức hợp lý. Lạm phát được kiềm chế. Sản
xuất công nghiệp phát triển với những dấu hiệu phục hồi, hàng tồn kho có xu hướng giảm. Sản xuất

được hiểu là chỉ được áp dụng trong những tình huống đặc biệt cụ thể nào đó, và phải sử dụng nó
một cách chủ động.
Kinh nghiệm để kiểm soát lạm phát, người ta thường đưa mức lãi suất tiền gửi thật cao, cao hơn
cả lãi suất cho vay, lãi suất huy động cũng cao hơn lãi suất cho vay có nghĩa là giá mua quyền sử
dụng vốn cao hơn giá bán quyền sử dụng vốn và do vậy các tổ chức tín dụng phải chịu lỗ. Và do sử
dụng như là biện pháp tình huống, nên ngân sách nhà nước phải kịp thời bù lỗ cho các tổ chức tín
dụng để họ có thể tồn tại, biến các tổ chức tín dụng trỏ thành nam châm cực mạnh thu hút mọi nguồn
tiền thừa từ lưu thông về và do vậy góp phần chặn đứng được lạm phát và lẽ tất nhiên biện pháp này
không thể kéo dài, ngân hàng nhà nước phải theo sát các tín hiệu của thị trường để từng bước điều
chỉnh lãi suất theo xu hướng giảm dần, đến mức lãi suất phải đúng bằng lãi suất cho vay và sau cùng
là phải kéo xuống thấp hơn lãi suất cho vay
Ngược lại, với lãi suất quá thấp, người dân sẽ không gửi tiền và dẫn đến hoạt động của các
Ngân hàng kém hiệu quả, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy, ban hành một
chính sách lãi suất phù hợp kích thích được các hoạt động cho vay tài sản nói chung và vay tiền nói
riêng sẽ có tác động không nhỏ tới sự phát triển ổn định của kinh tế – xã hội.
Một trong những chức năng của ngân hàng trung ương (NHTW) nói chung là thiết lập một
mức lãi suất chính thức (chỉ đạo) trong thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) để kiểm soát lạm phát,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và bảo đảm rằng mức lãi suất này sẽ có hiệu lực thông
qua nhiều cơ chế truyền tải chính sách khác nhau. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, hầu hết NHTW các nước phát triển (là những nước chịu khủng
hoảng và suy thoái kinh tế nặng nề nhất) đã thực hiện CSTT nới lỏng.
Mặc dù lạm phát đang có xu hướng giảm rõ rệt nhưng nguy cơ bùng phát trở lại vẫn ở mức cao. Do
vậy, trong khi chờ hiệu quả của chính sách tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và cải thiện hiệu quả
chi tiêu ngân sách nhằm trị tận gốc căn bệnh “lạm phát kinh niên” ở Việt Nam, chính sách tiền tệ
vẫn là phương thuốc hàng đầu trong việc hạ cơn sốt lạm phát một cách nhanh chóng. Nói cách khác,


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

việc hạ lãi suất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay cần phải được cân nhắc thận

trong toàn xã hội và các tổ chức kinh tế.
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý phải đảm bảo được nguyên tắc: lãi suất phải bảo tồn
được giá trị vốn vay, đảm bảo tích lũy cho cả người cho vay và người đi vay. Cụ thể:
-

Tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)1
1 Tiểu luận: Vai trò của lãi suất trong việc phát triển kinh tế


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

2. Lãi suất với quá trình đầu tư:

Lãi suất là điểm gặp của những người tiết kiệm với những nhà đầu tư. Lãi suất làm dung hòa lợi ích
của các bên2.
Mọi doanh nghiệp đều chú ý vào lợi nhuận trước khi thực hiện đầu tư, đặc biệt là mọi khoản lợi
nhuận thu được từ việc đầu tư đó phải lớn hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Vì vậy,
khi lãi suất xuống thấp, việc đầu tư sẽ được đẩy mạnh trong các tổ chức kinh tế và ngược lại.
Khi thị trường biến động về tiền tệ, các doanh nghiệp dù có một số vốn lớn nhưng vẫn sẽ bị ảnh
hưởng bởi lãi suất, bởi thay vì phải đầu tư vào một cái gì đó cố định và sinh lời không cao, họ sẽ
chọn cách an toàn hơn như là mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng để lấy lời với một mức lãi
suất cao hơn. Trong thời kì nền kinh tế bị đình trệ, hàng hóa ứ đọng và hạ giá cần phải hạ lãi suất vì
nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân đầu tư, sự chênh lệch này sẽ khuyến
khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đầu tư.
Vì vậy, trong tình hình thị trường đang đứng lại như hiện nay, việc giảm lãi suất sẽ kích thích đầu tư
mạnh trong các doanh nghiệp và sẽ vực nền kinh tế trở lại và đi lên.
3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:

Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và tiết kiệm. Trong

nước ngoài sẽ rẻ hơn so với các nước khác.
5. Lãi suất với lạm phát:
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm phát. Trong thời kỳ lạm
phát, việc tăng lãi suất sẽ thu hẹp được lượng tiền lưu thông, dẫn đến lạm phát sẽ được kiềm chế.
-

Tuy nhiên, việc dùng lãi suất để khống chế lạm phát sẽ không phải là giải pháp lâu dài, vì tăng lãi
suất đồng nghĩa với giảm đầu tư, giảm chi tiêu  kinh tế sẽ bị trì trệ và chậm phát triển.
6. Vai trò của lãi suất với Ngân Hàng Thương Mại:

Lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, vừa là công cụ điều hành vi mô của
các Ngân Hàng Thương Mại.
Việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng sao cho phù hợp là điều thiết yếu, bởi lẽ, khi huy động tiền gửi
ngân hàng, nếu lãi suất quá thấp thì sẽ không ai gửi tiết kiệm vào ngân hàng, nhưng ngược lại, khi lãi
suất quá cao sẽ khiến người dân ồ ạt đem tiền đi tiết kiệm mà không màng đến đầu tư hay sản xuất,
kinh doanh.

Đồ thị biểu thị đầu tư tỉ lệ nghịch với lãi suất

B

r2

A
r1

I2

I1


đến lạm phát, giải quyết tình trạng ứ đọng nội tệ do các doanh nghiệp vay vốn bằng nội tệ gây ra
hiện tượng “Đô la hóa”.
- Tăng cường hoàn thiện môi trường pháp lí ngân hàng. Việccác ngân hàng bắt tay với nhiều cá nhân
rút vốn về tư lợi cá nhân gây tác động xấu đến nền kinh tế ngân hàng đã gióng lên hồi chuông đã
đến lúc các ngân hàng phải nâng cao năng lực pháp lí, pháp chế, cũng như Nhà nước phải tích cực
kiểm soát nguồn tiền đầu tư.
- Về lâu dài, khi các xu hướng đầu tư đã rõ nét, kinh tế ổn định thì nên thực hiện việc tháo dỡ trần lãi
suất huy động để rộng đường hơn cho việc tự do hóa lãi suất


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.

16.

rrency.profit/vn.sbv.currency.profit.1
http://123doc.vn/document/131836-ly-luan-chung-ve-lai-suat.htm
http://www.hvnh.edu.vn/sites/default/files/tai_nguyen/ManhHung-Laisuatvatygia.pdf
http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/bao-cao-vai-tro-cua-lai-suat-trong-phat-trien-kinhte-.373033.html
http://www.nganhangonline.com/tiet-kiem-tich-luy-6/tien-gui-lai-suat-theo-thoi-gian-thucgui-103.html


Nhóm 5 Phản Biện_Lãi suất và tốc độ tăng trưởng KT Việt Nam 2007-2012

20. http://www.agribank.com.vn/31/822/tin-tuc/tai-chinh-ngan-hang/2008/05/1610/lai-suat-tiet-

kiem-doi-tung-ngay.aspx
21. http://vneconomy.vn/2010122901294195P0C9920/tang-truong-gdp-nam-2010-dat-678.htm
22. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=10879

MỤC LỤC
I.

Các học thuyết liên quan
Khái niệm và đặc điểm cơ bản của lãi suất
Các loại hình lãi suất và chính sách lãi suất
Các học thuyết liên quan

Mô hình, nhận xét và giải thích
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1.1 Mức lạm phát kì vọng
1.2 Cung cầu của quỹ cho vay
1.3 Thuế thu nhập
1.4 Ngân sách cùa Chính Phủ
1.5 Các yêu tố khác của đời sống chính phủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status