Câu 1: Bạn hiểu thế nào về môi trường kinh doanh quốc tế?
* Khái niệm:
Môi trường kinh doanh nói chung được hiểu là tổng hợp các yếu tố,
các lực lượng xung quanh ảnh hưởng tới hoạt động và sự phát triển của
doanh nghiệp. Các lực lượng này cũng có thể được phân thành bên ngoài
hoặc bên trong. Lực lượng không kiểm soát được là các lực lượng bên
ngoài mà các chủ thể kinh doanh phải thích ứng với nó, nếu muốn duy trì
sự tồn tại của mình.
Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành
phân như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, cạnh tranh ...,
chúng tác động chi phối và mạnh mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, hình
thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt kịp
thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
* Phân loại môi trường quốc tế:
- Khi nghiên cứu môi trường ở trạng thái “tĩnh”, có thể chia môi
trường kinh doanh phân thành môi trường địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa,
thể chế.
- Khi đứng trên góc độ chức năng hoạt động (trạng thái động) thì mội
trường kinh doanh gồm môi trường thương mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư ...
- Khi đứng trên góc độ điều kiện kinh doanh thì môi trường kinh
doanh phân thành môi trường trong nước, mội trường quốc tế.
* Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh gồm có:
- Môi trường pháp luật: Hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các
nhà quản lý, các nhà kinh doanh phải quan tâm và nắm vững pháp luật:
Luật quốc tế, luật của từng quốc gia mà ở đó doanh nghiệp đã và sẽ hoạt
động, cũng như các mối quan hệ pháp luật tồn tại giữa các nước này và
giữa các nước trong khu vực nói chung.
1
2
điểm riêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân tộc và chịu ảnh hưởng
của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo.
- Môi trường cạnh tranh: Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh doanh
hoạt động trong môi trường và điều kiện cạnh tranh không giống nhau và
môi trường này luôn luôn thay đổi khi chuyển từ nước này sang nước khác.
Hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, một số doanh nghiệp có khả năng nắm
băt nhanh cơ hội và biến thời cơ thuận lợi thành thắng lợi. Nhưng cũng
không ít doanh nghiệp luôn gặp phải những khó khăn, thử thách và rủi ro
cao vì phải đương đầu cạnh tranh với những công ty quốc tế có nhiều lợi
thế và tiềm năng lớn.
Sự cần thiết của việc nghiên cứu mối trường kinh doanh quốc tế:
Trong nhưng những điều kiện của xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu
hoá và khu vực hoá về kinh tế thế giới và nền kinh tế mỗi quốc gia, hoạt
động kinh doanh quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển, để thích
ứng với xu hướng này, các doanh nghiệp đang từng bước tăng dần khả
năng hội nhập, thích ứng của mình với điều kiện mới của môi trường kinh
doanh trong và ngoài nước nhằm tăng cơ hội, giảm thách thức, hạn chế rủi
ro và gia tăng lợi nhuận.
Do đặc thù của môi trường kinh doanh quốc tế, đồng thời những
thành phần cơ bản của môi trường quốc tế mỗi nước có sự thay đổi tuỳ theo
đặc điểm riêng của mỗi quốc giadẫn đến trách nhiệm của các nhà quản trị
quốc tế phức tạp hơn nhiều so với trách nhiệm của các nhà quản trị trong
nước.
Những trở ngại đối với kinh doanh quốc tế như sự bất ổn định về
chính trị, hạ tầng cơ sở yếu kém, sự kiểm soát ngoại hối một cách chặt chẽ,
những hạn chế về mậu dịch và hàng rào thuế quan và phí thuế quan...
Câu 2: Đầu tư quốc tế và các nguyên nhân tăng cường đầu tư
điều kiện vật chất kỹ thuật để rút ngắn khoảng cách địa lý, không gian, thời
gian giữa các quốc gia. Từ đó, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá.
Như vậy, khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế là một tất yếu
khách quan. Nó đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở rộng quan hệ
4
kinh tế đối ngoại nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế và
trong nước.
Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những
nguyên tắc phản ánh những thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo lợi ích
chính đáng về kinh tế, chính trị của đất nước.
- Nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc bình đẳng. Đây là nguyên tắc cơ
bản trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung.
Nguyên tắc này trước hết phải được thể hiện ở việc đảm bảo lợi ích kinh tế,
chính trị của các bên.
- Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc cùng có lợi. Để thực hiện nguyên
tắc này cần phải nâng cao trình độ hiểu biết về các lĩnh vực ký kết thông
qua việc xây dựng các điều khoản quy định quyền lợi, trách nhiệm của các
bên trong các hợp đồng.
- Nguyên tắc tiếp theo là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không
can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia bởi vì mỗi quốc gia với tư
cách là quốc gia độc lập đều có chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội và
địa lý. Đây cũng là nguyên tắc để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc bình
đẳng cùng có lợi.
- Thứ tư là nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phát triển kinh tế đối
ngoại của Việt Nam. Mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại đều
phải hướng vào mục tiêu độc lập tự chủ và chủ nghĩa xã hội
* Đối với Việt Nam chúng ta đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích
tế còn kém phát triển: Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân,
tránh lãng phí nguồn lực lao động(nước ta lại là nước có cơ cấu dân số trẻ
có nguồn lực lao động dồi dào). Vì một trong những mục đích của FDI là
khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập
của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào
tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến
6
bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp.
Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI.
Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa
phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước: Đối với nhiều
nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng.
- Học tập được kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo điều hành doanh
nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn. Từ đó góp phần
nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
- Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp trong nước: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia,
không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các
xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ
tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút
đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy
mạnh xuất khẩu.
- Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước:Việt Nam đã công nhận
- Nhập khẩu của khu vực ĐTNN Quý I năm 2013 đạt 16,14 tỷ USD,
tăng 25,5% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm hơn 55,26% tổng kim
ngạch nhập khẩu.
- Tính chung trong Quý I năm 2013, khu vực ĐTNN xuất siêu 3,116
tỷ USD, trong khi cả nước xuất siêu 481 triệu USD.
2.3. Tình hình cấp giấy chứng nhận đầu tư:
Theo các báo cáo nhận được, tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2013 cả
nước có 191 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký là 2,927 tỷ
USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2012 và 71 lượt dự án đăng ký tăng
vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 3,1 tỷ USD, tăng hơn 3,7 lần
so với cùng kỳ năm 2012.
8
Tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 6,034 tỷ USD, tăng 63,6%
so với cùng kỳ năm 2012.
*Theo lĩnh vực đầu tư:
Trong Quý I năm 2013 nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 15
ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực
thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 84 dự án
đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 5,539 tỷ USD,
chiếm 91,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong Quý I. Lĩnh vực kinh doanh
bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng
thêm là 249,84 triệu USD, chiếm gần 4,1% tổng vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là
lĩnh vực Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa với 29 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu
tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 85,2 triệu USD.
* Theo đối tác đầu tư:
Trong Quý I năm 2013 đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án
đầu tư tại Việt Nam. Nhật Bản dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp
đa khoa với tổng vốn đầu tư 80 triệu USD.
Câu 3: Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối và các hình
thức kinh doanh ngoại hối?
* Khái niệm: Một cách tổng quát, thị trường ngoại hối (FOREX) là
nơi diễn ra việc mua bán các đồng tiền khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa
các ngân hàng, tức thị trường Interbank do hoạt động mua bán ngoại tệ chủ
yếu xảy ra giữa các ngân hàng, chiếm khoảng 85% tổng số giao dịch.
* Các thành viên tham gia vào thị trường ngoại hối bao gồm:
- Nhóm khách hàng mua bán lẻ: bao gồm các công ty nội địa và đa
quốc gia, các nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán
ngoại hối. Tham gia vào thị trường ngoại hối nhằm chuyển đổi tiền tệ và
phòng ngừa rủi ro tỉ giá.
- Các ngân hàng thương mại: tham gia vào thị trường ngoại hối nhằm
cung cấp dịch vụ cho khách hàng và kinh doanh cho chính mình.
10
- Các nhà môi giới ngoại hối: chỉ cung cấp dịch vụ môi giới chứ
không được mua bán cho chính mình
- Các ngân hàng trung ương: tham gia thị trường ngoại hối nhằm 3
mục đích: can thiệp lên tỉ giá; mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm bảo toàn
và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia; là đại lí mua bán hộ ngoại tệ
cho chính phủ.
* Chức năng của FOREX:
- Phục vụ thương mại quốc tế.
- Phục vụ luân chuyển vốn quốc tế.
- Nơi hình thành tỷ giá.
- Nơi ngân hàng trung ương can thiệp lên tỷ giá.
- Nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Thị trường vàng chính là 1 phần trong thị trường tiền tệ, trên thị
trường vàng, hàng hóa giao dịch là vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Các nhà đầu tư mua vàng giống như 1 cách tự bảo hiểm giá trị tài sản
hiện có của họ khỏi các rủi ro về kinh tế , chính trị - xã hội. Những cuộc
khủng hoảng thị trường bao gồm: giảm đầu tư, nợ quốc gia có chiều hướng
gia tăng, lạm phát, chiến tranh, bất ổn chính trị xã hội….Các nhà đầu tư
cũng mua vàng như 1 công cụ đầu tư nhằm kiếm lợi trong tương lai khi
mua vàng tại thời điểm này với giá thấp và hi vọng bán được giá cao trong
tương lai:
Đối tượng tham gia thị trường vàng gồm: Các Ngân hàng thương
mại, ngân hàng trung ương, Các tổ chức phi tài chính, Các tổ chức phi
Ngân Hàng, các cá nhân, Nhà môi giới. Tại Viêt Nam: tham gia vào thị
trường vàng thì tư nhân chiếm số lượng chủ yếu khoảng 90%.
* Các hình thức kinh doanh ngoại hối: Nghiệp vụ giao ngay,
nghiệp vụ kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi, nghiệp vụ tương lai, nghiệp vụ
quyền chọn.
- Nghiệp vụ giao ngay (Giao dịch ngoại hối giao ngay).
12
Trên thị trường ngoại hối có 5 nghiệp vụ kinh doanh phổ biến: giao
ngay, kì hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn. Trong đó nghiệp vụ giao
ngay là nghiệp vụ gốc, các nghiệp vụ khác là phái sinh.
Nghiệp vụ mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua hay bán ngoại tệ mà
việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong 2
ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán. Nghiệp vụ này được
diễn ra trên thị trường giao ngay và thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay,
tức là tỷ giá được xác định và có giá trị tại thời điểm giao dịch (hình thành
trực tiếp từ quan hệ cung cầu). Nghiệp vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu mua
đổi của TT.
+ Là thị trường có tính thanh khoản cao, vì : luôn sẵn có số tiền cần
thiết, tại địa điểm cần có, tại thời điểm có nhu cầu, bằng đồng tiền cần có,
với giá cả hợp lý.
Ở hầu hết các nước thị trường ngoại hối giao ngay có 2 cấp: Thị
trường liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân hàng, và thị trường liên
ngân hàng gián tiếp qua môi giới.
+ TT liên NH trực tiếp: phi tập trung, đấu giá mở và giao dịch 2
chiều.
+ TT liên NH gián tiếp: bán tập trung, đặt lệnh có giới hạn, đấu giá 1
chiều.
- Giao dịch ngoại hối có kỳ hạn:
Tuy là một nghiệp vụ phái sinh nhưng ngày nay giao dịch ngoại hối
kỳ hạn - Forward Exchange (còn gọi là giao dịch kỳ hạn) đã phát triển
mạnh mẽ và đóng một vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối. Từ các
giao dịch tài chính của công ty liên doanh đến hoạt động ngoại hối như
xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài đã sử dụng thị trường kỳ hạn ngày càng
tăng và không khác gì so với thị trường giao ngay. Giao dịch kỳ hạn rất
hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với công ty khi tham gia
vào XNK, vay nợ nước ngoài hay tham gia vào đầu tư ra nước ngoài. Hơn
nữa thị trường kỳ hạn còn là nơi hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ để
kiếm lời.
14
Các khái niệm cơ bản.
+ Giao dịch ngoại hối kỳ hạn là những giao dịch ngoại hối có ngày
giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay.
Trong đó ngày giá trị được hiểu là ngày thanh toán, có nghĩa là có
thể bất cứ ngày nào kể từ ngày giao dịch( ngày kỳ kết hợp đồng hay ngày
Các hợp đồng kỳ hạn được ký kết, giao dịch giữa các ngân hàng và
khách hàng, hoặc giữa hai ngân hàng với nhau. Giao dịch kỳ hạn không
diễn ra trên cơ sở giao dịch mà giống như giao dịch giao ngay, đây là thị
truờng phi tập trung của các ngân hàng và các nhà mô giới được liên kết
bằng điện thoại, telex, vi tính…Bộ phận liên ngân hàng của thị trường kỳ
hạn thông qua việc đấu giá mở hai chiều giữa các thành viên tham gia. Nhà
mô giới trên thị trường kỳ hạn đối chiếu các lệnh đặt mua và bán giữa các
ngân hàng nhằm đưa ra giá tay trong tốt nhất cho khách hàng.
- Ngiệp vụ hoán đổi ngoại hối :
Nghiệp vụ giao dịch hối đoái kỳ hạn (Swap) là giao dịch đồng thời
mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng
trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau
và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối là một nghiệp vụ phái sinh.
+ Đặc điểm :
Mỗi hợp đồng hoán đổi gồm 2 vế : “vế mua vào” và “vế bán ra”
được kí kết ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau.
Nếu không có thỏa thuận khỏc, thỡ khi nói mua 1 đồng tiền tức là ngân
hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá, và bán 1 đồng tiền túc là ngân hàng
yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này (đồng tiền yết giá) là bằng nhau
trong cả 2 vế của hợp đồng hoán đổi.
Ưu điểm :
+ Giao dịch hóan đổi không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng ,tức
trạng thái ngoại tệ USD luôn = 0 nên tránh đuợc rủi ro tỷ giá.
16
+ Giao dịch hoán đổi tạo ra độ lệch thời gian về các luồng tiền, trạng
dịch không phải hội viờn.Cỏc công ty môi giới có quyền cử đại diện của
mình ở sàn giao dịch.
c) Đặc điểm của hợp đồng tương lai
Mặc dù các hợp đồng có kỳ hạn thường rất linh hoạt về phương diện
thời gian và số tiền giao dịch nhưng chúng hạn chế về mặt thanh khoản
(liquidity) bởi vì các bên tham gia hợp đồng không thể bán hợp đồng khi
thấy có lời cũng không thể xoá bỏ hợp đồng khi thấy bất lợi.Trong khi đó
hợp đồng tương lai có tính thanh khoản cao hơn bởi vì phòng giao hoán sẵn
sàng đứng ra đảo hợp đồng bất cứ khi nào có 1 bên yêu cầu. Khi đảo hợp
đồng thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và 2 bên thanh toán cho nhau phần chênh
lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng.
Đặc điểm này khiến chi hầu hết các hợp đồng tương lai đều tất toán
thông qua đảo hợp đồng chỉ có khoản 1,5% hợp đồng giao sau được thực
hiện thông qua chuyển giao ngoại tệ vào ngày đến hạn.
- Nghiệp vụ quyền chọn:
Nghiệp vụ quyền chọn là một nghiệp vụ phái sinh.
a) Khái niệm quyền chọn: Nghiệp vụ hối đoái quyền chọn là sự kết
hợp giữa thị trường hối đoái giao ngay và thị trường cú kỡ hạn thông qua
các hợp đồng được kí kết dưới dạng lựa chọn .
Hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua hợp đồng có quyền
(không phải là nghĩa vụ) mua hoặc bán một đồng tiền tại một mức tỷ giá đã
thỏa thuận trước (gọi là tỉ giá quyền chọn) trong tương lai.
Một hợp đồng quyền chọn cho phép người mua “ quyền chọn” tức sự
lựa chọn:
Tiến hành giao dịch (thanh toán ) theo tỷ giá đã thỏa mãn cố định từ
trước, nếu anh ta thấy rằng có lợi cho mình.
Hoặc là, mặc nhiên để cho hợp đồng tự động hết hạn mà không tiến
hành bất cứ một giao dịch nào, nếu anh ta thấy rằng làm như vậy thì ít tốn
kém hơn.
+ Người bán quyền chọn mua nhận được tiền từ người mua nên phải
có trách nhiệm bán một số ngoại tệ nhất định (hàng hoá, chứng khoán),
19
theo một giá đã định trước tại một ngày xác định trong tương lai hoặc trước
ngày đó khi người mua muốn thực hiện quyền mua của nó.
Đối với quyền chọn bỏn thỡ có người mua quyền chọn bán và người
bán quyền chọn bán.
+ Người mua quyền chọn bán phải trả cho người bán quyền chọn bán
một khoản chi phí và do đó người mua có được quyền bán, nhưng không
bắt buộc phải bán một lượng ngoại tệ (hàng hoá, chứng khoán) nhất định,
theo một tỷ giá đã định trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc
trước ngày đó.
+ Người bán quyền chọn bán nhận được tiền từ người mua quyền
chọn bên nàn phải có trách nhiệm mua một số ngoại tệ (hàng hoá, chứng
khoán) nhất định.
Câu 4: Liên hệ hoạt động kinh doanh ngoại hối trong đơn vị
công tác của bạn hay cơ sở kinh doanh mà bạn có quan hệ.
Trong quá trình học tập và công tác tôi xin nêu tình hình kinh doanh
ngoại hối của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tỉnh Thái Nguyên
(Agribank chi nhánh Thái Nguyên) 6 tháng đầu năm 2013:
4.1. Mua bán ngoại tệ:
- Mua vào: 10.132 nghìn USD trong đó mua từ khách hàng doanh
nghiệp là: 3.267 nghìn USD, mua từ chi nhánh cấp III (các huyện, thị xã,
thành phố trong tỉnh) 6.865 nghìn USD.
- Bán ra: 10.332 nghìn USD. Trong đó, bán cho khách hàng 2.144
nghìn USD, Bán cho Sở giao dịch 8.188 nghìn USD. Ngoài ra còn một số
loại ngoại tệ khác ngoài USD nhưng số lượng mua bán thấp.
4.2. Thanh toán quốc tế:
Agribank chi nhánh Thái Nguyên chưa phát huy hết lợi thế với mạng lưới
rộng và công nghệ hiện đại của mình./.
21
22