1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sông Gâm là phụ lưu lớn nhất của sông Lô, có diện tích lưu vực thuộc lãnh thổ Việt
Nam là 9.168/14.972km
2
. Các hoạt động nhân sinh đã có tác động mạnh mẽ đến hiện trạng và
diễn biến tài nguyên, môi trường lưu vực, đồng thời chứa đựng những nguy cơ suy thoái tài
nguyên, môi trường sinh thái. Thực tế đó đòi hỏi phải nghiên cứu tổng hợp nhằm khai thác sử
dụng hợp lý (SDHL) tài nguyên, bảo vệ môi trường lưu vực.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: xác định yêu cầu và đề xuất sử dụng 3 loại tài nguyên đất, rừng,
nước mặt nhằm góp phần nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường lưu vực
sông (LVS) Gâm và sự bền vững của công trình thủy điện Tuyên Quang.
Nhiệm vụ nghiên cứu: tổng quan các hướng nghiên cứu SDHL tài nguyên, bảo vệ môi
trường lưu vực trên thế giới và ở Việt Nam; xác lập cơ sở lý luận, hướng tiếp cận và phương pháp
nghiên cứu đề xuất SDHL tài nguyên, bảo vệ môi trường LVS Gâm trong điều kiện có công trình
thủy điện Tuyên Quang; phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến tài nguyên,
môi trường và vấn đề khai thác, sử dụng lãnh thổ LVS Gâm; phân tích hiện trạng và biến đổi tài
nguyên, môi trường do tác động của hồ Tuyên Quang; xác định yêu cầu, đề xuất SDHL tài
nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước mặt và bảo vệ môi trường LVS Gâm; đề xuất định
hướng khai thác vùng hồ Tuyên Quang trên cơ sở phân tích tiềm năng tự nhiên vùng lòng hồ.
3. Giới hạn nghiên cứu
Về lãnh thổ: phần LVS Gâm thuộc lãnh thổ Việt Nam có tổng diện tích 9.168km
2
, chiếm
61,23% tổng diện tích lưu vực. Theo địa giới hành chính, LVS Gâm trải rộng trên địa bàn của 17
huyện, thị thuộc 4 tỉnh là Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng và Bắc Kạn.
nhằm xác định tỷ lệ che phủ rừng, cơ cấu sử dụng quỹ đất, khai thác SDHL nguồn nước mặt
và vùng hồ Tuyên Quang.
7. Những đóng góp mới của đề tài
1) Luận án đã phân tích làm rõ: đặc điểm các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên
quan đến tài nguyên, môi trường và vấn đề khai thác, SDHL tài nguyên, bảo vệ môi trường
LVS Gâm; hiện trạng và sự biến đổi của tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước
mặt LVS Gâm do tác động của hồ Tuyên Quang.
2) Lần đầu tiên, luận án đề xuất SDHL tài nguyên, bảo vệ môi trường LVS Gâm theo
hướng tiếp cận phân tích lưu vực với các kết quả nghiên cứu cụ thể gồm: đề xuất phân cấp
phòng hộ đầu nguồn, hướng sử dụng cho các loại hình sử dụng đất chính và bảo vệ đất trên
cơ sở phân cấp xói mòn tiềm năng lưu vực; đánh giá khả năng đất đai và phân cấp yêu cầu
bảo vệ đất; đề xuất SDHL và phục hồi rừng trên cơ sở đánh giá mức độ mất cân bằng che
phủ và phân loại tài nguyên rừng lưu vực; đề xuất khai thác, SDHL tài nguyên nước mặt
LVS Gâm trên cơ sở phân tích tiềm năng nguồn nước mặt, biến đổi dòng chảy thủy văn,
hiện trạng, nhu cầu và giới hạn khai thác, các nguy cơ và nguyên nhân suy thoái tài nguyên
nước mặt, những tồn tại trong quản lý tài nguyên nước của lưu vực; phân tích các điều kiện
tự nhiên vùng hồ Tuyên Quang cho mục đích phát triển thủy sản và du lịch.
8. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 3 chương nội dung, với 147 trang A4, 44 bảng
số liệu, 14 bản đồ, 12 hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ, 169 tài liệu tham khảo và 16 phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN,
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG GÂM (PHẦN LÃNH THỔ VIỆT NAM)
1.1. Tổng quan các hướng nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
lưu vực trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, vấn đề nghiên cứu SDHL tài nguyên, bảo vệ
môi trường được tiếp cận từ các hướng nghiên cứu sau: nghiên cứu cảnh quan; nghiên cứu
đánh giá xói mòn đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn; hướng nghiên cứu phân tích lưu vực (gồm
quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS, quy hoạch sử dụng đất lưu vực dựa trên đánh
nguyên thiên nhiên trước hết phải là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, đồng thời phải đảm bảo sức tái tạo, khả năng phục hồi của tự nhiên, hạn chế
các tai biến thiên nhiên, cải thiện và duy trì lâu dài chất lượng môi trường. Những vấn đề ô nhiễm
môi trường hiện nay chủ yếu xuất phát từ việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên kém
hiệu quả. Chính vì vậy, SDHL tài nguyên thiên nhiên còn góp phần quan trọng trong công tác bảo
vệ môi trường. Mục tiêu của SDHL tài nguyên và bảo vệ môi trường là hướng tới sự phát triển
bền vững, bao gồm sự bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
Lưu vực sông: là không gian lãnh thổ tự nhiên bao gồm tất cả các đối tượng tự nhiên và
nhân tạo có trên đó, nơi tiếp nhận nước mưa và nước ngầm cung cấp cho hệ thống dòng chảy tự
nhiên, được giới hạn bởi các đường phân thủy. Toàn bộ diện tích lưu vực là một thể thống nhất
và trọn vẹn về mặt tự nhiên. Trên mỗi LVS luôn tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ giữa các
thành phần tự nhiên và nhân tác. Các mối quan hệ này làm cho LVS vừa là một vùng lãnh thổ
địa lý, vừa là một hệ thống động lực tự điều chỉnh với mức độ biểu hiện và diễn biến khác nhau
theo thời gian và không gian từ thượng nguồn đến cửa sông. Việc phân định không gian các
LVS và các cấp lưu vực từ hạ lưu về thượng nguồn tạo cơ sở cho việc đề xuất SDHL tài nguyên
và bảo vệ môi trường, xác định ưu tiên đầu tư bảo vệ tài nguyên và môi trường, phân cấp quản
lý LVS và xác định trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý tổng hợp LVS.
Phân cấp đầu nguồn: là phân chia diện tích vùng đầu nguồn thành các cấp khác nhau,
phản ánh sự suy thoái xói mòn đất dựa vào các đặc trưng địa lý và môi trường của chúng.
Mục tiêu quan trọng nhất của phân cấp đầu nguồn là nhằm xác định những diện tích cần
thiết phải có rừng phòng hộ để điều hoà nguồn nước, hạn chế lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất,
hạn chế bồi lắng lòng hồ chứa cũng như bảo vệ các công trình vùng hạ lưu và mang lại lợi
ích kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. 4
1.2.2. Tác động của dự án thủy điện đến tài nguyên, môi trường trên các lưu vực sông
Tùy theo từng loại và quy mô phát triển mà các dự án thủy điện mà có những tác động
đến môi trường ở mức độ khác nhau.
sử dụng phương pháp mô hình trong nghiên cứu đánh giá xói mòn tiềm năng lưu vực.
Lựa chọn mô hình đánh giá: Luận án đã sử dụng mô hình USLE của Wischmeier và
Schmid (A=R×K×L×S×C×P) để đánh giá xói mòn tiềm năng LVS Gâm, sau khi đã loại bỏ hệ
số C và P. Việc lựa chọn mô hình USLE cho phép đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu phân cấp
xói mòn tiềm năng làm cơ sở cho việc đề xuất phân cấp phòng hộ theo lưu vực. Nhiều tác giả
trên thế giới và trong nước đã khẳng định USLE là mô hình có thể áp dụng thành công cho
xói mòn lưu vực. Các tham số của phương trình USLE có thể được sửa đổi để thích hợp với
những điều kiện cụ thể và hoàn toàn có thể có thể tính toán được bằng công cụ GIS. Kết quả
tính toán xói mòn tiềm năng không hướng tới việc phản ánh lượng đất xói mòn thực tế mà
nhằm phân cấp khả năng xói mòn lưu vực do ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên (lượng
mưa, loại đất, độ dốc, độ dài sườn dốc) đến quá trình xói mòn đất, làm cơ sở cho việc đề
xuất SDHL và bảo vệ tài nguyên đất, phân cấp phòng hộ và phục hồi lớp phủ rừng lưu vực. 5
1.3.2. Phương pháp phân tích DPSIR
DPSIR (Driving forces-Pressures-State-Impacts-Responses) là một mô hình nhận thức
dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân-kết quả-giải pháp
ứng phó. Luận án đã sử dụng phương pháp DPSIR để phân tích tổng hợp các vấn đề liên
quan đến tài nguyên nước mặt LVS Gâm, làm cơ sở xác định các giải pháp cần đề xuất
SDHL và bảo vệ tài nguyên nước mặt lưu vực.
1.3.3. Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp phân tích hệ thống được luận án vận dụng giải quyết các nhiệm vụ
nghiên cứu theo trình tự các nội dung (các bước) sau:
Bước 1: Phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng tài nguyên, môi
trường LVS Gâm.
Bước 2: Thành lập bản đồ phân cấp xói mòn tiềm năng LVS Gâm làm cơ sở cho việc
đề xuất phân cấp phòng hộ; SDHL và phục hồi rừng; sử dụng, bảo vệ tài nguyên đất.
Bước 3. Đánh giá yêu cầu sử dụng nguồn nước làm cơ sở đề xuất SDHL tài nguyên
nham thạch cổ (magma, trầm tích và biến chất); các nham thạch Mezozoi (gồm hệ tầng
Lạng Sơn, Sông Hiến và Nà Khuất); trầm tích Kainozoi (vật liệu Đệ tứ). 6
Điều kiện địa chất-kiến tạo là cơ sở ban đầu của những tác động liên hoàn trong lớp vỏ cảnh
quan lưu vực, từ đó chi phối phương hướng và các giải pháp khai thác, sử dụng lãnh thổ cho mục
đích phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất.
Lịch sử hình thành lãnh thổ lâu dài cùng các vận động kiến tạo phức tạp đã tạo cho lưu
vực có nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng. Các vận động kiến tạo mạnh của khu vực
cũng quy định tính chất nhiều đồi núi, đồng thời tạo nên sự phân dị mạnh mẽ của cấu trúc địa
hình. Sự phong phú về thành phần của nham thạch của lưu vực đã quy định sự đa dạng về
tính chất, kiểu loại lớp phủ thổ nhưỡng.
2.1.2.2. Địa hình
Trên phần LVS Gâm thuộc lãnh thổ Việt Nam, có thể xác định các bậc địa hình từ thấp lên
cao là: dưới 100m (3,8%); 100-200m (7,8%); 200-300m (9,9%); 300-400m (11,4%); 400-500m
(11,3%); 500-700m (18,6%); 700-1.000m (19,6%); 1.000-1.500m (1,8%); trên 2.000m (dưới 1%).
Diện tích có độ cao từ 500-1.000m chiếm đa số với 38,2% tổng diện tích lưu vực. Bậc từ 1.000m
trở lên có diện tích nhỏ dưới dạng những đỉnh núi cao trên các đường phân thuỷ. Phía nam của lưu
vực, dọc theo dòng chính sông Gâm phổ biến là các bậc địa hình có độ cao dưới 200m.
Nhìn chung, địa hình LVS Gâm chủ yếu là đồi núi thấp, có sự phân hóa và chia cắt
phức tạp. Độ cao địa hình thấp dần từ phía bắc (trên 1.000m) về phía nam và đông nam
(200-500m) dọc theo hướng chảy dòng chính sông Gâm.
Sự phân hóa của địa hình đã tạo nên tính đa dạng của cảnh quan, đồng thời ảnh hưởng
rất lớn tới phương hướng khai thác, sử dụng lãnh thổ. Điều kiện địa hình đồi núi đã chi phối
phương thức khai thác tài nguyên chủ yếu trong suốt lịch sử khai phá lãnh thổ. Tập quán
canh tác của dân cư đã chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, khai thác các dạng tài nguyên, hình
thành các hệ thống canh tác nương rẫy, ruộng bậc thang trên đất dốc. Ở những vùng núi cao
thượng nguồn chủ yếu thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp với các loại rừng phòng hộ. Các
để đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp ở các địa phương với các mô hình
trang trại vườn đồi, vườn rừng kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Điều kiện khí hậu cũng đem đến những khó khăn không nhỏ đối với môi trường tự nhiên
và các hoạt động kinh tế - xã hội lưu vực. Mùa hạ thường xuất hiện các nhiễu động thời tiết là
nguyên nhân gây mưa lớn trên diện rộng. Lượng mưa lớn và diễn biến thất thường trong mùa
mưa là tác nhân quan trọng dẫn đến lũ lụt, trượt lở đất, đá xảy ra ở nhiều nơi trên lưu vực.
2.1.2.4. Thủy văn
LVS Gâm có dạng dài và hẹp. Các phụ lưu nhỏ, nhưng cấu tạo dạng lông chim rất
thuận lợi cho việc tập trung nước trên dòng chính. Mật độ lưới sông thấp (0.5-1km/km
2
),
đặc biệt là ở những khu vực cao nguyên và sơn nguyên đá vôi. Trên địa phận lãnh thổ nước
ta, sông Gâm có 2 phụ lưu lớn nhất là sông Nho Quế và sông Năng.
Mùa lũ trên LVS Gâm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 70-80% tổng lượng dòng
chảy năm. Mùa cạn kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Sự phân mùa của chế độ dòng
chảy lưu vực làm tăng nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, sản xuất trong mùa kiệt và các tai biến
thiên nhiên trong mùa lũ. Sự phân hóa không gian của lượng dòng chảy mặt là điều kiện để
phát sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu và tiềm năng nguồn nước giữa các địa phương trên lưu
vực. Việc xây dựng các đập hồ thủy điện trên lưu vực trong những năm gần đây đã làm nảy
sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu nước tưới và phát điện. Tuy nhiên, việc hình thành hồ Tuyên
Quang cũng đã tạo điều kiện phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản, góp phần tạo việc làm
và tăng nguồn thu nhập cho người lao động.
2.1.2.5. Thổ nhưỡng
Lớp phủ thổ nhưỡng LVS Gâm được hình thành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió
mùa vùng núi. Chính vì thế, lớp đất feralit đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs) nhiệt đới
chiếm trên 50% diện tích đất lưu vực. Quy luật đai cao và địa mạo thổ nhưỡng là đặc trưng
phi địa đới của lớp phủ thổ nhưỡng lưu vực. Vì vậy, từ độ cao trên 900m, quá trình feralit suy
yếu và xuất hiện quá trình mùn hoá, alit mùn với các loại đất mùn đỏ nâu, đất mùn đỏ vàng
xuất hiện khá phổ biến, đặc biệt là ở độ cao 1.500-1.800m. Phong tục tập quán khai thác đất
từ lâu đời thể hiện trong các mô hình sử dụng đất cổ điển, lạc hậu. Phương thức khai thác đất
trong thời gian qua mang tính độc lập trong từng ngành và ở từng địa phương nên phương pháp
tiếp cận đơn lẻ, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ. Điều này đặt ra sự cần thiết có
những giải pháp nhằm khai thác, SDHL tài nguyên đất và bảo vệ môi trường lưu vực.
2.1.2.6. Sinh vật
- Các kiểu thảm thực vật: Cấu trúc của thảm thực vật LVS Gâm khá đa dạng. Trên lưu
vực có mặt hầu hết các kiểu và phụ kiểu thảm thực vật điển hình của vùng đồi núi ở miền
Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ. Trong đó, các kiểu thảm thực vật thứ sinh chiếm diện tích chủ
yếu, thể hiện sự tác động nhân sinh mạnh mẽ trong quá trình khai thác lãnh thổ.
- Về thành phần loài thực vật: Trong số 3.551 loài thực vật bậc cao của LVS Gâm, khu
vực hồ Tuyên Quang có khoảng 1.159 loài thuộc 5 ngành thực vật. Trong hệ thực vật trên có
khoảng 470 loài cây trồng, 75 loài cây tự nhiên có giá trị và trên 50 loài cây trồng bị hoang dại
hoá. LVS Gâm có diện tích rừng đặc dụng khá lớn. Đây là nơi có sự phong phú về thành phần
loài và trữ lượng sinh học, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có giá trị khoa học. Trên toàn lưu
vực bước đầu đã thống kê được 47 loài thực vật quí hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam.
- Về thành phần loài động vật: Theo thống kê chưa đầy đủ, LVS Gâm có khoảng 840 loài
động vật bậc cao. Trong đó có 163 loài cá, 42 loài lưỡng cư, 86 loài bò sát, 411 loài chim và
138 loài thú. Ngoài ra, trên lưu vực còn có 64 loài động vật nổi, 44 loài động vật đáy và 33
taxon. Riêng khu vực hồ Tuyên Quang, ước tính có khoảng 344 loài động vật rừng thuộc 4 lớp,
bao gồm 48 loài thú, 226 loài chim, 50 loài bò sát và 20 loài lưỡng cư.
Tài nguyên sinh vật nói chung, tài nguyên rừng nói riêng có vai trò rất lớn đối với cả môi
trường sinh thái và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trên LVS Gâm.
Về mặt tự nhiên, phần lớn diện tích LVS Gâm là đồi núi và cao nguyên có mức độ
chia cắt lớn nên khá phổ biến những hệ sinh thái nhạy cảm, dễ suy thoái và khó khai thác,
bảo vệ. Trong điều kiện đó, tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng
chảy và bảo vệ đất, hạn chế tai biến thiên nhiên, góp phần ổn định môi trường sinh thái lưu
vực, đặc biệt là ở các địa phương vùng thượng nguồn.
Về mặt kinh tế - xã hội, nhìn chung, tài nguyên sinh vật đã có những đóng góp nhất
định cho việc phát triển kinh tế - xã hội lưu vực. Giá trị sản xuất của ngành nông-lâm
nghiệp thường đạt 35 đến 40% tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế ở các địa phương.
2.1.3.3. Văn hóa - xã hội
LVS Gâm là một vùng sinh thái và văn hóa đa dạng. Cộng đồng dân cư cùng sinh sống
trong điều kiện tự nhiên phân hóa mạnh mẽ, với những phong tục, tập quán độc đáo. Lịch sử
cư trú và sản xuất lâu đời đã tạo cho người dân có vốn kinh nghiệm lớn trong sản xuất và khai
thác tài nguyên thiên nhiên. Sự đan xen về không gian cư trú, sản xuất của các dân tộc đã tạo
nên sự giao thoa của phong tục tập quán và kinh nghiệm sản xuất, tạo nên hệ thống kiến thức
bản địa của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Ở một mức độ nhất định, điều này được coi là
một trong những thuận lợi đối với việc triển khai các biện pháp, mô hình sản xuất tiên tiến,
phù hợp với điều kiện tự nhiên ở mỗi địa phương và tập quán cư trú, canh tác đặc thù của các
dân tộc. Việc khai thác giá trị văn hoá từ các lễ hội truyền thống gắn với hoạt động du lịch
tâm linh, du lịch sinh thái là một trong những ưu thế thu hút ngày càng nhiều du khách đến
với các địa phương trên lưu vực. Mặc dù vậy, những hạn chế về trình độ nhận thức của người
dân, vốn chiếm đa số là các dân tộc thiểu số trong nhiều năm trước đây đã ảnh hưởng lớn tới
việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
2.1.3.4. Tác động của thủy điện Tuyên Quang đến tài nguyên, môi trường lưu vực
Hệ thống đập hồ thủy điện Tuyên Quang có những tác động lớn theo cả hai hướng tích 10
cực và tiêu cực đến tài nguyên, môi trường LVS Gâm. Những tác động tích cực chủ yếu của
thủy điện Tuyên Quang là: cung cấp điện năng; cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống văn
hóa và tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế của địa phương; điều tiết lũ và nguồn nước
tưới cũng như hạn chế thiệt hại do lũ lụt vùng hạ lưu. Những tác động tiêu cực chủ yếu là: sự
xáo trộn đời sống của một bộ phận cư dân trong khu vực thực hiện dự án; diện tích đất nông -
lâm nghiệp bị chìm ngập khá lớn; môi trường sinh thái bị biến đổi v.v.
2.2. Hiện trạng tài nguyên, môi trường lưu vực sông Gâm
2.2.1. Hiện trạng tài nguyên đất lưu vực sông Gâm
2.2.1.1. Cấu trúc và phân bố lớp phủ thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên LVS Gâm là 916.802,1ha, bao gồm cả diện tích núi đá là
lở chủ yếu tham gia vào quá trình bồi lắng lòng hồ, một phần tham gia vào dòng chảy cát bùn
xuống hạ lưu. Tương ứng với quá trình trượt lở vật liệu, lòng hồ sẽ bị bồi lắng với tốc độ
nhanh trong khoảng 10 năm đầu tích nước sau đó chậm dần do lượng vật liệu cung cấp giảm.
Tuy nhiên, tốc độ bồi lắng lòng hồ theo thời gian còn phụ thuộc vào diễn biến tỷ lệ che phủ
thực vật của lưu vực. Ở hạ lưu đập, khu vực có quá trình xói lở biến động sớm và mạnh nhất
là đoạn sông từ thân đập tới thị trấn Na Hang. 11
Do thời gian tích nước của hồ chứa và vận hành của thủy điện Tuyên Quang chưa lâu
nên những tác động của thủy điện Tuyên Quang đến quá trình xói lở lòng dẫn và bờ sông
cũng như xói mòn đất và bồi lắng lòng hồ cần được tiếp tục theo dõi và nghiên cứu trong
thời gian dài hơn để có những nhận định đầy đủ, chính xác.
2.2.1.4. Hiện trạng sử dụng đất lưu vực sông Gâm
Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 LVS Gâm được phân thành 6 nhóm là đất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng và núi đá không rừng cây. Đất nông
nghiệp LVS Gâm có diện tích nhỏ (91.101,1 ha), chiếm 9,63% tổng diện tích tự nhiên lưu vực.
Do đặc thù về điều kiện địa hình, đất đai nên LVS Gâm có diện tích đất lâm nghiệp rất lớn
(743.823,8ha), gồm đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, chiếm trên 80% tổng
diện tích lưu vực. Nhóm đất ở và đất chuyên dùng có diện tích trên 30.000ha, chiếm 3,3% diện
tích lưu vực. Diện tích đất chưa sử dụng là 38.218,8ha, chiếm 4,2% diện tích lưu vực. Toàn lưu
vực có tới 13.833,6 ha núi đá không có rừng, chiếm tới 1,5% diện tích lưu vực, tập trung nhiều
nhất ở Đồng Văn (5.550,3 ha), Mèo Vạc (3.558,2 ha) và Yên Minh (2.310,8 ha).
2.2.2. Hiện trạng tài nguyên rừng lưu vực sông Gâm
2.2.2.1. Hiện trạng che phủ rừng
LVS Gâm có tỷ lệ che phủ khá cao so với các LVS khác của miền Bắc và Đông Bắc
Bắc Bộ. Tính đến năm 2011, toàn lưu vực có 338.169,3 ha đất lâm nghiệp có rừng, đạt tỷ lệ
che phủ 36.9% diện tích tự nhiên lưu vực. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 322.644,0 ha,
tương đương 95% diện tích rừng và 35,2% tổng diện tích tự nhiên của lưu vực.
/s
tương ứng với modul dòng chảy là 8,63l/s/km
2
. 12
Nhìn chung, tiềm năng nước mặt LVS Gâm đóng góp không lớn cho sông Hồng
(chiếm 10,4% lượng nước sông Hồng tại Sơn Tây). Tuy nhiên, do dòng chảy lớn vào mùa lũ
trên sông Gâm nên thường gây ngập lụt cho hạ lưu. Chính vì vậy, việc khống chế lũ trên
sông Gâm sẽ làm giảm các áp lực về dòng chảy lũ trên sông Hồng tại đồng bằng Bắc Bộ.
2.2.3.2. Chất lượng nước sông và hồ chứa
Chất lượng nước được đánh giá qua các chỉ tiêu chủ yếu, gồm độ khoáng hóa, hàm
lượng các chất dinh dưỡng, các ion vi lượng, các hợp chất hữu cơ, độ pH, lượng vi khuẩn
coliforms. Hầu hết các chỉ tiêu hóa học và sinh học của nguồn nước sông Gâm nói chung,
hồ Tuyên Quang nói riêng có sự thay đổi rõ rệt sau khi hồ Tuyên Quang được hình thành
nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam 08: 2008 (B1). Tuy
nhiên, một số chỉ tiêu về chất dinh dưỡng, các hợp chất hữu cơ vùng lòng hồ có xu hướng
tăng lên. Đây là những dấu hiệu khẳng định diễn biến theo chiều hướng xấu của nguồn
nước, do có liên quan đến các hoạt động nhân sinh trên lưu vực.
2.2.3.3. Biến đổi dòng chảy nước mặt lưu vực sông Gâm trong điều kiện có hồ Tuyên Quang
Sông Gâm đóng vai trò quan trọng trong việc sinh lũ lớn hạ du sông Lô. Việc hình thành
hồ Tuyên Quang trên sông Gâm đã làm thay đổi lớn tình hình lũ lụt ở hạ du, làm giảm mức độ
ngập lũ cho thành phố Tuyên Quang so với trước khi có đập. Sự xuất hiện của hồ Tuyên Quang
là tác nhân quan trọng tạo nên sự khác biệt mực nước, chế độ và lưu lượng dòng chảy sông
Gâm ở thượng và hạ lưu thân đập. Ở thượng lưu đập, mực nước hồ và biên độ dao động mực
nước tăng lên so với trong điều kiện không có hồ chứa. Ở hạ lưu, lượng dòng chảy mùa lũ được
hạn chế và tăng lượng dòng chảy mùa kiệt, góp phần phòng chống lũ, đảm bảo cân bằng sinh
thái và nguồn nước tưới trong nông nghiệp. Vai trò điều tiết lũ của hồ Tuyên Quang đã được
Cấp 3: độ xói mòn tiềm năng trung bình 31 - 45
Cấp 4: độ xói mòn tiềm năng cao 46 - 60
Cấp 5: độ xói mòn tiềm năng rất cao > 60
Bảng 3.3. Diện tích các cấp xói mòn tiềm năng toàn LVS Gâm
Cấp xói mòn
tiềm năng
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 Cấp 5
Đơn vị (ha) (%) (ha) (%) (ha) (%)
(ha) (%) (ha) (%)
Diện tích 341.865,8
37,3
242.212,0
26,4
62.803,4
6,9
52.508,8 5,7 100.135,6
10,9
Nguồn: Phân tích và thống kê từ bản đồ lưu vực và cấp xói mòn tiềm năng
Tính trên toàn lưu vực, tổng diện tích xói mòn tiềm năng cấp 1 và cấp 2 đã lên tới
584.077,8 ha, chiếm 63,7% diện tích tự nhiên của lưu vực. Diện tích từ cấp xói mòn tiềm
năng trung bình trở lên (cấp 3 đến cấp 5) là 215.447,8 ha, chiếm 23,5% diện tích lưu vực và
51.047,4 41,7
30.111,8
24,6 7.425,0 6,1 7.291,7 6,0 22.764,2 18,6 3,847.1
3
Dòng chính sông
Gâm
137.604,3
37,7
81.131,7
22,2 23.818,0 6,5 21.349,3
5,9 44.043,7 12,1 56,929.4
4
Nhi A
46.692,2 40,6
32.273,0
28,1 8.298,5 7,2 6.661,0 5,8 17.206,1 15,0 3,861.8
5
Năng
65.031,3 30,4
63.256,2
14
Đối với diện tích yêu cầu bảo vệ đất thấp và rất thấp, cần triển khai phát triển kết hợp giữa
lâm nghiệp và nông nghiệp theo các hình thức nông lâm kết hợp, lâm nông kết hợp… nhằm
bảo vệ và tăng hiệu quả sử dụng đất.
Bảng 3.8. Mức độ yêu cầu bảo vệ đất theo huyện của LVS Gâm (ha)
Yêu cầu bảo vệ đất
Tỉnh Huyện
Diện tích
tự nhiên
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao
Đất rừng
đặc dụng
Bắc Mê 82.315,0
10.757,8
32.474,8
8.392,2
8.156,3
37.629,2
4.712,9
4.184,8
0,0
Vị Xuyên 13.461,8
737,0
2.820,0
954,1
1.184,7
7.766,0
Hà Giang
Yên Minh 58.596,2
15.935,0
27.904,1
Cao Bằng
Nguyên Bình
34.651,7
586,6
20.494,8
1.141,0
5.543,4
6.885,9
Ba Bể 63.308,1
543,9
26.728,5
1.551,9
3.119,5
31.364,3
Pắc Nặm 48.670,0
494,2
898,4
0,0
Chiêm Hóa 107.735,3
26.736,9
62.036,9
6.644,9
8.350,8
3.965,8
Na Hang 81.250,1
2.592,0
35.218,7
3.796,4
3.093,5
36.549,4
514.435,8
75.766,0
83.825,9
117.276,5
%
100,0%
13,7%
56,1%
8,3%
9,1%
12,8%
Nguồn: Tính theo bản đồ mức độ yêu cầu bảo vệ đất và bản đồ hành chính
3.1.2. Đề xuất sử dụng hợp lý tài nguyên đất
3.1.2.1. Đề xuất phân cấp phòng hộ đầu nguồn
a. Cơ sở và nguyên tắc phân cấp phòng hộ đầu nguồn
- Các cơ sở để đề xuất phân cấp phòng hộ đầu nguồn: bản đồ quy hoạch ba loại rừng
hiện có của LVS Gâm; kết quả phân cấp xói mòn tiềm năng theo các phụ lưu cấp 2 của LVS
Gâm; Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020” và Báo cáo
“Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 và định hướng đến
Đất rừng phòng hộ
Tỉnh
Huyện
Diện tích
tự nhiên
(ha)
Tổng
(ha)
Tổng
Rất xung
yếu
Xung yếu
Đất rừng
sản xuất
Đất rừng
đặc dụng
Đất nông
nghiệp,
đất khác
(ha)
Bắc Mê
82,315.0
70,993.6
20,557.2
18,698.6
1,858.6
13,516.3
1,576.6
14,110.7
0.0
9,962.3
Mèo Vạc
54,683.2
38,648.3
10,504.8
7,736.1
2,768.7
28,143.5
0.0
16,034.9
Vị Xuyên
13,461.8
2,797.9
15,227.5
Bảo Lạc
94,910.4
80,100.4
34,064.1
23,485.2
10,578.9
44,750.9
1,285.5
14,810.0
Bảo Lâm
80,214.0
64,147.9
20,025.9
12,066.8
59,455.0
8,417.2
4,556.3
3,860.9
19,673.5
31,364.3
3,853.1
Pắc Nặm
48,670.0
40,966.6
15,178.0
9,661.3
5,516.7
25,639.9
148.7
1,673.6
9,468.2
0.0
2,413.1
Chiêm Hóa
107,735.3
77,544.6
14,611.4
10,019.2
4,592.2
58,967.5
3,965.8
30,190.7
Na Hang
81,250.1
74,246.0
Quang
Lâm Bình
78,152.2
63,694.8
22,852.2
20,007.8
2,844.4
35,767.1
5,075.5
14,457.4
Tổng 916,802.1
750,206.5
217,630.0
158,954.0
58,676.0
415,300.0
(bảng 3.14):
Bảng 3.14. Diện tích các loại khả năng đất đai theo huyện của LVS Gâm (ha)
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng sản xuất
Đất nông nghiệp,
đất khác
Tỉnh
Huyện
Diện tích
tự nhiên
Rất xung
yếu
Xung
yếu
Lâm
nghiệp
sản xuất
Lâm
nông
kết hợp
Nông
lâm kết
hợp
Đất rừng
đặc dụng
92,5
1.945,1
82,1
252,4
0,0
614,8
180,2
Đồng Văn 39.165,8
13.516,3
1.576,6
11.715,1
707,8
1.687,8
0,0
8.235,7
121,5
7.766,0
539,4
771,1
Hà Giang
Yên Minh 58.596,2
12.756,6
3.999,1
20.915,3
313,7
2.586,2
2.797,9
12.038,2
3.189,3
Bảo Lạc 94.910,4
23.485,2
4.058,5
Cao Bằng
Ng. Bình 34.651,7
8.988,9
3.127,8
12.813,4
22,9
132,1
6.885,9
2.048,8
631,9
Ba Bể 63.308,1
4.556,3
3.860,9
18.304,6
6.326,6
3.508,2
20.824,7
641,2
871,6
772,2
3.812,8
2.169,0
Bắc Kạn
Ngân Sơn 14.627,0
1.072,1
1.673,6
8.531,8
292,1
644,3
0,0
4.206,8
1.316,6
36.549,4
5.306,4
1.697,8
Yên Sơn 22.716,3
1.015,4
1.428,6
12.210,3
112,8
1.151,5
14,0
1.312,9
5.470,8
Tuyên Quang
117.276,5
106.418,3
60.177,3
Nguồn: tính theo bản đồ phân cấp phòng hộ, bản đồ độ dốc, bản đồ thổ nhưỡng
Kết quả đánh giá khả năng đất đai trên là một trong những cơ sở để thành lập bản đồ
đề xuất hướng sử dụng cho các loại hình sử dụng đất chính của LVS Gâm.
b. Xây dựng bản đồ đề xuất hướng sử dụng cho các loại hình sử dụng đất chính
b1. Phương pháp xây dựng bản đồ: Bản đồ đề xuất hướng sử dụng cho các loại hình sử
dụng đất chính của LVS Gâm được xây dựng trên cơ sở tích hợp các kết quả đánh giá khả năng
đất đai, hiện trạng rừng và lớp phủ, hiện trạng sử dụng đất của lưu vực bằng công nghệ GIS.
b2. Kết quả đề xuất hướng sử dụng cho các loại hình sử dụng đất chính
* Đối với diện tích đất rừng phòng hộ: Diện tích đất rừng phòng hộ gồm phòng hộ rất
xung yếu và xung yếu chiếm 23,7% tổng diện tích lưu vực (bảng 3.15).
* Đối với đất rừng sản xuất: đất lâm nghiệp sản xuất, đất lâm nông kết hợp và đất
nông lâm kết hợp có tỷ lệ tương ứng là 39,6%, 2,1% và 3,59% tổng diện tích LVS Gâm
(bảng 3.16). 17
Bảng 3.15. Đề xuất hướng sử dụng cho diện tích đất rừng phòng hộ LVS Gâm
Diện tích
Loại
hình
sử dụng
đất chính
Đất trống 102,055.4
11.1%
Trồng rừng phòng hộ
Tổng
158,954.0
17.3%Rừng giàu và rừng trung bình 1,508.5
0.2%
Khoanh nuôi, bảo vệ rừng
Rừng nghèo, non, phục hồi 13,709.9
1.5%
Khoanh nuôi, phục hồi rừng, tái sinh tự nhiên
Rừng tre nứa, hỗn giao gỗ tre nứa 2,975.4
0.3%
Phục hồi, tái sinh tự nhiên
Rừng trồng 473.1
0.1%
1,5%
Khoanh nuôi, bảo vệ rừng
Rừng nghèo, non, phục hồi 89.077,0
9,7%
Khoanh nuôi, phục hồi rừng, tái sinh tự nhiên
Rừng tre nứa, hỗn giao gỗ tre nứa
25.531,5
2,8%
Phục hồi, tái sinh tự nhiên
Rừng trồng 6.973,5
0,8%
Khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng rừng mới
Đất lâm
nghiệp sản
xuất
Đất trống 227.783,3
24,8%
Trồng rừng, cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp
Tổng
363.375.1
Trồng rừng, cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp
Đất lâm
nông kết
hợp
Đất sản xuất nông nghiệp 2.196,8
0,2%
Cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, trồng rừng
Tổng
18.991,9
2,1%Rừng giàu và rừng trung bình 738,2
0.1%
Khoanh nuôi, bảo vệ rừng
Rừng nghèo, non, phục hồi 6,989.7
0.8%
Khoanh nuôi, phục hồi rừng, tái sinh tự nhiên
Rừng tre nứa, hỗn giao gỗ tre nứa
1,941.3
0.2%
Trong thực tế, một phần nhỏ diện tích đất, bao gồm cả đất rừng sản xuất và đất nông
nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp vùng thấp ở các địa phương đang có xu hướng chuyển
dần sang đất chuyên dùng do sự gia tăng về dân số, quá trình đô thị hoá và các dự án phát
triển cơ sở hạ tầng vùng miền núi v.v. 18
Bảng 3.17. Đề xuất hướng sử dụng cho diện tích đất nông nghiệp LVS Gâm
Diện tích
Loại hình
sử dụng
đất chính
Hiện trạng rừng và
sử dụng đất
ha
% diện
tích tự
nhiên
Hướng sử dụng
Rừng trồng 13,844.6 1.5%
Khoanh nuôi, b
ảo vệ rừng, trồng rừng mới, cải tạo đất,
chuyển đổi mục đích sử dụng
Đất trống 25,931.7 2.8% Trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm
Đất nông
nghiệp
vùng cao
6.6%
Nguồn: Tính từ bản đồ khả năng đất đai, bản đồ hiện trạng rừng lưu vực
3.1.2.3. Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất
Các giải pháp đề xuất sử dụng tài nguyên đất dựa trên cơ sở là các thù về điều kiện
tự nhiên và kinh tế - xã hội của LVS Gâm, tính đa dạng và nhạy cảm của tài nguyên đất,
kết quả đánh giá và phân cấp xói mòn đất lưu vực. Theo đó, cần quản lý khai thác, sử
dụng đất thống nhất theo lưu vực; khai thác đất theo các vùng sinh thái nông nghiệp;
giao quyền sử dụng đất lâu dài; khai thác kết hợp với bảo vệ và cải tạo các loại đất bị
thoái hoá; đẩy mạnh quá trình chuyển đổi mục đích canh tác trên những khu vực có độ
dốc lớn, ruộng đất manh mún; củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật
nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm; ứng dụng công nghệ sinh học gắn với bảo tồn nguồn
gen giống cây trồng, vật nuôi; áp dụng các biện pháp công nghệ sinh học trong cải tạo
đất, mở rộng diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; nâng cao ý thức cộng đồng về sử
dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên đất.
3.2. Đề xuất sử dụng hợp lý tài nguyên rừng lưu vực sông Gâm
3.2.1. Xác định yêu cầu sử dụng hợp lý và phục hồi rừng
3.2.1.1. Phân loại tài nguyên rừng
Để đánh giá và phân loại tài nguyên rừng LVS Gâm, luận án sử dụng các dữ liệu bản
đồ hiện trạng rừng và số liệu diện tích rừng năm 2011 của Sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn. Diện tích các loại đất,
loại rừng theo huyện được xác định bằng cách chồng ghép bản đồ hiện trạng rừng năm 2011
với bản đồ hành chính và bản đồ LVS Gâm.
Diện tích rừng tự nhiên của LVS Gâm là 322.644ha, chiếm 32,5% tổng diện tích tự
nhiên lưu vực. Trong đó Tuyên Quang là địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất
(chiếm 47,9% tổng diện tích rừng tự nhiên của lưu vực). Diện tích rừng trồng chiếm 1,7%
diện tích tự nhiên và 4,6% tổng diện tích đất có rừng lưu vực, với 15,525.3 ha. Diện tích đất
có rừng lưu vực là 338,169.3 ha, chiếm 36,9% diện tích lưu vực. Diện tích đất trống của lưu
vực khá lớn (374.946,9 ha, bằng 40,9% tổng diện tích lưu vực). Đây là diện tích cần triển khai
trồng rừng mới nhằm bảo vệ đất, hạn chế xói mòn.
sung và trồng rừng mới nhằm mở rộng diện tích che phủ.
- Đối với 62 xã có mức mất cân bằng che phủ cao cần triển khai trồng rừng mới nhằm
mở rộng diện tích che phủ đồng thời với việc khoanh nuôi, bảo vệ và phục hồi diện tích các
loại rừng hiện có, đặc biệt là đối với Cao Bằng và Hà Giang vì đây những tỉnh có số lượng
xã mất cân bằng che phủ ở mức cao nhiều nhất.
3.2.2.2. Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý, phục hồi tài nguyên rừng
Căn cứ vào các điều kiện tự nhiên, kết quả phân cấp phòng hộ đầu nguồn, khả năng đất
đai, hướng sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất chính và kết quả đánh giá mất cân bằng
che phủ lưu vực, luận án đề xuất các giải pháp bảo vệ và phục hồi rừng LVS Gâm như sau:
- Đối với rừng phòng hộ trên lưu vực (217.630ha). Cần thiết phải có những biện pháp bảo
vệ nghiêm ngặt đối với các địa phương có diện tích rừng phòng hộ lớn. Mặt khác, cần tận dụng
các diện tích đất rừng hiện có để tiến hành trồng rừng, mở rộng diện tích rừng phòng hộ.
- Đối với rừng đặc dụng (117.276,5ha): Ccông tác quản lý và bảo tồn các khu rừng
đặc dụng trên lưu vực vẫn dựa nhiều vào nguồn tài trợ quốc tế và lực lượng kiểm lâm. Điều
này đòi hỏi phải có những biện pháp, cơ chế nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng dân
cư và nguồn tài chính trong nước trong việc quản lý và hỗ trợ tổ chức bảo vệ tính đa dạng
sinh học của các khu rừng đặc dụng trên lưu vực. Đánh giá và kiểm soát ảnh hưởng của các 20
dự án phát triển trên lưu vực có liên quan đến các khu rừng đặc dụng, đặc biệt là ảnh hưởng
của hoạt động du lịch sinh thái vùng hồ Tuyên Quang, hồ Ba Bể.
- Đối với rừng sản xuất (415.300ha): Đây là loại hình sử dụng đất có sự tham gia quản
lý trực tiếp của một bộ phận lớn cư dân ở các địa phương. Chính vì vậy, cần có chính sách
và biện pháp về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm hỗ trợ nông dân trong việc trồng rừng,
thực hiện giao đất, giao rừng, phát triển nông-lâm nghiệp sinh thái, các mô hình nông lâm
kết hợp…
- Đối với diện tích đất rừng bỏ trống, đặc biệt là đất rừng phòng hộ chưa có rừng
(15,5% tổng diện tích lưu vực) cần triển khai trồng rừng mới. Tận dụng khả năng phục hồi
không đồng đều ở các khu vực.
3.3.1.2. Ngưỡng khai thác tài nguyên nước mặt
Ngưỡng khai thác tài nguyên nước được tính bằng tỷ lệ % giữa lượng nước thừa trong mùa lũ
so với lượng nước tiềm năng. Kết quả tính toán cho thấy, ngưỡng khai thác tài nguyên nước tại một
số trạm chính trên LVS Gâm dao động từ 31 đến 37% tổng tiềm năng nguồn nước. Với kết quả
này, có thể nhận thấy trong cả năm, lượng nước cần sử dụng đến năm 2020 trên LVS Gâm nhỏ hơn
nhiều so với giới hạn khai thác cho phép. Tuy nhiên, vào các tháng mùa khô, lượng nước cần dùng
ở một số địa phương trong các mốc thời gian 2010, 2020 đã chiếm từ 10-25% tổng lượng nước đến
và đang tiến dần đến ngưỡng khai thác an toàn, trong khi nhu cầu về nước tưới mùa cạn rất lớn nên
nhiều địa phương xảy ra tình trạng thiếu nước cục bộ. 21
3.3.1.3. Nguy cơ và nguyên nhân suy thoái tài nguyên nước mặt
Nguy cơ suy thoái tài nguyên nước LVS Gâm được xác định, phân tích dựa trên hiện trạng,
diễn biến dòng chảy mặt và nhu cầu sử dụng nguồn nước mặt lưu vực, bao gồm: thiếu nước cục bộ;
suy thoái chất lượng nước mặt; gia tăng các tai biến thiên nhiên liên quan đến tài nguyên nước.
Nguyên nhân suy thoái tài nguyên nước LVS Gâm rất đa dạng, được chi phối bởi cả
những nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan. Luận án đã xác định các nguyên nhân
suy thoái tài nguyên nước mặt LVS Gâm bao gồm: do biến đổi khí hậu; do các hoạt động
khai thác tài nguyên thiên nhiên lưu vực; sự phát triển của các ngành kinh tế và ảnh hưởng
của hệ thống đập hồ chứa thủy điện trên lưu vực.
3.3.1.4. Những khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý tài nguyên nước
Cho đến nay, LVS Gâm chưa có mô hình và quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên
nước. Đây là một trong những khó khăn lớn trong công tác quản lý tài nguyên nước của lưu
vực hiện nay. Mặc dù đã có Ban quản lý LVS Hồng - Thái Bình, nhưng do không gian quản
lý quá lớn nên hiệu quả quản lý tài nguyên nước trong điều kiện cụ thể của LVS Gâm chưa
hiệu quả. Tài nguyên nước LVS Gâm đang được quản lý theo địa giới hành chính của các
tỉnh và chưa chú trọng sự tham gia của các đối tượng sử dụng nước. Đội ngũ cán bộ quản lý
chia sẻ nguồn nước; 7) tăng cường công tác giáo dục ; 8) hợp tác quốc tế trong khai thác và
bảo vệ nguồn nước.
b. Nhóm giải pháp về năng lực quản lý: 1) Xây dựng tổ chức quản lý tổng hợp tài nguyên
nước LVS Gâm; 2) trao đổi và học hỏi kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước theo lưu vực trên
thế giới; 3) tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý tài nguyên nước ở các địa phương.
3.4. Định hướng khai thác vùng lòng hồ Tuyên Quang
Hồ chứa Tuyên Quang có hai nhiệm vụ quan trọng là góp phần điều tiết lũ vùng hạ lưu
và phát điện. Việc tích nước tạo hồ chứa mở ra những cơ hội phát triển mới dựa trên những
lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội. Phát triển thủy sản và du lịch ở hồ Tuyên
Quang là hướng đi có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm và góp
phần xóa đói giảm nghèo cho các địa phương khu vực hồ chứa.
- Đối với phát triển thủy sản: Sự tăng lên của diện tích và độ sâu tầng nước sau khi
tích nước tạo hồ chứa và mực nước ổn định do sự điều tiết của đập Tuyên Quang không
những tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy sản trên quy mô lớn mà còn cho phép phát
triển đa dạng các loài thủy sản thích nghi với các tầng nước trong thủy vực. Các chỉ tiêu hóa
học phản ảnh chất lượng nguồn nước hồ Tuyên Quang mặc dù có sự tăng lên trong những
năm gần đây nhưng vẫn hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu về nguồn nước mặt tự nhiên cho
nuôi trồng thủy sản. Sự đa dạng về thành phần loài và phát triển mạnh mẽ của hệ động thực
vật thủy sinh vùng lòng hồ Tuyên Quang là nguồn thức ăn có vai trò quan trọng trong việc
phát triển nguồn lợi thủy sản. Mặt khác, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cùng với những
điều kiện tự nhiên đặc thù của dòng chảy sông suối vùng núi đã tạo nên sự phong phú, đa
dạng về số loài thủy sản với nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao, tạo cơ sở cho sự phát triển
nuôi trồng thủy sản.
Bên cạnh những thuận lợi trên, việc phát triển thủy sản hồ Tuyên Quang cũng gặp một
số khó khăn. Hàm lượng một số chỉ tiêu hóa học gây ô nhiễm nguồn nước có xu hướng tăng
lên. Việc điều tiết nước ở những ao nuôi vùng bán ngập gặp nhiều khó khăn, nhất là về mùa
mưa. Nhận thức của người dân và chính quyền ở một số địa phương chưa đầy đủ về tiềm
năng và hiệu quả kinh tế từ nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa nên chưa có sự đầu tư thỏa
đáng. Công tác quản lý nuôi trồng, khai thác thuỷ sản chưa chặt chẽ. Năng lực hoạt động
của các hợp tác xã thuỷ sản hiện có còn yếu và chưa đồng đều, thị trường hạn hẹp và chưa
nhiên nói chung, tài nguyên đất, rừng và nước mặt nói riêng làm cơ sở cho việc đề xuất SDHL tài
nguyên, bảo vệ môi trường LVS Gâm.
3. Tiếp cận phân tích lưu vực để xác định mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên và
nhân tác, giữa các bộ phận thượng lưu, trung lưu, hạ lưu và giữa các lưu vực cấp 2 nhằm đề
xuất SDHL tài nguyên đất, rừng, nguồn nước mặt và vùng hồ Tuyên Quang. Đây là nhiệm
vụ trọng tâm trong nghiên cứu SDHL tài nguyên và bảo vệ môi trường LVS Gâm.
4. Đối với tài nguyên đất: Đánh giá phân cấp xói mòn tiềm năng cho toàn lưu vực và
các LVS cấp 2 theo 5 cấp xói mòn tiềm năng làm cơ sở cho việc đề xuất phân cấp phòng hộ
đầu nguồn cho toàn LVS Gâm. Phân cấp mức độ yêu cầu bảo vệ đất dựa vào bản đồ thực
trạng thoái hoá đất; bản đồ độ dày tầng đất và bản đồ phân cấp xói mòn tiềm năng lưu vực.
Đề xuất phân bổ diện tích các loại hình quản lý sử dụng đất chính cho toàn lưu vực và theo
các lưu vực cấp 2 với diện tích đất rừng phòng hộ là 217.630 ha, đất rừng sản xuất là
415.300 ha, đất rừng đặc dụng là 117.276,5 ha, đồng thời xác định diện tích các loại hình
quản lý sử dụng đất chính theo các huyện của LVS Gâm. Đề xuất hướng sử dụng đất đai
cho các loại hình sử dụng đất chính trên cơ sở xây dựng bản đồ khả năng đất đai và bản đồ
đề xuất hướng sử dụng cho 8 loại hình sử dụng đất chính của LVS Gâm bao gồm phòng hộ
rất xung yếu, phòng hộ xung yếu, đất rừng đặc dụng, đất lâm nghiệp sản xuất, đất lâm nông
kết hợp, đất nông lâm kết hợp, đất nông nghiệp vùng thấp và đất nông nghiệp vùng cao. Đề
xuất một số định hướng SDHL tài nguyên đất dựa trên các đặc thù về các điều kiện tự nhiên
và kinh tế - xã hội của LVS Gâm, tính đa dạng, nhạy cảm của tài nguyên đất và kết quả đánh giá
và phân cấp xói mòn đất LVS Gâm.
5. Đối với tài nguyên rừng: Luận án đánh giá yêu cầu SDHL và phục hồi rừng trên cơ
sở phân loại tài nguyên rừng lưu vực và phân cấp tỷ lệ che phủ rừng theo xã: phân loại và 24
thống kê tài nguyên rừng theo huyện dựa trên bản đồ hiện trạng rừng và số liệu diện tích
rừng năm 2011 của các địa phương trên lưu vực; phân cấp tỷ lệ che phủ cho 175 xã trên
toàn lưu vực với 27% số xã có tỷ lệ che phủ dưới 10%, trên 50% số xã có tỷ lệ che phủ từ
2. Phân tích lưu vực với sự ứng dụng rộng rãi công nghệ GIS trong quản lý dữ liệu,
phân tích không gian bằng các mô hình và chỉ tiêu định lượng, nhằm khai thác, SDHL tài
nguyên và bảo vệ môi trường là hướng tiếp cận tổng hợp, phù hợp với điều kiện địa hình đồi
núi chia cắt mạnh và khí hậu mưa mùa như ở nước ta nên cần được tiếp tục triển khai
nghiên cứu ở các LVS khác trên phạm vi cả nước nhằm phát triển hoàn thiện phương pháp
luận và phương pháp nghiên cứu.