ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TIỂU LUẬN
MÔN: SINH HỌC CƠ THỂ ĐỘNG VẬT
Đề tài: TÌM
HIỂU SỰ XUẤT HIỆN VÀ TIẾN HÓA
CỦA HỆ TUẦN HOÀN Ở ĐỘNG VẬT
Giáo viên hướng dẫn: GS –TS Ngô Đắc Chứng
Học viên thực hiện: Lê Thị Ngọc Trâm
Lớp: Lý luận và Phương pháp K24 (2015-2017)
Huế, tháng 01 năm 2016
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Trang
I. Lý do chọn đề tài:-----------------------------------------------------------4
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:-------------------------------------5
III. Phương pháp nghiên cứu:----------------------------------------------5
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ TUẦN HOÀN
1. Khái niệm hệ tuần hoàn---------------------------------------------6
2. Sự xuất hiện hệ tuần hoàn------------------------------------------6
3. Cấu tạo chung của hệ tuần hoàn-----------------------------------6
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Sinh vật nói chung và động vật nói riêng khi sống trong môi trường phải thường
xuyên trao đổi chất và năng lượng với môi trường. Đối với cơ thể đơn bào sự trao
đổi chất diễn ra trực tiếp với môi trường ngoài và các chất có thể chuyển dịch giữa
tế bào và môi trường xung quanh bằng cơ chế khuếch tán. Tuy nhiên tốc độ khuếch
tán tỉ lệ thuận với bình phương khoảng cách. Chẳng hạn để vận chuyển cùng lượng
glucose khuếch tán đi 100μm mất 1 giây, 1mm cần 100 giây, 1cm thì cần đến 3 giờ.
Đối với động vật đa bào do cơ thể cấu tạo ngày càng phức tạp, hầu hết các tế bào
của cơ thể không trực tiếp tiếp xúc với môi trường ngoài, kích thước cơ thể lớn,
nhu cầu trao đổi chất mạnh mẽ nên cần thiết phải xuất hiện hệ tuần hoàn giải quyết
vấn đề vận chuyển các chất theo khoảng cách xa một cách nhanh chóng. Hệ tuần
hoàn có chức năng liên kết môi trường dịch mô của tế bào và dịch cơ thể với cơ
quan thực hiện sự trao đổi khí, cơ quan hấp thụ chất dinh dưỡng và cơ quan thải
chất dư thừa. Ví dụ, trong phổi của thú, oxy từ không khí hít vào sẽ được khuếch
tán qua lớp biểu mô mỏng của phế nang để vào dòng máu, còn CO 2 thì khuếch tán
từ máu qua biểu mô phế nang vào khí thở ra. Sự vận động của dòng chất dịch trong
hệ tuần hoàn do tác động của tim và mạch máu nhanh chóng đưa máu giàu oxy đến
các phần của cơ thể và đưa máu chứa các sản phẩm đã trao đổi chất (chất bã thải)
đến các cơ quan để thải ra ngoài.
Vậy hệ tuần hoàn ở động vật xuất hiện như thế nào? Xu hướng tiến hóa của hệ
tuần hoàn ở các nhóm động vật ra sao? Để hiểu sâu hơn về những vấn đề trên tôi
quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về sự xuất hiện và tiến hóa của hệ tuần hoàn ở
động vật”
4
II. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
cơ quan chuyên biệt có chức năng như trao đổi khí, tiêu hóa, bài tiết và sau đó là sự
liên kết các cơ quan này với nhau thông qua hệ thống tuần hoàn.
Hệ thống này có thể vận chuyển nhanh chóng các chất từ nơi này sang nơi
khác, do đó mỗi cơ quan chuyên biệt kia có thể thực hiện tốt chức năng của mình.
3. CẤU TẠO CHUNG CỦA HỆ TUẦN HOÀN
Một hệ tuần hoàn cấu tạo hoàn chỉnh bao gồm các thành phần sau:
3.1. Dịch tuần hoàn
Dịch tuần hoàn: là chất giúp vận chuyển các chất khí, các hormone, kháng
thể, thức ăn và các sản phẩm thải dư thừa.
Ở nhiều loài động vật, dịch tuần hoàn còn có các sắc tố đặc biệt, giúp tăng
khả năng vận chuyển oxy của máu. Ví dụ: hemoglobin
Dịch tuần hoàn có thể là máu hoặc hỗn hợp máu – dịch mô
3.2. Bơm máu
Là cơ chế để tạo ra sự chênh lệch về áp lực, giúp dịch tuần hoàn có thể lưu
thông trong cơ thể.
Có nhiều cơ chế giúp dịch tuần hoàn có thể chảy trong cơ thể. Nhiều loài
động vật ở mặt phẳng tiến hóa cao đã hình thành tim có khả năng co bóp tạo áp lực
để đẩy máu đi trong mạch. Tuy nhiên, đối với nhiều loài động vật bậc thấp, tim
chưa hình thành hoặc chưa phát triển hoàn thiện, chỉ là các mạch co bóp, thì để tạo
6
áp lực đủ lớn giúp dịch tuần hoàn lưu thông thì phải có sự phối hợp với hoạt động
vận động cơ để tăng áp lực dòng chảy.
3.3. Mạch máu
Là cấu trúc ống, giúp vận chuyển dịch tuần hoàn trong cơ thể, từ tim đến các
mô cơ quan rồi lại trở về tim.
Ở các nhóm động vật bậc cao, trong mạch máu có thể hình thành các van,
đảm bảo cho máu chỉ lưu thông theo một chiều.
Trong hệ thống tuần hoàn, các thành phần trên được bố trí sao cho sự trao
+ Do sự lưu thông liên tục của dịch tuần hoàn trong hệ mạch mà các tế bào
và các kháng thể có thể di chuyển đến vị trí bị nhiễm một cách nhanh chóng, bảo vệ
cơ thể khỏi các tác nhân trên
- Điều hòa hoạt động cơ thể:
+Dịch tuần hoàn còn giúp vận chuyển các hormone từ cơ quan tiết đến các
cơ quan đích, góp phần điều hòa các hoạt động của cơ thể.
8
CHƯƠNG II. TIẾN HÓA CỦA HỆ TUẦN HOÀN Ở NHÓM
ĐỘNG VẬT
1. CÁC DẠNG HỆ TUẦN HOÀN CỦA ĐỘNG VẬT KHÔNG
XƯƠNG SỐNG
Hệ tuần hoàn của động vật không xương sống rất đa dạng, tùy thuộc vào
kích thước và hình dạng cơ thể. Môi trường sống khác nhau cũng gây ra sự biến đổi
của hệ tuần hoàn.
1.1. Xoang tiêu hóa- tuần hoàn
Những động vật đơn giản như hải miên, ruột khoang chưa có hệ tuần hoàn
thực sự. Thành cơ thể của chúng chỉ gồm 2 lớp tế bào bao lấy một xoang ở trung
tâm gọi là xoang tiêu hóa- tuần hoàn. Xoang này vừa để tiêu hóa, vừa để phân phối
các chất cho cơ thể. Các chất dịch trong xoang thông với môi trường ngoài qua một
lỗ duy nhất. Sự tiêu hóa bắt đầu trong xoang và các chất đang tiêu hóa dở dang sẽ
hấp thụ vào các tế bào ở lớp trong túi để tiếp tục tiêu hóa nội bào sau đó các chất
dinh dưỡng được khuếch tán ra lớp ngoài với một khoảng cách ngắn.
Nước ra ngoài
Xoang
mạch bụng và mạch dưới thần kinh. Đặc biệt, có các đôi “ tim bên” bơm máu vào
các mạch, thực chất đây là 5 đôi mạch vòng có cấu tạo từ các yếu tố cơ .
Máu lưu chuyển là nhờ sự co bóp của mạch lưng và các đôi “tim bên”. Máu
được chuyển từ mạch lưng xuống mạch bụng, giữa 2 mạch máu chính có các mạch
máu nhỏ dẫn đến thành cơ thể, máu có màu. Huyết sắc tố phân tán trong huyết
tương.
10
Hình 1.3. Hệ tuần hoàn ở giun đất
(Nguồn : />.
1.4. Sự xuất hiện tim chính thức và hệ tuần hoàn hở ở ngành chân khớp và
ngành thân mềm
Ở chân khớp và đa số thân mềm, hệ tuần hoàn phát triển yếu vì một
phần chức năng vận chuyển khí đã được hệ hô hấp đảm nhận.
Cấu tạo hệ tuần hoàn gồm các buồng tim nằm dọc ở mặt lưng, phía trước có
động mạch đầu là phần kéo dài của động mạch chủ.
Mỗi buồng tim có 1 đôi lỗ tim. Sự hoạt động của buồng tim do các cơ duỗi
của mặt lưng và mặt bụng. Các cơ này làm co giãn xoang lưng và xoang bụng để
đưa máu ra hay vào buồng tim, kết hợp với sự co giãn của cơ buồng tim.
Máu di chuyển từ thể xoang vào buồng tim qua đôi lỗ tim (do cơ duỗi co đã
làm giãn xoang bao tim). Tiếp theo thành ống tim co để đẩy máu lên động mạch
đầu và vào nội quan. Cơ màng bụng co làm cho máu từ vùng đầu chuyển ra nội
quan phía sau rồi tập trung vào các khe xoang hổng trước khi trở về xoang bao
tim. Số lượng buồng tim thay đổi tuỳ loài (gián có 13 buồng, côn trùng thấp
có ít hơn). Số lần co bóp cũng khác nhau tuỳ nhóm và tuỳ trạng thái hoạt động
của cơ thể.
11
Mạch bạch huyết lớn có thành mạch rõ ràng, còn các mạch nhỏ đi tới các cơ
quan không có thành nên đổ trực tiếp vào khe các tế bào. Mạch bạch huyết có chỗ
phình rộng thành xoang bạch huyết, tích trữ bạch huyết.
Tuyến bạch huyết là nơi sản sinh ra bạch cầu. Tuyến này có thể liên hệ trực
tiếp với mạch bạch huyết như hạch bạch huyết; hoặc có thể liên hệ gián tiếp với
mạch thông qua tỳ hay lá lách.
Bạch huyết được vận chuyển đi khắp cơ thể nhờ vào:
- Sự co bóp của các tim bạch huyết
- Do sức ép của các nội quan
2.2. Các dạng hệ tuần hoàn ở động vật có xương sống
Hệ tuần hoàn của động vật có xương sống gồm có tim, hệ động mạch, hệ
tĩnh mạch và mao mạch được tổ chức trên một sơ đồ chung. Trong quá trình tiến
hóa từ cá đến động vật có xương sống bậc cao kể cả người, hệ tuần hoàn có những
biến đổi thể hiện ở cấu tạo tim và do sự biến đổi trong cơ chế hô hấp từ mang sang
phổi.
2.2.1. Hệ tuần hoàn của cá miệng tròn (Cyclostomata).
Hệ tuần hoàn của cá miệng tròn có cấu tạo điển hình của các loài có xương
sống ở nước, bao gồm:
- Tim: gồm 2 ngăn: một tâm thất và một tâm nhĩ. Ngoài ra còn có thêm
xoang tĩnh mạch.
- Hệ động mạch (ĐM): Động mạch bụng, có bầu chủ ĐM, mỗi bên mang có
8 động mạch phânh nhánh đến mang, 8 ĐM rời mang, ĐM chủ lưng phân nhánh tới
các nội quan.
- Tĩnh mạch: Tĩnh mạch đuôi, hai tĩnh mạch chính sau, xoang tĩnh mạch, hai
tĩnh mạch chính trước, tĩnh mạch gánh gan, tĩnh mạch gan, xoang tĩnh mạch.
Hệ tuần hoàn chưa có ống Cuvier và hệ gánh thận như ở các nhóm cá khác.
13
Các đặc điểm tiến hóa :
- Xuất hiện thêm xoang tĩnh mạch là nơi tập trung máu từ các tĩnh mạch
trước khi máu đổ vào tâm nhĩ. Sự xuất hiện xoang tĩnh mạch này góp phần đảm bảo
cho máu lưu thông liên tục trong vòng tuần hoàn theo các nhịp đều đặn nhau.
- Xuất hiện bầu chủ động mạch là nơi chứa máu trước khi máu được đẩy vào
các động mạch rời tim.
- Xuất hiện tĩnh mạch gánh gan (TM cửa gan) và tĩnh mạch gan: có thể thấy,
có sự chuyên hóa rõ ràng hơn.
- Xuất hiện hệ thống các động mạch cảnh có nhiệm vụ dẫn máu đi nuôi phần
đầu và tĩnh mạch cảnh dẫn máu đã trao đổi khí từ phần đầu trở về tim.
Tĩnh mạch gánh gan dẫn lưu máu từ lách, tụy và ruột non nhờ đó mà gan có
thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu
hóa thức ăn.
14
Tĩnh mạch gan là tĩnh mạch dẫn máu từ gan, đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ
dưới, là mạch dẫn máu từ gan sau khi đã thực hiện trao đổi chất.
Ở cá miệng tròn, ta thấy đã bắt đầu có sự phân hóa của hệ mạch thành các
mạch đến các phần riêng biệt, làm tăng hiệu quả trao đổi chất.
2.2.2. Hệ tuần hoàn của Cá sụn (Chondrichthyes)
- Tim: Gồm 4 phần: xoang tĩnh mạch, tâm nhĩ, tâm thất và côn chủ động
mạch.
- Hệ động mạch (ĐM): ĐM chủ bụng, các ĐM tới mang và rời mang, rễ ĐM
chủ lưng, ĐM chủ lưng, ĐM cảnh.
- Hệ tĩnh mạch: Tĩnh mạch chính sau, Tĩnh mạch cảnh, Hệ tĩnh mạch gánh
thận, ống Cuvier, Hệ tĩnh mạch gánh gan và tĩnh mạch gan, các tĩnh mạch bên.
Hình 2.2. Sơ đồ hệ tuần hoàn của cá sụn
3.Bầu động mạch chủ
4. Động mạch chủ bụng
5. Động mạch tới mang
6. Động mạch rời mang
7. Vòng động mạch đầu
8. Động mạch chủ lưng
9. Động mạch cảnh
10. Động mạch đòn
11. Tĩnh mạch chính trước
12. Tĩnh mạch chính sau
13. Tĩnh mạch đòn
14. Tĩnh mạch gan
15. Hệ gánh gan
16. Tĩnh mạch đuôi đổ vào hệ
gánh gan
17. Hệ gánh thận trái
18. Tĩnh mạch đuôi
19. Ống Cuvier
1. Tâm nhĩ
2.Tâm thất
Hình 2.4 Sơ đồ hệ tuần hoàn cá xương
2.2.4. Hệ tuần hoàn của cá phổi (dipnoi)
Ở cá phổi, ngoài mang còn có phổi thông với mặt bụng thực quản và có vách
ngăn ở trong, tạo thành tổ ong.
Hệ tuần hoàn cá phổi có các đặc điểm sau
- Tâm nhĩ có vách ngăn không hoàn toàn làm thành hai nửa trái phải, có côn
mạch chủ lưng.
+ Đôi cung thứ ba: là một đôi động mạch phổi da ở gần tim, trước khi tới
phổi thì phát ra động mạch da lớn, dẫn máu đến da để trao đổi khí.
18
- Hệ tĩnh mạch: nói chung giống như ở Cá phổi, nhưng tĩnh mạch chính sau
chỉ còn thấy ở Lưỡng cư có đuôi, tiêu giảm ở lưỡng cư không đuôi.
Máu tĩnh mạch từ hai chi sau và phần thân sau tập trung vào đôi tĩnh mạch
gánh
Hình 2.6.Sơ đồ hệ động mạch của
Lưỡng cư
1. Tâm nhĩ
2. Tâm thất
3. Động mạch phổi
da
4. Động mạch cảnh
5. Côn động mạch
chủ
6. Cung động mạch
thứ nhất
7. Động mạch dưới đòn
8. Động mạch lưng
9. Động mạch thân tạng:
a- động mạch gan;
b- động mạch dạ dày;
c- động mạch ruột
10. Tinh hoàn
11. Thận
hoàn toàn, riêng cá sấu đã có vách ngăn đầy đủ.
- Hệ động mạch: Thân động mạch xuất phát từ tim chia ra làm ba nhánh:
+ Nhánh thứ nhất: đi từ nửa phải tâm thất, mang máu tĩnh mạch, tách ra hai
động mạch đi tới phổi
+ Nhánh thứ hai: đi từ nửa phải tâm thất, mang máu tĩnh mạch, uốn sang bên
trái, phát ra cung động mạch chủ trái
+ Nhánh thứ ba: đi từ nửa trái tâm thất, mang máu động mạch, uốn sang bên
phải, phát ra cung chủ động mạch phải và động mạch cảnh.
Cung chủ động mạch trái và phải uốn ra sau, hợp lại thành động mạch chủ
lưng. Động mạch chủ lưng chạy về phía sau phát ra nhiều động mạch lớn tới các nội
quan và động mạch nhỏ tới thành cơ thể. Sau cùng, động mạch chủ lưng chia ra
thành hai động mạch chậu đi tới chi sau và tiếp tục chạy về đuôi thành một động
mạch đuôi.
- Hệ tĩnh mạch: Máu từ sau cơ thể về tim lần lượt theo các tĩnh mạch sau đây:
+ Tĩnh mạch chậu nhận máu tĩnh mạch từ tĩnh mạch đuôi, tĩnh mạch chân
sau, tĩnh mạch gánh thận, tập trung vào thành tĩnh mạch bụng.
+ Tĩnh mạch bụng nhận máu từ nhiều tĩnh mạch nội quan, trở thành tĩnh
mạch gánh gan, phân mao quản thành hệ gánh gan, tập trung lại thành tĩnh mạch
gan, đổ vào tĩnh mạch chủ sau.
+ Tĩnh mạch chủ sau đổ vào xoang tĩnh mạch rồi đổ vào tâm nhĩ phải
Tĩnh mạch bụng ở Bò sát chỉ là phần mạch máu tập trung máu từ các mạch
nội quan đổ vào, không phân biệt với tĩnh mạch gan như ở Lưỡng cư.
Máu từ trước cơ thể về tim lần lượt theo các tĩnh mạch sau đây:
- Máu tĩnh mạch ở đầu đổ vào hai tĩnh mạch cảnh
- Máu tĩnh mạch ở hai chi trước tập trung vào tĩnh mạch dưới đòn
- Máu của tĩnh mạch cảnh và tĩnh mạch dưới đòn tập trung vào tĩnh mạch chủ
trước, rồi đi vào xoang tĩnh mạch
- Hai tĩnh mạch phổi đưa máu đã được oxy hóa từ phổi về tâm nhĩ trái.
20
chủ lưng.
+ Ở gốc cung chủ động mạch phát ra một đôi động mạch không tên, mỗi
động mạch không tên phân ra thành 3 động mạch: động mạch cảnh, động mạch dưới
đòn, động mạch ngực. Thân chính của cung động mạch chủ đi vòng qua phế quản
phải, kéo dài dọc cột sống thành động mạch chủ lưng, từ đó phát ra các động mạch
22
tới các nội quan. Tới vùng chậu, sau khi phát ra đôi động mạch đùi và đôi động
mạch ngồi, động mạch chủ lưng trở thành động mạch đuôi.
+ Tâm thất phải phát ra thân chung, rồi tách ra hai động mạch phổi.
1. Tâm nhĩ phải
2. Tâm thất phải
3. Động mạch phổi
trái
4. Động mạch phổi
phải
5. Tâm nhĩ trái
6. Tâm thất trái
7. Cung động mạch
chủ
8. ĐM không tên trái
9. ĐM không tên
phải
10. Động mạch cảnh
chung
11. Động mạch cảnh
ngoài
12. Động mạch cảnh
trong
31. Tĩnh mạch dưới
đòn trái
32. Tĩnh mạch chủ
trước phải
Hình 2.9. Sơ đồ hệ tuần hoàn của chim
- Hệ tĩnh mạch:
+ Từ tĩnh mạch đuôi phân hai tĩnh mạch gánh thận. Tĩnh mạch qua thận còn
tiếp nhận thêm tĩnh mạch đùi mang máu từ chi sau về, tạo thành đôi tĩnh mạch hông.
Đôi này gắn với nhau làm thành tĩnh mạch chủ sau.
23
+ Gốc tĩnh mạch đuôi có một tĩnh mạch mạc treo ruột cùng đổ vào tĩnh mạch
gan. Tĩnh mạch này đặc trưng cho Lớp chim.
+ Tĩnh mạch trên ruột mang máu từ mạc treo đổ vao tĩnh mạch gánh gan,
tương đương với tĩnh mạch bụng ở bò sát và lưõng cư.
+ Máu ở phần đầu đổ vào đôi tĩnh mạch chủ trước, rồi cùng với tĩnh mạch
chủ sau đi vào tâm nhĩ phải.
+ Máu ở phổi đổ vào bốn tĩnh mạch phổi, rồi vào tâm nhĩ trái.
- Máu: Hồng cầu nhiều, lồi hai mặt, có nhân, hemoglobin liên kết yếu với oxy.
Cơ thể chim tiến hóa theo hướng thích nghi với chuyển vận bay. Chim hoạt
động mạnh, cần nhiều năng lượng và nhu cầu oxy cao.
- Tim của Chim đã có 4 ngăn hoàn chỉnh, không có xoang tĩnh mạch. Đây là
đặc điểm tiến hóa nổi trội so với Bò sát. Máu từ hệ tĩnh mạch đổ thẳng vào tâm nhĩ,
áp lực máu lớn, góp phần giúp cho tốc độ lưu thông máu nhanh hơn.
- Do có cấu trúc 4 ngăn hoàn chỉnh, hai vòng tuần hoàn biệt lập mà máu của
Chim không bị pha trộn, tăng hiệu quả trao đổi khí đến các cơ quan.
- Tim co bóp nhanh, nhịp tim tỉ lệ nghịch với khối lượng cơ thể.
- Hồng cầu nhiều, lồi hai mặt, có nhân, ái lực của hemoglobin với oxy yếu
6. Cung động mạch
chủ trái
7. Động mạch không
tên
8. Động mạch dưới
đòn phải
9. Động mạch cảnh
lớn phải
10. Động mạch cảnh
lớn trái
11. Động mạch dưới
đòn trái
12. Động mạch chủ
lưng
13. Động mạch thận
14. Động mạch chậu
trái
Hình 2.10 Sơ đồ hệ tuàn hoàn ở thú
25
15. Tĩnh mạch chậu
phải
16. Tĩnh mạch cửa gan
17. Tĩnh mạch gan
18. Tĩnh mạch chủ
dưới
19. Tĩnh mạch chủ
trên phải