BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-----------------------
HỒ LÂM THANH THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH,
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHI TIÊU
CHÍNH PHỦ LÊN TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-----------------------------
HỒ LÂM THANH THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH,
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHI TIÊU
CHÍNH PHỦ LÊN TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HUYỀN
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TRÊN THẾ GIỚI ...................................................................................................... 7
2.1 Cơ sở lý thuyết.................................................................................................... 7
2.1.1 Tiêu thụ năng lượng ....................................................................................... 7
2.1.2 Tăng trưởng kinh tế ....................................................................................... 8
2.1.3 Phát triển tài chính ....................................................................................... 10
2.1.4 Chi tiêu chính phủ ........................................................................................ 16
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới .......................................................... 18
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu
thụ năng lượng .......................................................................................................... 18
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tiêu
thụ năng lượng.......................................................................................................... 25
2.2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tiêu
thụ năng lượng.......................................................................................................... 31
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ......................................................................................... 32
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................. 34
3.1 Giới thiệu ......................................................................................................... 34
3.2. Mô hình thực nghiệm ........................................................................................ 34
3.2.1
Mô hình tuyến tính ................................................................................. 35
3.2.2
Mô hình phi tuyến với một hạn chéo ...................................................... 36
3.3 Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu ........................................................... 33
3.4 Dữ liệu và mẫu quan sát .................................................................................. 39
4.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư– Greene (2000) ............. 48
4.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư – Wooldridge (2002) và Drukker
(2003) ....................................................................................................................... 49
4.6 Phân tích kết quả hồi quy ................................................................................ 49
4.6.1
Kết quả hồi quy tuyến tính....................................................................... 52
4.6.2
Kết quả thực nghiệm của hồi quy phi tuyến với một hạn chéo ............... 53
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 ......................................................................................... 56
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ..................................................................................... 57
5.1 Kết luận ........................................................................................................... 57
5.2 Hạn chế của đề tài............................................................................................. 58
5.3 Gợi ý chính sách ............................................................................................... 58
5.4
Hướng mở rộng đề tài ..................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Khung lý thuyết phản ánh các tác động của phát triển tài chính và tiêu thụ
năng lượng ................................................................................................................. 12
Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và tiêu thụ năng lượng .................................................................................. 19
1990 – 2014, với kỳ quan sát tính theo năm. Bài nghiên cứu rút ra được các phát
hiện quan trọng sau đây:
Thứ nhất, sử dụng năng lượng bình quân đầu người tiếp tục tăng trưởng khi
thu nhập tăng. Những lời giải thích dường như là cải tiến kỹ thuật cho phép số
lượng thiết bị sử dụng năng lượng được đưa vào các hộ gia đình và các ngành công
nghiệp (gây tiêu thụ năng lượng nhiều hơn), như tiền tiết kiệm được chi cho hàng
hóa và dịch vụ khác.
Thứ hai, các chính sách chỉ dựa trên nhu cầu năng lượng và thu nhập sẽ
không đúng khi thị trường chứng khoán phát triển. Các kết quả trong bài nghiên cứu
cho thấy khi phát triển tài chính được đo bằng biến thị trường chứng khoán, cụ thể
là biến giá trị cổ phiếu giao dịch sẽ trực tiếp làm tăng nhu cầu năng lượng nhưng
bên cạnh đó lại có tác động gián tiếp lên GDP từ đó gây ra tác động tiêu cực lên tiêu
thụ năng lượng. Trong khi các chỉ số khác dùng để đo phát triển tài chính không có
ý nghĩa thống kê
Thứ ba, các hệ số chi tiêu chính phủ là âm ở tất cả các mô hình nhưng không
có ý nghĩa thống kê.
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy các ảnh hưởng của phát triển tài chính,
tăng trưởng kinh tế và chi chính phủ lên tiêu thụ năng lượng với dữ liệu thu thập từ
năm 1990 đến 2014 từ 18 quốc gia Apec-Châu Á Thái Bình Dương. Dữ liệu thống
kê trong bài được thu thập và tổng hợp để tính toán các biến độc lập và biến phụ
thuộc trong các mô hình thực nghiệm được lấy từ các chỉ số World Development
Indicators (WDI) cơ sở dữ liệu trực tuyến của World Bank. Dữ liệu trong bài nghiên
2
cứu là dạng dữ liệu bảng (panel data). Và Việt Nam là đại diện quốc gia có thu nhập
trung bình trong mẫu, vì thế các kết quả bài nghiên cứu gợi ý các chính sách liên
quan đến chi tiêu chính phủ, tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính sao cho phù
hợp chính sách và cải thiện môi trường cũng như hiệu quả năng lượng.
cho thấy rằng những thiếu sót nghiêm trọng của các biến số phát triển tài chính
trong mô hình tiêu thụ năng lượng có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa GDP và
tiêu thụ năng lượng. Ngoài ra, phát triển tài chính tăng cường đầu tư trong nhiều sản
phẩm tiêu thụ năng lượng và công nghệ tiến bộ trong hiệu quả năng lượng.
4
Mặc dù, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến mức tiêu thụ năng lượng xem xét đồng thời các tác động của phát
triển tài chính, thu nhập, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng. Để làm rõ thêm
về vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng
kinh tế và chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng” để làm luận văn thạc sĩ của
mình. Đồng thời cung cấp một số gợi ý chính sách cụ thể để duy trì phát triển kinh
tế và chính sách phát triển năng lượng hiệu quả.
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả đặt ra mục tiêu của nghiên cứu sau đây: bài viết sử dụng hồi quy
tuyến tính và phi tuyến với 1 hạn chéo để để kiểm tra tác động của biến phát triển
tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ lên tiêu thụ năng lượng.
1.3
Vấn đề nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Một là, đúc kết và tổng hợp cơ sở lý thuyết, các bằng chứng thực nghiệm trên
thế giới về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ
năng lượng và mối quan hệ giữa các biến.
Hai là, dùng mô hình thực nghiệm để kiểm định tác động của phát triển tài
đó đáp ứng ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Đánh giá tác động của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu
chính phủ lên tiêu thụ năng lượng ở các không gian của 18 quốc gia Apec.
- Đóng góp cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi
tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng.
- Đóng góp các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và tiêu thụ năng lượng, phát triển tài chính và tiêu thụ năng lượng, giữa chi
tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng ở các vùng, quốc gia, các quốc gia trên thế
giới.
- Gợi ý chính sách trong tiêu thụ năng lượng ở quốc gia thuộc khu vực ApecChâu Á Thái Bình Dương nói chung, các nền kinh tế khác nhau trong khu vực nói
riêng từ kết quả thực nghiệm của đề tài
1.6
Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương được trình bày cụ thể theo
trình tự sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu
nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương
6
pháp nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên
cứu, ý nghĩa đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới.
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày ngắn gọn về cơ sở lý thuyết về phát
triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, chi tiêu chính phủ và tiêu thụ năng lượng và các
nghiên cứu trước đây liên quan đến các cặp biến: phát triển tài chính và tiêu thụ
năng lượng, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng, chi tiêu chính phủ và tiêu
sử dụng các nguồn năng lượng hiện hiệu quả, và để tạo ra nguồn năng lượng tái tạo
không phải chịu ràng buộc hạn chế nguồn cung (Solow, 1974, 1997; Stiglitz,
1997). Theo đó, năng lượng chỉ đơn thuần là một trong những yếu tố đầu vào không
cần thiết trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, những người ủng hộ lý thuyết này
hỗ trợ “giả thuyết trung lập” và “giả thuyết bảo tồn”. Những giả thuyết ngụ ý rằng
hạn chế nguồn cung cấp năng lượng có thể không có bất kỳ tác động có hại đối với
tăng trưởng kinh tế. Như vậy, Chính phủ có thể đồng thời áp dụng các chính sách
bảo tồn năng lượng và tăng trưởng kinh tế (Bartleet và Gounder, 2010).
Trong khi đó, các lý thuyết kinh tế sinh thái nói rằng tiêu thụ năng lượng là
một yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện
đại. Các nhà kinh tế sinh thái phán xét rằng tiến bộ công nghệ và đầu vào vật chất
khác không thể nào thay thế vai trò quan trọng của năng lượng trong quá trình sản
xuất (Stern, 1993, 2000). Họ thậm chí xem xét năng lượng như là nguồn chính bởi
8
vì các yếu tố khác của sản xuất như lao động và tư bản không thể thực hiện mà
không cần năng lượng (Belloumi, 2009).
Stern & Cleveland (2004) thấy rằng do trọng tâm chính của lý thuyết tăng
trưởng truyền thống là lao động và yếu tố sản xuất tư bản lớn trong khi đó nó bỏ
qua tầm quan trọng của năng lượng trong quá trình tăng trưởng. Vì thế trong nghiên
cứu của mình Stern & Cleveland xem năng lượng là một yếu tố thiết yếu của sản
xuất và do đó cho rằng năng lượng là cần thiết cho sự tăng trưởng, và tạo thành một
quan hệ nhân quả chạy từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế. Việc sử dụng
năng lượng và đầu ra kết chặt chẽ với đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều
kiện cho tăng trưởng.
Nổi lên từ các cuộc tranh luận đó là các nghiên cứu của Ehrlich và Holdren
(1971, 1974), Ehrlich và các đồng sự (1977), Ehrlich (1990) và Holdren (1991) về
các tác động của con người lên môi trường. Theo Holdren (1991) các kết nối rõ
ràng nhất giữa dân số, năng lượng, môi trường được xác định bằng quan hệ đại số.
đến tăng trưởng. Giả thuyết thứ hai được gọi là “giả thuyết tăng trưởng” và nó lập
luận rằng mức tiêu thụ năng lượng gây ra sự tăng trưởng kinh tế. Điều này ngụ ý
rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào mức tiêu thụ năng lượng và do đó năng
lượng là một kích thích tăng trưởng. Điều này có nghĩa rằng thiếu hụt năng lượng
có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế hoặc có thể gây ra hiệu quả kinh
tế kém, dẫn đến giảm thu nhập. Giả thuyết thứ ba được gọi là "giả thuyết phản hồi”,
nó ngụ ý rằng cả tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế gây ra cho nhau. Cuối
cùng, các "giả thuyết trung lập" ngụ ý rằng không có quan hệ nhân quả giữa việc
tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế.
Meadows và các đồng sự (1992) lập luận ngoài mối đe dọa đối với môi
trường trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế là cần thiết để duy trì và cải thiện chất
lượng môi trường. Đồng thời, các mối quan tâm ngày càng tăng về tác dụng phụ của
tăng trưởng kinh tế lên môi trường đã thúc đẩy rất nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu cho một khái niệm về phát triển kinh tế bền vững với môi trường giữa
sự đánh đổi tăng trưởng kinh tế với chất lượng môi trường (Anderson, 1992).
10
Các giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC), dựa trên giả thuyết
mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người và
thước đo của chất lượng môi trường. Trong đó mối quan hệ giữa thu nhập và môi
trường bị suy thoái chỉ ra một sự gia tăng thu nhập dẫn đến tăng ô nhiễm môi
trường nhưng khi đạt đến một điểm nào đó sẽ bị suy giảm, có thể được kiểm tra
thực nghiệm bằng cách sử dụng các biện pháp khác nhau của các tiêu chuẩn về môi
trường. Tiến xa hơn một khuôn khổ EKC truyền thống, trong đó thu nhập là các
biến giải thích duy nhất, Selden và Song (1994) cho thấy lập phương và cao hơn của
GDP bình quân đầu người là không dừng. Các nghiên cứu trước, bằng cách sử dụng
khung EKC đã bỏ qua những vấn đề các khác biệt đầu tiên của bình phương của quá
trình tích hợp là không cố định.
Ở trang 412 Wagner (2008) đã chỉ ra "... đến nay không có kỹ thuật ước
2011; và Shahbaz và Lean, 2012). Phát triển tài chính làm giảm khí thải CO2
(Tamazian và các đồng sự, 2009).
Christopoulos, D. K., & Tsionas, E. G. (2004) đưa ra quan điểm rằng đối với
phát triển tài chính, hệ thống tài chính nghiêm ngặt (kết hợp các tính năng như trần
lãi suất, dự trữ bắt buộc, và một chương trình tín dụng chỉ định) có thể làm suy
giảm sự phát triển tài chính bởi vì một một hệ thống chặt chẽ (hoặc kém phát triển
như vậy) có thể bị thiếu dòng vốn. Đồng thời kết luận rằng có bằng chứng khá
mạnh mẽ ủng hộ của giả thuyết rằng quan hệ nhân quả dài hạn từ phát triển tài
chính đến tăng trưởng. Ngược lại, một hệ thống phát triển tài chính có thể cung cấp
các chức năng thiết yếu chuyển tiền cho các công ty và gia tăng sự đổi mới trong
dịch vụ tài chính.
Barth, J. R., Caprio, G. J., & Nolle, D. E. (2004) đã đưa ra quan điểm rằng sự
phát triển tài chính có thể cung cấp dịch vụ tài chính hiệu quả trong thị trường ngân
hàng nước ngoài, và cải thiện khả năng tiếp cận của cả công ty nước ngoài và trong
nước với hàng hóa và dịch vụ tài chính.
Sadorsky (2011) chỉ ra rằng sự phát triển tài chính cải thiện việc tiếp cận
nguồn lực tài chính làm tăng nhu cầu đối với các mặt hàng lớn và tiêu thụ năng
lượng cũng có tác động tích cực gián tiếp để thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Hiệu
quả tổng thể là nâng cao nhu cầu năng lượng.
12
Fung, H. K. (2009) đã phát hiện thấy một hệ thống tài chính hiệu quả tạo ra
nhiều sản phẩm hơn, và các yếu tố đầu vào cho các sản phẩm này tăng nhu cầu năng
lượng. Những hạn chế về tài chính ngăn các nước nghèo nhận được lợi ích đầy đủ
các chuyển giao công nghệ và làm cho tốc độ tăng trưởng phân kì ở các vùng biên
giới trên thế giới. Đặc biệt, hạn chế tài chính tạo ra bởi một thị trường tài chính kém
phát triển có thể ngăn chặn các nước nghèo áp dụng mới công nghệ vì R & D, hoặc
đầu tư vào các công nghệ nói chung.
Tamazian và các đồng sự (2009) chỉ ra rằng phát triển tài chính đóng một vai
Cải thiện phát triển tài chính giúp các doanh nghiệp tiếp
cận nguồn vốn tài chính dễ dàng và ít tốn kém. Ngoài ra
thị trường chứng khoán phát triển cũng có thể ảnh
hưởng đến doanh nghiệp bằng cách cung cấp cho họ
nguồn kinh phí bổ sung, có thể cho phép doanh nghiệp
mở rộng tiềm năng kinh doanh hiện tại của họ và tăng
nhu cầu năng lượng.
Hiệu ứng tài sản
Hoạt động thị trường chứng khoán tăng thường ảnh
hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng và các doanh
nghiệp bằng cách tạo ra hiệu ứng tài sản. Tăng niềm tin
kinh tế có thể mở rộng nền kinh tế và thúc đẩy nhu cầu
năng lượng.
Nguồn: Coban và Topcu (2013)
- Các chỉ số phát triển tài chính
Theo cán cân thanh toán số liệu công bố của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, mức
độ phát triển tài chính tương quan với các tài khoản tài chính, trong đó có liên quan
đến các dòng tài chính quốc tế ngắn hạn và dài hạn của khu vực tư nhân và công
cộng. Dựa vào loại của các dòng tài chính, phát triển tài chính có thể nói là bao gồm
các tổ chức tài chính (ví dụ, ngân hàng công và tư nhân), các thị trường chứng
khoán (tức là, thị trường chứng khoán), và FDI.
De Gregorio, Jose, & Guidotti, P. E. (1995), Hasanov, F., & Huseynov, F.
(2013) và Tamazian, A., Chousa, J. P., & Vadlamannati, K. C. (2009) chỉ ra hai chỉ
số có thể được sử dụng để đánh giá sự phát triển của các tổ chức tài chính: tín dụng
tư nhân và tín dụng trong nước được cung cấp bởi các ngân hàng là một phần của
GDP (đại diện cho độ sâu về kích thước của khu vực ngân hàng và khu vực phát
triển tài chính).
tổ chức phát triển tài chính và thị trường vốn có thể cung cấp vốn vay đến lĩnh vực
năng lượng tái tạo, tài trợ các dự án năng lượng tái tạo xanh (Dasgupta, Hong,
Laplante, & Mamingi, 2004). Phát triển tài chính tốt làm cho nó có thể cung cấp các
khoản tín dụng cho các dự án thân thiện với môi trường ở chi phí tài chính thấp.
Hơn nữa, FDI có thể dẫn đến sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp địa
15
phương, trong đó có thể giúp giảm bớt tiêu thụ năng lượng (Alfaro, Chanda,
Kalemli-Özcan, & Sayek, 2004, 2006; Bailliu, 2000; Hermes & Lensink, 2003).
Theo Sadorky (2010) có hai lý thuyết chính giải thích tại sao tăng trưởng
trong hoạt động thị trường chứng khoán lại tăng cường đầu tư và hoạt động kinh tế
Minier (2009). Tác động đầu tiên khi thị trường chứng khoán phát triển làm tăng số
lượng các quỹ đầu tư phục vụ cho các dự án đầu tư. Khi thị trường chứng khoán
phát triển như vậy làm cho các quy tắc (tiêu chuẩn kế toán và báo cáo) liên kết với
nhau và làm tăng niềm tin đầu tư, đặc biệt quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài. Tác động thứ hai là hiệu ứng hiệu quả, khi thị trường chứng khoán
phát triển làm tăng sự đa dạng hóa và tính thanh khoản của thị trường. Kể từ khi thị
trường chứng khoán phát triển làm tăng số tiền của các quỹ cho các dự án đầu tư
các nhà nghiên cữu đã hi vọng là phát triển thị trường chứng khoán dẫn đến nhiều
đầu tư, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu năng lượng.
Levine, R., & Zervos, S. (1998) chỉ ra rằng hai chỉ số có thể được sử dụng để
đánh giá sự phát triển thị trường chứng khoán: giá trị cổ phiếu giao dịch; và vòng
quay thị trường chứng khoán.
- Giá trị cổ phiếu được giao dịch đại diện cho tính thanh khoản trên thị
trường chứng khoán bao gồm tổng giá trị cổ phiếu được giao dịch trên thị trường
như là một phần của GDP. Cổ phiếu được giao dịch đề cập đến tổng giá trị cổ phiếu
được giao dịch trong giai đoạn này. Chỉ số này bổ sung cho tỷ lệ vốn hóa thị trường
bằng cách hiển thị cho dù quy mô thị trường là phù hợp bởi giao dịch; tính thanh
khoản của thị trường chứng khoán là một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho tăng trưởng
trường; và chi tiêu cho đầu tư phản ánh đầu tư công cho cơ sở hạ tầng, đường xá,
trường học, bệnh viện... Chính phủ cung cấp những các lợi ích xã hội xã hội như an
ninh quốc phòng, thực thi pháp luật, y tế cộng đồng, phổ cập giáo dục tiểu học,
nghiên cứu khoa học cơ bản hay dịch vụ hỗ trợ thị trường,….Hoạt động của chính
phủ ở các cấp từ trung ương đến địa phương ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nhiều
cách. Như đã nói ở trên, chính phủ các nước đóng góp vào sản lượng kinh tế khi họ
cung cấp dịch vụ cho công chúng và khi họ đầu tư vốn. Chính phủ cũng có ảnh
hưởng đến nền kinh tế thông qua thuế và bằng cách cung cấp ưu đãi đối với hoạt
động kinh doanh khác nhau.
17
Một số học giả đã lập luận rằng tăng chi tiêu chính phủ có thể là một công
cụ hiệu quả để kích thích tổng cầu của nền kinh tế trì trệ và mang lại hiệu quả trên
khu vực tư nhân. Theo quan điểm của Keynes, chính phủ có thể đảo ngược suy
thoái kinh tế bằng cách vay tiền từ khu vực tư nhân và sau đó trả lại tiền cho các
ngành thông qua các chương trình chi tiêu khác nhau. Cùng với mức chi tiêu đó có
thể tăng việc làm, lợi nhuận và đầu tư thông qua các hiệu ứng số nhân trên tổng cầu.
Như vậy, chi tiêu chính phủ có thể đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Mặt
khác, mô hình tăng trưởng nội sinh như Barro (1990) dự đoán rằng chỉ có những
khoản chi tiêu sản xuất của chính phủ sẽ ảnh hưởng tích cực lâu dài đến tỉ lệ tăng
trưởng kinh tế.
Các nhà kinh tế đã thống nhất với nhau rằng trong một số trường hợp sự cắt
giảm quy mô chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trường
hợp khác sự gia tăng chi tiêu chính phủ lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế
(Wieland, 2008) chỉ ra rằng để giảm bớt các tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế và sau đó là khủng hoảng tài chính, các nước có thể thực hiện chính
sách kích cầu. Chính sách tài khóa khi thực hiện đúng, kịp thời sẽ có tác động
nhanh, mạnh hơn đặc biệt thông qua chi tiêu chính phủ vì nó tác động trực tiếp đến
tổng cầu còn chính sác tiền tệ phải phụ thuộc vào độ nhảy cảm của đầu tư, tiết kiệm,
khuyến khích việc cấp giấy phép công nghệ năng lượng bền vững và dịch vụ. Chính
phủ có thể cung cấp các chi phí bảo vệ môi trường, giảm khí thải CO 2, chi tiêu công
cho R&D để phát triển công nghệ mới tiết kiệm năng lượng, các loại thuế và ưu đãi
thuế quan cho xuất nhập khẩu các sản phẩm năng lượng tái tạo. Chẳng hạn, ở 1 số
quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ,… đã chính phủ áp dụng các chính trong
việc phát triển năng lượng tái tạo gần đây. Việc mở rộng chính sách can thiệp của
chính phủ để giảm chi phí và do đó, tạo ra tiềm năng đổi mới công nghệ. Mặc dù
năng lượng vẫn quan trọng, tiến bộ kỹ thuật trong ngành công nghiệp sản xuất đã
cho phép tiết kiệm năng lượng được sử dụng trên một đơn vị sản lượng và làm giảm
các hạn chế nguồn năng lượng.
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và tiêu thụ năng lượng: