BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
----------
NGUYỄN HẢI SƠN
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP. Hồ Chí Minh, Tháng Mười Hai 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
----------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60.34.02.01
Phương pháp: Phân tích hồi quy tuyến tính theo mô hình Fixed Effect
và Random Effect cho dữ liệu panel trong giai đoạn nghiên cứu và thực hiện các kiểm
định liên quan đến mô hình.
-
Kết quả: Kết quả phân tích cho thấy các biến số phát triển tài chính đều
tác động dương tính đến tăng trưởng, ngoài ra tác động của khu vực ngân hàng lên
tăng trưởng mạnh hơn so với khu vực thị trường tài chính. Mặt khác, phát triển tài
chính quá mức cũng có thể gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng
dân số cũng ảnh hưởng đến mức độ tác động của các biến số tài chính lên tăng trưởng.
-
Kết luận: Dữ liệu nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa phát triển tài
chính và tăng trưởng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á khá vững chắc, tuy nhiên không
phải là yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng.
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một
trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả
nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây
hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn
đầy đủ trong luận văn.
LỜI CÁM ƠN
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................4
Tính mới và giá trị thực tiễn của đề tài ..........................................................5
Bố cục dự kiến của đề tài...............................................................................6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN
8
Hệ thống tài chính và phát triển tài chính......................................................8
2.1.1. Hệ thống tài chính ...................................................................................8
2.1.1.1. Khái niệm hệ thống tài chính ...........................................................8
2.1.1.2. Nguyên nhân hình thành hệ thống tài chính ....................................8
2.1.1.3. Chức năng của hệ thống tài chính....................................................9
2.1.2. Phát triển tài chính ................................................................................12
2.1.2.1. Khái niệm phát triển tài chính .......................................................12
2.1.2.2. Các thước đo phát triển tài chính ...................................................14
Cơ sở lý luận về tăng trưởng .......................................................................22
2.2.1. Tăng trưởng kinh tế ..............................................................................22
2.2.2. Chỉ tiêu đo lường ..................................................................................23
Tổng quan tài liệu về mối quan hệ tài chính – tăng trưởng .........................24
2.3.1. Sự phát triển các tư tưởng chủ đạo qua thời gian .................................24
2.3.1.1. Quan điểm ủng hộ ..........................................................................25
2.3.1.2. Quan điểm hoài nghi ......................................................................29
2.3.2. Các nghiên cứu thực nghiệm ................................................................32
2.3.2.1. Nghiên cứu dữ liệu chéo (Cross-country/ Cross-sectional)...........34
2.3.2.2. Nghiên cứu chuỗi thời gian (Time series) .....................................38
2.3.2.3. Nghiên cứu dữ liệu bảng (Panel) ...................................................43
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 .......................................................................................47
PHỤ LỤC F: CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH .....................................................116
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt (tên đầy đủ)
Ý nghĩa
BIS (Banking International
Settlement)
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế
DN
Doanh nghiệp
DOLS (Dynamic OLS)
Mô hình OLS động
ECM (Error correction model)
Mô hình hiệu chỉnh sai số
EFA (Exploratory factors analysis)
Mô hình phân tích nhân tố khám phá
FEM (Fixed effects model)
PCA (Principal component analysis)
Phương pháp phân tích thành phần chính
REM (Random effects model)
Mô hình tác động ngẫu nhiên
TFP (Total factor productivity)
Năng suất các nhân tố tổng hợp
TGTC
Trung gian tài chính
TTCK
Thị trường chứng khoán
TTTC
Thị trường tài chính
VAR (Vector auto-regression)
Mô hình tự hồi quy vector
VECM (Vector equilibrium/error
Bảng PL 5: Hồi quy FEM theo FI ...........................................................................120
Bảng PL 6: Hồi quy FEM theo FM .........................................................................121
Bảng PL 7: Kiểm định tính gộp, tính chéo mô hình FEM(FI), FEM(FM) .............121
Bảng PL 8: Các kiểm định bổ sung cho FEM(FI) và REM(FM) ...........................122
Bảng PL 9: Ước lượng vững (Robust) cho FEM(FI) và REM(FM) .......................122
- ii -
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Sơ đồ các kênh dẫn vốn ............................................................................10
Hình 2.2: Sự phát triển của thị trường vốn ...............................................................17
Hình 2.3: Tháp chỉ số phát triển tài chính .................................................................18
Hình 2.4: Hệ thống tư tưởng quan hệ tài chính - tăng trưởng ...................................33
Hình 3.1: Mức độ dữ liệu trống trong dữ liệu ...........................................................51
Hình 4.1: Tỉ lệ lạm phát Đông Nam Á (1992 - 2016) ...............................................57
Hình 4.2: Độ mở thương mại Đông Nam Á (1992 - 2016) ......................................57
Hình 4.3: GDP đầu người Đông Nam Á (1992 - 2016) ............................................58
Hình 4.4: Các chỉ số phát triển tài chính ở Đông Nam Á .........................................59
Hình 4.5: Ma trận hệ số tương quan Spearman với mô hình FD ..............................60
Hình 4.6: Ma trận hệ số tương quan Spearman với mô hình FI ...............................61
Hình 4.7: Ma trận hệ số tương quan Spearman với mô hình FI ...............................61
Hình 4.8: POLS theo phương pháp Bayes ................................................................63
Hình PL 1: Missing data của Brunei .......................................................................116
Hình PL 2: Missing data của Cambodia .................................................................116
Hình PL 3: Missing data của Vietnam và các nước còn lại ....................................117
- iii -
-1-
-
Thứ nhất, khái niệm “phát triển tài chính” là một khái niệm đa chiều
(Svirydzenka, 2016), do đó, chỉ riêng việc định nghĩa đã có khá nhiều những tranh luận
khác nhau. Hệ quả là, các chỉ số để đo lường cũng có sự khác biệt lớn giữa các nghiên
cứu, mang tính kinh nghiệm và đôi khi chủ quan. Như Edward (1996) nói rằng, “việc
xác định các thước đo phù hợp cho mức độ phát triển tài chính là một trong những
thách thức mà các nhà nghiên cứu thực nghiệm phải đối mặt”. Mặt khác, vì các quốc
gia có sự khác biệt về cấu trúc tài chính, mức độ tập trung của các TGTC, khối lượng
giao dịch tài chính và hiệu quả của các khung pháp lý tài chính, nên không thể nào áp
dụng các thước đo trong một nghiên cứu nào cho một tình huống cụ thể mà không có
những hiệu chỉnh nhất định (Arestis và Demetriades, 1996). Vì thế, các nhà làm chính
sách thường lúng túng trong việc lựa chọn các chỉ số để theo dõi, tiên lượng và đưa ra
các chính sách phản ứng lại với thị trường.
-
Thứ hai là, trong gần nửa thế kỷ, chúng ta không thể thiết lập các chỉ số
tổng hợp để đo lường phát triển tài chính do thiếu thốn các dữ liệu cần thiết, cũng như
khả năng đáp ứng của ngành khoa học máy tính nhằm giải các thuật toán phức tạp.
Trong khi đó, các cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế ở các nước (đặc biệt các nước
đang phát triển) đã xảy ra với một tần số đáng báo động1 và ảnh hưởng càng lúc càng
mạnh mẽ, các nhà làm chính sách đòi hỏi cần có những chỉ số tổng hợp nhiều hơn và
chính xác hơn nhằm nhanh chóng phản ứng với các thiệt hại của cuộc khủng hoảng.
Lý do thứ ba khiến tác giả quan tâm đến đề tài này, đó là vào tháng 04/2017,
do những nhu cầu cấp thiết về chỉ số tổng hợp, sau nhiều năm nỗ lực nghiên cứu, IMF
đã công bố bộ 9 chỉ số đo lường phát triển tài chính. Điều này đặt ra vấn đề liệu bộ
chỉ số này có phản ánh được các lý thuyết, quan điểm mà trước đó chúng ta đặt ra
hay không?
Schumpeter (1911) cho rằng phát triển tài chính sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế hay không?
2
Mishkin (2007) gọi là “sức ép tài chính” (financial pressure).
-4-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của phát triển tài chính đến
tăng trưởng kinh tế trong phạm vi các nước ở khu vực Đông Nam Á.
Như vậy, phạm vi không gian của đề tài cũng được thu hẹp trong các nước
thuộc khu vực này. Nguyên nhân là vì các quốc gia trong khu vực này có những nét
khá tương đồng về mặt kinh tế, văn hoá, cũng như hệ thống tài chính. Nằm trong
vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió mùa, các quốc gia trong khu vực hầu như đều
có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp lúa nước và sản xuất, đồng thời hệ thống tài
chính cũng khá tụt hậu và chậm hơn so với các quốc gia phát triển, ngoại trừ “con hổ
châu Á” Singapore. Với sự tương đồng như vậy, tác giả cho rằng kết quả nghiên có
thể được diễn giải một cách chính xác và rõ nét hơn.
Về phạm vi thời gian, nghiên cứu thực hiện trong phạm vi khả thi của các
dữ liệu cần thiết (từ năm 1992 đến 2016, thời điểm gần nhất của các số liệu thống kê
trên các cơ sở dữ liệu). Nguyên nhân là vì các dữ liệu thống kê của các quốc gia được
sử dụng trong nghiên cứu này hầu hết được báo cáo đầy đủ từ năm 1992 trở đi, đặc
biệt các dữ liệu thuộc bộ chỉ số phát triển tài chính của IMF3.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ chốt tác giả sử dụng là phương pháp định
lượng. Tuy nhiên, do tính mới mẻ của bộ chỉ số này, phương pháp định tính cũng cần
thiết được sử dụng trong việc chỉ ra các nhược điểm của các chỉ số phát triển tài chính
phát triển tài chính đến tăng trưởng, đặc biệt khi chúng ta đã xây dựng được một bộ
chỉ số tổng hợp.
10 nước bao gồm: Brunei, Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand
và Việt Nam.
5
Gồm FD, FI (tổ hợp từ FID, FIA, FIE) và FM (tổ hợp từ FMD, FMA, FME). Về chi tiết phương pháp xây
dựng bộ chỉ số này, vui lòng xem thêm từ Sahay và cộng sự (2015) và Svirydzenka (2016).
4
-6-
Về mặt thực tiễn, tác giả cho rằng, mô hình tiên lượng dựa trên chỉ số tổng
hợp có thể được xem là một phương thức phù hợp hơn cho các nhà làm chính sách:
thay vì phải theo dõi một bộ dày đặc các chỉ số khác nhau, các chỉ số tổng hợp sẽ
cung cấp các dấu hiệu và thông tin tốt hơn về hệ thống tài chính và do đó, các quyết
sách cũng có thể được xây dựng tốt hơn.
Bố cục dự kiến của đề tài
Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
1.1. Đặt vấn đề, tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.6. Tính mới và giá trị thực tiễn
1.7. Bố cục dự kiến của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận
2.1. Hệ thống tài chính và phát triển tài chính
2.1.1. Hệ thống tài chính
-8-
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN
Hệ thống tài chính và phát triển tài chính
2.1.1.
Hệ thống tài chính
2.1.1.1. Khái niệm hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là một hệ thống trong đó các chủ thể kinh tế (hộ gia đình,
DN, chính phủ) và các thị trường tương tác lẫn nhau, nhằm mục đích huy động các
nguồn tiền tệ cho việc đầu tư, cung cấp các phương tiện thanh toán và tài trợ các hoạt
động thương mại (IMF, 2006).
Hệ thống tài chính bao gồm các ngân hàng, các TTTC, các TGTC khác
(như quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm), và các cơ quan điều tiết như NHTW. Khu vực
tài chính này có nhiệm vụ tối ưu hóa các nguồn lực, nhằm tạo điều kiện cho việc hình
thành vốn, thông qua việc cung cấp một loạt các công cụ tài chính đa dạng nhằm đáp
ứng các yêu cầu cụ thể của người vay và cho vay.
2.1.1.2. Nguyên nhân hình thành hệ thống tài chính
Chi phí giao dịch và chi phí thông tin là nguyên nhân chính khiến cho hệ
thống tài chính ra đời và phát triển (Mishkin, 2007). Trong một nền kinh tế, có nhiều
chủ thể thừa vốn, trong khi cũng có các chủ thể khác thiếu vốn. Nếu không có một hệ
thống tài chính hiệu quả, để huy động được lượng vốn cần thiết, các chủ thể thiếu vốn
phải tiếp cận với từng chủ thể thừa vốn để đi vay. Nhưng vì các chủ thể thừa vốn có
rất ít thông tin về dự án đầu tư, trong khi chủ thể thiếu vốn cũng không có đủ thông
tin về những người thừa vốn mà mức vốn mà họ sẵn sàng cho vay, nên quá trình này
Cách thức phân loại này không phải là cách tiếp cận duy nhất, tuy nhiên được xem là cách phù hợp với phần
lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính (Cihak và cộng sự, 2012).
6
- 10 -
hiệu quả dẫn đến sự phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Levine (2005) còn
mô tả chức năng này là “cung cấp và xử lý các thông tin đầu tư và phân bổ
nguồn vốn”.
Hình 2.1: Sơ đồ các kênh dẫn vốn
Nguồn: Mishkin (2007)
Tobin và Brainard (1963) lập luận rằng, với khả năng đánh giá dự án đầu tư,
các TGTC giúp các DN mở rộng hoạt động bằng cách cho vay với lãi suất thấp và điều
kiện vay dễ dàng. Các TGTC đánh giá các cơ hội đầu tư khác nhau dựa trên các rủi ro
liên quan, nhằm tài trợ vốn vào các dự án hiệu quả cao nhất. Điều này làm cho chất
lượng của các khoản đầu tư được cải thiện và dẫn đến hiệu ứng mở rộng nền kinh tế.
Bên cạnh đó, TTTC cũng có thể có lợi thế so sánh hơn so với TGTC trong việc tài trợ
các dự án đầu tư đổi mới, bởi vì những người tham gia thị trường có thể thu được các
thông tin liên quan đến DN một cách nhanh chóng, dẫn đến phân bổ nguồn lực hiệu
quả hơn.
- 11 -
Huy động tiết kiệm: Hệ thống tài chính đóng một vai trò quan trọng trong
việc điều phối tương ứng các quyết định tiết kiệm và đầu tư của hộ gia đình
và DN (Wicksell, 1935).
lợi nhuận trong quá trình chuyển đổi này bằng cách khai thác lợi thế kinh tế quy mô,
cắt giảm chi phí giao dịch. Mặt khác, mức chi phí giao dịch thấp hàm ý các TGTC có
thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh tín dụng (Mishkin, 2007).
Thực hiện giám sát DN: Các chi phí liên quan đến việc giám sát DN có
thể được giảm thiểu nhờ sự mở rộng các dịch vụ TGTC.
Ở góc độ cá nhân, nếu như các chi phí kiểm tra thông tin quá cao, nhà đầu
tư sẽ mong muốn mức bù rủi ro cao hơn khiến lãi suất tăng lên, các DN sẽ hạn chế
vay, và như vậy, DN càng có nhiều khoản vay sẽ hàm ý rủi ro vỡ nợ càng cao. Nói
cách khác, các chi phí thẩm tra này có thể ngăn trở các khoản đầu tư hiệu quả
(Bernanke và Gertler, 1989). Nhờ có các TGTC, các chi phí giám sát có thể được
giảm thiểu thông qua các hợp đồng tài chính thích hợp (Diamond, 1984).
Mặt khác, từ quan điểm của TTTC, việc định giá tài sản DN dựa trên giá cả
chứng khoán có thể là một tiêu chuẩn so sánh để đánh giá hiệu quả hoạt động của các
nhà quản lý DN. Điều này dẫn đến hiệu quả giám sát DN được cải thiện, và có thể
tạo ra ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
2.1.2.
Phát triển tài chính
2.1.2.1. Khái niệm phát triển tài chính
Một số nhà kinh tế định nghĩa phát triển tài chính là mức độ hệ thống tài
chính giúp cải thiện sự thiếu hoàn hảo của thị trường. Tuy nhiên, theo Cihak và cộng
sự (2012), định nghĩa này quá hẹp và không cung cấp nhiều thông tin về các chức
năng thực sự mà hệ thống tài chính thực hiện cho nền kinh tế.
- 13 -
Levine (2005) đã đưa một định nghĩa rộng hơn, phát triển tài chính xảy ra
khi các công cụ tài chính, thị trường và các TGTC làm cải thiện (nhưng không nhất
của King và Levine (1993a), trong đó bao gồm 4 chỉ số: (i) độ sâu tài chính đo bằng
tỉ lệ tổng các khoản nợ đến hạn trên GDP (LLY); (ii) tổng tín dụng nội địa (BANK)7
nhằm đo lường vai trò tương đối giữa NHTM và NHTW trong việc phân bổ tín dụng;
(iii) khả năng phân bổ tài sản của hệ thống tài chính gồm: (a) tổng tín dụng cho DN
tư nhân phi tài chính trên tổng tín dụng (không xét tín dụng cho ngân hàng khác)
(PRIVATE) và (b) tín dụng cho DN tư nhân phi tài chính trên GDP (FD1).
Một số các nghiên cứu khác cũng sử dụng các khối tiền tệ để đo lường mức
độ phát triển tài chính, tuy nhiên việc chọn lựa chỉ số nào cũng là vấn đề gây tranh
cãi. Ví dụ nghiên cứu của Hassan và cộng sự (2011b) ở các nước thu nhập thấp, các
tác giả sử dụng M3/GDP vì cho rằng đối với các nước có hệ thống tài chính kém phát
triển, các khối tiền tệ khác (M1 và M2) liên quan nhiều đến khả năng cung cấp các
dịch vụ thanh toán, hơn là khả năng chu chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh
tế của hệ thống tài chính. Tuy vậy, trong nghiên cứu khác của Kar và Pentecost (2000)
ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy, M1 thể hiện chính xác hơn tác động của phát triển tài chính
lên tăng trưởng ở quốc gia này, do trong một giai đoạn dài, tỉ lệ M1 chiếm ưu thế hơn
so với các khối tiền khác (mặc dù M1 sau đó cũng suy giảm mạnh).
Các nghiên cứu tác động của TTCK cũng sử dụng một số thước đo như
tổng vốn hóa (MC), tổng giá trị giao dịch (SETGDP), thanh khoản (SML), mức độ
dao động (SMV) hoặc tỉ lệ hoàn vốn (TURN) trên TTCK (Arestis và cộng sự, 2002;
Huang, 2005; Chakraborty, 2008).
Theo cách tính của King và Levine (1993a), LLY bao gồm các khoản tiền nằm bên ngoài hệ thống ngân hàng
cộng với các khoản nợ tiền gửi của ngân hàng và TGTC phi ngân; BANK được tính bằng tỉ lệ tổng tài sản nội
địa của ngân hàng nhận tiền gửi trên tổng tài sản nội địa của ngân hàng nhận tiền gửi và NHTW.
7