BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN BÁ HOÀNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TƢ NHÂN HÓA ĐẾN
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP
– TRƢỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN BÁ HOÀNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TƢ NHÂN HÓA ĐẾN
TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP
– TRƢỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 62340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM QUỐC HÙNG
TP. Hồ Chí Minh, năm 2014
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
LA
Latin America
Châu Mỹ - Latinh
MENA
Middle East & North Africa
Trung Đông & Bắc Phi
SOE
State Owned Enterprise
SSA
Sub-Saharan Africa
Tiểu vùng Sahara Châu Phi
United Nations Conference on
Bảng 3.4: Ma trận tương quan giữa các biến pr, pr*fdi, pr*open và pr*gov ............................ 50
Bảng 3.5: Kết quả hồi quy giữa biến tư nhân hóa và bất bình đẳng thu nhập -Trường hợp đưa
vào các biến kiểm soát nhóm vùng miền (sa, la và as) ............................................................... 51
Bảng 3.6: Kết quả hồi quy giữa biến tư nhân hóa và bất bình đẳng thu nhập -Trường hợp đưa
vào các chỉ số thành phần đánh giá chất lượng thể chế .............................................................. 54
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy giữa biến tư nhân hóa và bất bình đẳng thu nhập -Trường hợp đưa
vào các biến tương tác pr*fdi, pr*open và pr*gov ...................................................................... 56
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................................... 1
TỔNG QUAN ................................................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề nghiên cứu ............................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................................ 5
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 6
3.1 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................ 6
3.2 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 6
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..................................................................................................... 7
5. Những đóng góp mới của luận văn ......................................................................................... 7
6. Kết cấu của báo cáo nghiên cứu .............................................................................................. 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................................... 9
1.1 Khái niệm và phân loại Tư nhân hóa .................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm Tư nhân hoá................................................................................................... 9
1.1.2 Phân loại Tư nhân hoá ................................................................................................. 10
1.2 Lý thuyết nền tảng về Tư nhân hóa..................................................................................... 11
TỔNG QUAN
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Tư nhân hóa được định nghĩa là sự chuyển giao các tài sản hoặc các quyền phân
phối dịch vụ từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân (Pirie, 1986). Trong thế giới
ngày nay, chính sách tư nhân hoá được xem như là một hiện tượng toàn cầu – một hình
thức tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng hiện đại, cho phép sự tham gia nhiều hơn đối
với khu vực tư nhân. Tư nhân hoá khởi điểm từ đầu những năm 1980 tại Anh, sau đó
nhanh chóng lan rộng đến các quốc gia như: Australia, New Zealand, khu vực Đông
Âu, khu vực Tiểu vùng Sahara Châu Phi và khu vực Nam Mỹ. Các chương trình tư
nhân hoá đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới trong những thập niên gần đây
có thể được chia làm 3 nhóm chủ yếu sau: Thứ nhất, các chương trình tư nhân hoá
được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu sau năm 1989 (quá
trình xây dựng nền kinh tế thị trường). Thứ hai, các chương trình tư nhân hoá được
thực hiện ở các nước đang phát triển dưới tác động của các tổ chức tài chính quốc tế
như World Bank và IMF. Thứ ba, các chương trình tư nhân hoá được tiến hành bởi
chính phủ các nước phát triển, điển hình nhất là ở New Zealand và ở Anh vào thập niên
1980 và 1990.
Theo dữ liệu về tư nhân hóa của World Bank cho thấy, trong giai đoạn 1988 –
2008 các quốc gia đang phát triển đã thực hiện được hơn 10.000 giao dịch về tư nhân
hóa với doanh thu đạt được hơn 773 tỷ USD, con số này tương đương khoảng 0,7%
tổng GDP của các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn này. Riêng ở giai đoạn đầu
thập niên 1990, tư nhân hoá ở các nước đang phát triển đã đem lại trung bình khoảng
từ 20 đến 30 tỷ USD hàng năm. Nguồn lợi này đã tăng mạnh vào năm 1997 lên đến
gần 70 tỷ USD.
Trang 1
giải quyết hoàn toàn được tranh luận về tính hiệu quả hơn giữa quyền sở hữu của khu
vực tư và khu vực công, cuộc thảo luận dường như ủng hộ sở hữu tư nhân bởi vì sự gia
tăng nợ của chính phủ, tính bất ổn của kinh tế vĩ mô và sự suy thoái chung của nền
kinh tế toàn cầu vào những năm 1980.
Quá trình tư nhân hóa vẫn đang được tiến hành và phù hợp để thực hiện các
nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm tra tác động trực tiếp của tư nhân hóa đến tăng
trưởng kinh tế. Có thể kể đến một số các nghiên cứu nổi bật được thực hiện nhằm kiểm
tra các tác động kinh tế của chính sách tư nhân hóa như: Filipovic, 2005; Cook và
Uchida, 2003; Barnett,2000; Plane, 1997; Yoder và cộng sự, 1991. Cả 5 nghiên cứu
cùng thực hiện kiểm tra tác động của tư nhân hóa đến tăng trưởng kinh tế nhưng đưa ra
các kết quả trái ngược nhau. Trong khi Barnett (2000) và Plane (1997) báo cáo kết quả
nghiên cứu là một tác động dương có ý nghĩa thống kê về mối quan hệ giữa tư nhân
hóa và tăng trưởng kinh tế thì nghiên cứu của Cook và Uchida (2003) lại trình bày kết
quả là tác động âm và có ý nghĩa thống kê; Filipovic (2005) và Yoder cùng cộng sự
(1991) cũng ủng hộ mối tương quan âm về tác động của tư nhân hóa đối với tăng
trưởng kinh tế nhưng lại không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả không nhất quán này
có thể đến từ việc bỏ qua sự khác biệt giữa các vùng miền. Tất nhiên, những khác biệt
về vùng miền không chỉ liên quan đến các yếu tố về vị trí địa lý mà có thể bao gồm các
yếu tố khác như: xã hội, chính trị và các hình thức văn hóa, bởi vì chúng góp phần quan
trọng trong việc quyết định cách thức chính sách tư nhân hóa được thực hiện và các tác
động của tư nhân hóa đến tăng trưởng kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của yếu
tố khác biệt vùng miền trong nghiên cứu về chính sách tư nhân hóa như đã đề cập ở
trên, bài nghiên cứu thực hiện kiểm tra tác động của tư nhân hóa ở các vùng miền khác
nhau của các quốc gia đang phát triển.
Bài nghiên cứu này đóng góp một phần vào các nghiên cứu về tư nhân hóa ở 2
khía cạnh chính. Thứ nhất, như đã lập luận ở trên, bằng cách kiểm soát yếu tố khác biệt
vùng miền (phân thành các khối vùng miền: Sub-Saharan Africa (SA), Latin America
Trang 3
cũng như mức độ cập nhật của dữ liệu về chương trình tư nhân hóa ở các quốc gia đang
phát triển hiện có (World Bank Privatization Database, 2008).
2. Mục tiêu nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, xét về phương diện học thuật có khá nhiều sự quan tâm đối
với chính sách tư nhân hóa ở các quốc gia đang phát triển, tuy nhiên, hầu hết các
nghiên cứu ở cấp độ quốc gia chủ yếu dừng lại ở việc mô tả và tập trung vào xem xét
mức độ của chính sách tư nhân hóa (Bennell, 1997; Bethelemy, Kaufmann và Valfort,
2004) và chỉ có một vài nghiên cứu thực nghiệm thực hiện phân tích tác động kinh tế
của chính sách tư nhân hóa (Filipovic, 2005; Cook và Uchida, 2003;Barnett,2000;
Plane, 1997; Yoder và cộng sự, 1991). Do đó, mục tiêu mà bài nghiên cứu hướng đến
đó là kiểm tra tác động của tư nhân hóa đối với hai chỉ tiêu phát triển kinh tế (tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập) ở các quốc gia đang phát triển. Trên cơ sở
ủng hộ chính sách tư nhân hóa, bài nghiên cứu kiểm tra xem có hay không tác động
tích cực của các chương trình tư nhân hóa được thực hiện ở hầu hết các quốc gia đang
phát triển trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2008. Với các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Đánh giá tác động của chính sách tư nhân hóa đối với tăng trưởng kinh tế và bất
bình đẳng thu nhập ở các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1991 - 2008;
(2) Đề xuất một số gợi ý về chính sách tư nhân hóa đối với các quốc gia đang phát
triển.
Cuối cùng, bài nghiên cứu được thực hiện với các câu hỏi nghiên cứu chính sau:
(1) Chính sách tư nhân hóa tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc
gia đang phát triển?
(2) Chính sách tư nhân hóa tác động như thế nào đến bất bình đẳng thu nhập ở các
quốc gia đang phát triển?
Trang 5
Uchida, 2003; Filipovic, 2005; Plane, 1997).
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu mang lại một số ý nghĩa về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn
cho các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách liên quan. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết về mối quan
hệ giữa tư nhân hóa và tăng trưởng kinh tế, cũng như mối quan hệ giữa tư nhân hóa và
bất bình đẳng thu nhập ở các nền kinh tế đang phát triển. Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra
rằng tư nhân hoá không có tác động một cách có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế và
bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn nghiên cứu.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính
sách thấu hiểu hơn về vai trò thực sự của chính sách tư nhân hóa đối với vấn đề phát
triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển. Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có
một mô hình cải cách chung nào là phù hợp cho tất cả các quốc gia và chính sách tư
nhân hóa không nhất thiết phải có ở mỗi quốc gia. Điều này đồng nghĩa rằng, trước khi
thực hiện chính sách tư nhân hóa các nhà hoạch định chính sách cần phải xem xét kỹ
lưỡng các điều kiện đặc trưng của mỗi quốc gia, cấu trúc thể chế nhà nước, các yếu tố
về mặt xã hội và chính trị.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, bài nghiên cứu thực hiện kiểm soát yếu tố khác biệt vùng miền (phân
thành các khối vùng miền: Sub-Saharan Africa (SA), Latin America (LA), Asia (SA) và
Middle East & North Africa (MENA)), kết hợp các yếu tố về vị trí địa lý (LLOCK) và
cấu trúc thể chế của quốc gia (GOVERNANCE) góp phần bổ sung vào cơ sở lý thuyết
Trang 7
về cách thức chính sách tư nhân hóa tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các vùng miền
khác nhau ở các quốc gia đang phát triển. Nhưng quan trọng hơn cả, với việc kiểm soát
yếu tố khác biệt vùng miền (phân thành các khối vùng miền với các quốc gia có các
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tương đồng nhau) giúp giảm độ chệch từ các ước
1.1 Khái niệm và phân loại Tƣ nhân hóa
1.1.1 Khái niệm Tư nhân hoá
Tư nhân hóa (privatization) có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
đơn giản nhất có thể định nghĩa tư nhân hóa là sự chuyển giao các tài sản hoặc quyền
phân phối dịch vụ từ khu vực công sang cho khu vực tư (Pirie, 1986). Trong thời gian
gần đây, thuật ngữ về tư nhân hóa được sử dụng bao hàm ba khái niệm cơ bản sau:
divestiture; deregulation và delegation (Ghosh, 2004 và Savas, 2000). Divestiture hàm
ý là giảm một phần hoặc toàn bộ việc cung cấp hàng hóa của các doanh nghiệp thuộc
khu vực công sang cho khu vực tư nhân đảm nhận. Deregulation còn được biết đến
như là sự tự do hóa, nó được hiểu là sự gỡ bỏ các rào cản thâm nhập thị trường và do
đó thúc đẩy vai trò của yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế. Delegation thường được
hiểu là việc chính phủ duy trì sự kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với quá trình phân
phối hàng hóa, dịch vụ nhưng thực tế các hoạt động sản xuất được thực hiện bởi khu
vực tư nhân. Điều này cũng đồng nghĩa rằng chính phủ sẽ cung cấp vốn cho khu vực tư
nhân thực hiện sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Delegation thường được thực hiện thông
qua các hợp đồng, hình thức nhượng quyền hoặc trợ cấp.
Trang 9
Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ giới hạn ở việc kiểm tra tác động của chính sách tư
nhân hoá đối với tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập theo ý nghĩa của khái
niệm divestiture. Bởi vì, divestiture được xem như là phương pháp thực hiện chính
sách tư nhân hóa phổ biến nhất ở các quốc gia đang phát triển trong giai đoạn nghiên
cứu (Kikeri và Kolo, 2006; Filipovic, 2005; Cook và Uchida, 2003; Barnett, 2000;
Plane, 1997; Yoder và cộng sự, 1991).
1.1.2 Phân loại Tư nhân hoá
Theo Brada (1996) khi nghiên cứu ở Trung và Đông Âu có 4 loại hình tư nhân
hóa cơ bản:
Thứ nhất, tư nhân hóa thông qua việc trả lại quyền sở hữu. Phương pháp này là
(Property Rights theory).
Lý thuyết về “Quyền tài sản” nhìn chung khá đa dạng, nhưng đặc trưng cơ bản
nhất đó là sự tập trung vào tính liên kết giữa các quyền sở hữu, sự ưu đãi và các hành
vi kinh tế (Commander và Killick, 1988). Lý thuyết “Quyền tài sản” đề cập đến vấn đề
tối đa hóa thỏa dụng của các nhà quản lý dựa vào các giới hạn được thiết lập bởi tổ
chức. Các quyền tài sản được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Alchian (1965) đã
định nghĩa các quyền tài sản bao hàm ba đặc điểm sau: tính độc quyền của các quyền
lựa chọn sử dụng một nguồn tài nguyên; tính độc quyền của các quyền đối với các dịch
vụ liên quan đến nguồn tài nguyên; và các quyền đối với việc trao đổi nguồn tài
nguyên theo các điều khoản được thỏa thuận.
Trang 11
Mặt khác, Demetz (1967) đã định nghĩa quyền tài sản như là một công cụ của xã
hội, điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng quyền tài sản giúp các cá nhân thiết lập
các kỳ vọng thích hợp mà họ có thể đạt được trong các giao dịch với những người
khác. Các kỳ vọng này được biểu hiện trong luật pháp, phong tục và tập tục của một xã
hội. Người chủ sở hữu của các quyền tài sản sở hữu sự chấp thuận trong việc cho phép
những người khác được thực hiện theo các cách thức riêng. Theo quan điểm này, Starr
(1988) khẳng định rằng lý thuyết về quyền tài sản xác định các mối quan hệ kinh tế và
xã hội mà ở đó mọi người phải tuân thủ đối với việc phân bổ các nguồn lực, trong đó
có xem xét đến cả lợi ích được hưởng của các chủ sở hữu và những thiệt hại mà họ gây
ra cho người khác.
Tương tự như vậy, Hill và Kamer (1996) đã đề cập đến các quyền tài sản như là
sự kiểm soát các tài sản và cho rằng các nhà quản lý có quyền kiểm soát bằng cách xác
định việc phân phối các đầu vào và mức sản xuất của doanh nghiệp hàng ngày. Ví dụ
như trường hợp của Hoa Kỳ, Hill và Kamer (1996) giải thích rằng các quyền tài sản đối
với nước, vật nuôi và đất đai đáp ứng các điều kiện cả về cung và cầu. Khi các tài
nguyên này chưa có giá trị cao, nỗ lực rất ít được tạo ra trong việc xác định và thực
xem như là đơn vị phân tích chính ra, thay vào đó tập trung vào vai trò của những
người đưa ra các quyết định cá nhân trong doanh nghiệp. Càng đầy đủ các quyền dành
cho những người ra quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực thì sẽ càng khuyến
khích việc sử dụng và bảo quản các nguồn lực đó một cách hiệu quả. Theo đó, chính
sách tư nhân hóa liên quan đến việc tập trung các quyền tài sản được kỳ vọng sẽ cải
thiện tính hiệu quả của nền kinh tế.
Trang 13
1.3 Tƣ nhân hóa, Tăng trƣởng kinh tế và Bất bình đẳng thu nhập
Chính sách tư nhân hóa có thể tạo ra tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng thu nhập bằng nhiều cách. Có thể liệt kê ra đây ba cách thức tác động
chính của tư nhân hóa.
Thứ nhất, nếu chính sách tư nhân hóa được triển khai một cách sâu rộng và có
hiệu quả thì nó có thể góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động ở mức độ vĩ mô của nền
kinh tế (Cook và Uchida, 2003). Theo Bennett và cộng sự (2004), tác động tích cực của
tư nhân hóa đối với hiệu quả tài chính và năng suất của các doanh nghiệp có thể được
dự báo bằng lý thuyết kinh tế vi mô và những tác động này đòi hỏi phải có một độ trễ
về mặt chính sách trước khi tạo ra sự gia tăng trong tăng trưởng kinh tế. Tương tự như
vậy, Berg và Berg (1997) cho rằng sự hiện diện của yếu tố cạnh tranh, tính hiệu quả
của doanh nghiệp bắt nguồn từ chính sách tư nhân hóa được kỳ vọng sẽ làm gia tăng
tính hiệu quả của cả nền kinh tế thông qua các thị trường cạnh tranh và sự phân phối tốt
hơn các nguồn lực giữa các doanh nghiệp và các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Điều này là do sự cạnh tranh có khả năng thay đổi nền kinh tế theo hướng đó là, một số
các doanh nghiệp sẽ tăng trưởng theo cấp số nhân trong khi đó một số khác sẽ thất bại.
Theo như Olbeter (1994), sự cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới,
nâng cao hiệu quả và tạo ra các dịch vụ với chất lượng ngày càng cao. Kết quả là người
tiêu dùng sẽ được hưởng lợi với giá cả rẻ hơn, chất lượng cao hơn và các dịch vụ ngày
càng mới mẻ hơn.
marketing và tiếp cận với các mạng lưới sản xuất quốc tế (Kobrin, 2005 và Sylwester,
2005). Theo Lewis (1948), việc xuất khẩu vốn sang các quốc gia đang phát triển tạo
động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với việc tạo ra các ngành công nghiệp mới, sự
chuyển giao công nghệ và tạo ra một quan điểm hiện đại hơn đối với nền kinh tế của
nước chủ nhà. Như vậy có thể thấy rằng, chính sách tư nhân hóa với việc tạo điều kiện
Trang 15
thu hút nguồn vốn FDI đã tạo ra các tác động tích cực đối với vấn đề tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển (Fillipovic, 2005). Dựa vào các phân tích ở trên về mối
quan hệ giữa tư nhân hóa, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập, bài nghiên
cứu đề xuất các giả thuyết nghiên cứu như sau:
(1) Chính sách tư nhân hóa có mối tương quan thuận đối với tăng trưởng kinh tế.
(2) Chính sách tư nhân hóa có mối tương quan nghịch đối với bất bình đẳng thu nhập.
1.4 Tổng luận về các nghiên cứu thực nghiệm
1.4.1 Giới thiệu một số các nghiên cứu thực nghiệm
Các nghiên cứu thực nghiệm về tư nhân hóa có thể được chia thành 3 nhóm chính
như sau: các nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp (firm-level) (Boubakari và Cosset,
1999; Megginson và cộng sự, 1994); các nghiên cứu ở cấp độ ngành (industry-level)
(Galiani và cộng sự, 2002; Wallsten, 2001); và các nghiên cứu ở cấp độ quốc gia
(country-level) (Fillipovic, 2005; Cook và Uchida, 2003; Barnett, 2000; Plane, 1997;
Yoder và cộng sự, 1991). Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ thực hiện xem xét các nghiên
cứu thực nghiệm ở cấp độ quốc gia bởi vì mục tiêu chính của đề tài là kiểm tra tác
động của chính sách tư nhân hóa đối với tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập
ở các quốc gia đang phát triển.
Các nghiên cứu thực nghiệm về tư nhân hóa ở cấp độ quốc gia cũng giống như ở
các cấp độ doanh nghiệp và cấp độ ngành đều không đi đến kết luận cuối cùng. Chẳng
hạn như, Barnett (2000), Davis và cộng sự (2000) và Plane (1997) phát hiện được
chính sách tư nhân hóa có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng
có ý nghĩa thống kê về mối quan hệ giữa tư nhân hóa và tăng trưởng kinh tế trong
nghiên cứu của tác giả ở 92 quốc gia đang phát triển, giai đoạn (1990 – 2000). Kết quả
Trang 17
này cũng tương đồng với báo cáo nghiên cứu của Yoder và cộng sự (1991), các tác giả
đã phát hiện được mối tương quan âm giữa tư nhân hóa và các chỉ số phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Yoder và cộng sự (1991) tập trung vào phát triển kinh tế,
điều này khác với các nghiên cứu của Cook và Uchida (2003) và một số các nghiên
cứu khác (hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào vấn đề tăng trưởng kinh tế).
Nghiên cứu của Yoder và cộng sự (1991) là nghiên cứu duy nhất tập trung giải
quyết vấn đề giữa tư nhân hóa và phát triển kinh tế (bao gồm các chỉ số về kinh tế và
xã hội). Nghiên cứu của họ được dựa trên tiền đề cho rằng các nghiên cứu về tư nhân
hóa cần phải vượt lên trên sự tăng trưởng kinh tế (sử dụng tổng sản phẩm quốc nội
(GDP), hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP)) khi đánh giá về sự phát triển. Cuối cùng,
các tác giả đã sử dụng chỉ số tổng hợp với nhiều thành phần đo lường về sự phát triển
kinh tế, bao gồm: thu nhập GNP bình quân đầu người (GNP per capita income), tuổi
thọ trung bình (life expectancy at birth), tỷ lệ biết chữ (literacy rate), tỷ lệ tử vong của
trẻ sơ sinh (infant mortality rate), sự phân phối thu nhập và tỷ lệ tăng trưởng GNP.
Nghiên cứu của Yoder và cộng sự (1991) bao gồm 45 quốc gia (trong đó có 17 quốc
gia thuộc vùng Sub-Saharan Africa) với thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional
design) và sử dụng mức độ tham gia của khu vực tư nhân (level of participation) ở năm
1980 hoặc 1981 làm biến giải thích chính (biến nghiên cứu về chính sách tư nhân hóa),
các chỉ số phát triển (thu nhập GNP bình quân đầu người, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ biết
chữ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, sự phân phối thu nhập và tỷ lệ tăng trưởng GNP) ở
năm 1986 là các biến phụ thuộc. Các tác giả đã chia 45 quốc gia thành ba nhóm thu
nhập: nhóm thu nhập thấp (GNP dưới $450); nhóm thu nhập trung bình thấp (GNP
nằm trong khoảng $451 – 1800) và nhóm thu nhập trung bình khá (GNP năm trong
khoảng $1801 – 7500), và đã nhận thấy rằng các chỉ số phát triển có mối tương quan
cao với các nhóm thu nhập. Ngoài ra, các tác giả cũng phát hiện được rằng không có