1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NGUYỄN MAI LAN ĐÔ THỊ HÓA, TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
ĐẶC ĐIỂM DÂN CƢ VÀ LỐI SỐNG CỦA PHƢỜNG
KHƢƠNG ĐÌNH, QUẬN THANH XUÂN, HÀ NỘI
(TỪ NĂM 1997 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.31.60
Hà Nội-2011
1.2. Đô thị hóa ở Việt Nam: Các giai đoạn chính
21
1.2.1. Thời kì phong kiến (từ năm 1858 trở về trƣớc)
21
1.2.2. Thời kì thuộc địa (1858 - 1954)
22
1.2.3. Thời kỳ năm 1955 - 1975
23
1.2.4. Thời kì năm 1975 đến nay
24
1.3. Lối sống đô thị
26
1.3.1. Khái niệm lối sống đô thị
26
1.3.1. Một số đặc trƣng của lối sống đô thị trong các xã hội đang phát triển
27
Chƣơng 2: ĐÔ THỊ HÓA Ở PHƢỜNG KHƢƠNG ĐÌNH
29
2.1. Tổng quan về làng Khương Hạ
29
3
2.1.1. Vị trí địa lý
29
2.1.2. Lịch sử làng Khƣơng Hạ
30
2.1.3. Làng cổ Khƣơng Hạ
33
2.1.4. Sự thay đổi địa giới hành chính của làng Khƣơng Hạ
39
73
3.2.8. Các hoạt động sử dụng thời gian rỗi
75
3.2.9. Không gian đô thị
77
3.2.10. Tính tích cực xã hội, ý thức công dân và các hoạt động xã hội của cá
nhân
78
3.2.11. Tệ nạn xã hội
80
4
3.2.12. Lối sống của dân gốc ở phƣờng Khƣơng Đình vẫn chƣa thực sự là lối
sống đô thị
81
KẾT LUẬN
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
87 5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích đất nông nghiệp của phƣờng Khƣơng Đình
Bảng 2.2: Đàn lợn, trâu, bò ở phƣờng Khƣơng Đình
Bảng 3.1: Dân số xã Khƣơng Đình (bao gồm làng Khƣơng Hạ và Làng Hạ
Đình)
Bảng 3.2: Dân số phƣờng Khƣơng Đình (Làng Khƣơng Hạ)
Bảng 3.3: Số hộ, nhân khẩu, lao động nông nghiệp của phƣờng Khƣơng Đình
lịch sử nhƣ sự biến đổi về con ngƣời, tự nhiên, xã hội, kinh tế và văn hóa.
Trong khi đó, đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là
sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cƣ đô thị trên cơ sở phát triển sản
xuất và đời sống. Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa
đựng nhiều hiện tƣợng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển. Quá
trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nƣớc. Quá trình đô thị hóa
cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, về cách tổ
chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng
nông thôn sang dạng thành thị. Ở các nƣớc đang phát triển nói chung và ở
Việt Nam nói riêng, đặc trƣng của quá trình đô thị hóa là sự tăng nhanh dân
số đô thị không hoàn toàn dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp. Hiện tƣợng
bùng nổ dân số bên cạnh sự phát triển yếu kém của công nghiệp đã làm cho
quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mất cân đối, sự mâu thuẫn giữa đô thị
và nông thôn càng thêm sâu sắc. Sự chênh lệch về dân số đã thúc đẩy sự dịch
chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị một cách ồ ạt, làm cho đô thị phát
triển nhanh chóng, đặc biệt là ở các đô thị lớn, đô thị trung tâm, tạo nên
những điểm dân cƣ đô thị cực lớn làm mất cân đối trong sự phát triển hệ
thống dân cƣ.
8
Làng Khƣơng Hạ trƣớc khi đƣợc trở thành phƣờng Khƣơng Đình,
thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội, đã từng là một làng nông nghiệp ven đô.
Làng nằm về phía Tây Nam của thủ đô Hà Nội, chỉ cách trung tâm Hà Nội
khoảng 10km, nên quá trình đô thị hóa ảnh hƣởng rất mạnh đến Khƣơng Hạ.
Khƣơng Hạ trƣớc năm 1997 là một làng thuần nông, mỗi năm những ngƣời
dân ở đây chỉ cấy một vụ lúa, thời gian còn lại trồng mầu và rau xanh cung
cấp cho thành phố.
Trên thực tế, khi một làng nông nghiệp ven đô cổ truyền biến đổi trở
thành một phƣờng nội thành thì cùng với quá trình đô thị hóa sẽ kéo theo
những mặt tích cực lẫn những mặt tiêu cực. Từ khi phƣờng Khƣơng Đình
Hà Nội – Nguồn lực và cơ hội phát triển, và Luận án phó tiến sĩ Phân tích
dưới góc độ địa lý – kinh tế - xã hội sự chuyển hóa nông thôn thành đô thị ở
Hà Nội trong quá trình đô thị hóa của Đỗ Thị Minh Đức. Còn chƣa có công
trình nào nghiên cứu riêng về làng Khƣơng Hạ, xã Khƣơng Đình hoặc là
phƣờng Khƣơng Đình.
Trong 10 năm gần đây, tốc độ đô thị hóa diễn ra ở làng Khƣơng Hạ rất
mạnh, mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của làng có rất nhiều thay
đổi. Trong đó, dân cƣ và lối sống của dân cƣ trong phƣờng cũng có những
thay đổi đáng quan tâm. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn
của mình là:
Đô thị hóa, tác động của đô thị hóa đến đặc điểm dân cư và lối sống của
phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội (từ năm 1997 đến nay).
2. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Luận văn đƣợc nghiên cứu theo phƣơng pháp
nghiên cứu tổng hợp, liên nghành sẽ cho một kết quả tổng hợp về địa bàn và
vấn đề nghiên cứu. Địa bàn nghiên cứu đƣợc nhìn nhận tổng hợp từ nhiều góc
10
độ: lịch sử, kinh tế, xã hội với sự biến đổi theo thời gian. Vấn đề nghiên cứu
đƣợc xem xét nhiều chiều sẽ cho những kết quả khách quan và sâu sắc.
Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho
các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách những cơ sở thực tiễn có
giá trị về phƣờng Khƣơng Đình từ khi đƣợc trở thành đô thị đến nay. Từ
những vấn đề về dân cƣ, về lối sống dân cƣ mà kết quả nghiên cứu của luận
văn đƣa ra sẽ giúp các nhà quản lý khu vực phƣờng Khƣơng Đình nói riêng
và khu vực Hà Nội nói chung có những kế hoạch thiết thực để phát triển khu
vực, giúp ngƣời dân Khƣơng Đình có những cơ sở thích hợp để tiếp nhận và
thích nghi đƣợc với đời sống đô thị.
3. Lịch sử vấn đề
Đô thị hóa là vấn đề đã đƣợc nghiên cứu từ lâu trên thế giới nhƣng
nghiên cứu về lối sống đô thị. Trong đó khái niệm và tiêu chí về lối sống đô
thị mà Wirth, nhà xã hội học Mĩ đƣa ra rất rõ ràng và cần thiết cho việc
nghiên cứu lối sống đô thị [15].
Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đƣa ra khái niệm lối sống (Đỗ
Huy) [10] và những tiêu chí về lối sống đô thị (Lê Nhƣ Hoa) [6]. Nhƣng
những khái niệm và tiêu chí về lối sống đô thị mà Wirth đƣa ra rõ ràng và cụ
thể hơn nên trong nghiên cứu của mình chúng tôi theo những tiêu chí về lối
sống đô thị mà Wirth đƣa ra.
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lối sống đô thị nhƣ
Lê Nhƣ Hoa, Tô Duy Hợp, Đặng Cảnh Khanh, Trịnh Duy Luân.
12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những tác động của quá trình đô
thị hóa tới đặc điểm dân cƣ và lối sống của phƣờng Khƣơng Đình, quận
Thanh Xuân Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những biến đổi về dân cƣ và lối
sống ở phƣờng phƣờng Khƣơng Đình, quận Thanh Xuân Hà Nội trong quá
trình đô thị hóa từ năm 1997 đến nay, trên cơ sở phân tích số liệu điều tra và
thống kê trên địa bàn từ năm 1997 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp liên ngành, đa nghành đƣợc sử dụng để tiếp cận đối
tƣợng từ nhiều hƣớng khác nhau. Qua đó rút ra những kết luận mang tính
tổng hợp và toàn diện về những biến đổi về dân cƣ và lối sống trên địa bàn
trong quá trình đô thị hóa.
Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: thu thập các tƣ
liệu, số liệu về lịch sử, đất đai, kinh tế, dân số, nghề nghiệp, lối sống trong
tác giả nƣớc ngoài làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu quá trình đô thị hóa
và những tác động của quá trình đô thị hóa đến đặc điểm dân cƣ và lối sống
của phƣờng Khƣơng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Đƣa ra lý thuyết về lối sống đô thị của các nhà xã hội học đô thị. Đây là
lý thuyết cơ sở để phân tích những biến đổi về lối sống của dân phƣờng
Khƣơng Đình trong quá trình đô thị hóa từ năm 1997 đến nay.
Chương 2: Đô thị hóa ở phường Khương Đình.
Khƣơng Đình trƣớc đây là một xã ngoại thành Hà Nội nhƣng quá trình
đô thị hóa ở phƣờng Khƣơng trong hơn 10 năm qua đã làm thay đổi nhiều mặt
kinh tế, văn hóa, xã hội trong phƣờng mà nổi bật là: Sự biến động về đất đai,
14
việc sử dụng sai mục đích đất nông nghiệp; Những thay đổi về nghề nghiệp
của ngƣời dân, nghề nông nghiệp đang mất dần, nghề tự do phát triển.
Chương 3: Tác động của đô thị hóa đến đặc điểm dân cư và lối sống của
phường Khương Đình.
Những tác động của đô thị hóa đến đặc điểm dân cƣ của phƣờng
Khƣơng Đình nhƣ: Thành phần dân cƣ thay đổi, nghề nghiệp của dân cƣ thay
đổi.
Những tác động của đô thị hóa đến lối sống của dân phƣờng Khƣơng
Đình: Khƣơng Đình đã trở thành một phƣờng đô thị nhƣng lối sống của ngƣời
dân trong phƣờng vẫn chƣa phải là lối sống của ngƣời đô thị. Vì nghề nghiệp
của dân không ổn định, sự tiếp xúc, giao tiếp xã hội hạn hẹp, các hình thức
giải trí đơn giản, ý thức công dân đô thị chƣa có.
15
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ LỐI
SỐNG ĐÔ THỊ
cách nhất định, các loại hình hành lang đô thị, các khu vực đô thị - nông thôn
liên hoàn”. (Dr. Ummreddy Venkateswarlu, 1998) [11, tr.21].
Theo Pivovarov (1972): Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội
nhiều mặt gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội toàn thế giới và những kết
quả của nó biểu hiện ở sự mở rộng không gian thành phố, sự tập trung dân cƣ,
sự thay đổi các mối quan hệ xã hội,…
Đô thị hóa là quá trình tập trung, đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức
năng phi nông nghiệp, sự mở rộng lối sống thành thị, các hình thức cƣ trú tiến
bộ, sự phát triển giao dịch, nền văn hóa thành thị,…
Đô thị hóa đi đôi với việc tăng dân số đô thị, tăng cƣờng mức độ tập
trung dân cƣ vào các thành phố lớn, sự mở rộng không ngừng không gian
thành phố.
1.1.2. Khái niệm đô thị hóa của các nhà khoa học Việt Nam
Ở nƣớc ta, quá trình đô thị hóa tuy còn non trẻ nhƣng cũng nằm trong
quy luật chung của thế giới và đã có một số nhà nghiên cứu về đô thị hóa đƣa
ra những khái niệm tƣơng tự. Theo Trần Hùng (1995), đô thị hóa là một hiện
tƣợng kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trên một không gian rộng lớn mà
ngƣời ta có thể biểu thị nó thông qua các yếu tố:
- Sự tăng nhanh của tỷ lệ dân số đô thị trong tổng số dân;
- Sự tăng số lƣợng đô thị đồng thời với sự mở rộng không gian đô thị;
- Sự chuyển hóa của lao động từ đơn giản sang phức tạp, từ công cụ thô
sơ sang tinh vi, cũng là từ khu vực I (lao động nông, lâm, ngƣ nghiệp) sang
khu vực II (quản lý, nghiên cứu, dịch vụ)…;
17
- Sự chuyển hóa từ lối sống dàn trải (mật độ thấp) sang tập trung (mật
độ cao), từ điều kiện hạ tầng kỹ thuật giản đơn sang điều kiện hạ tầng kỹ thuật
phức tạp…
Theo GS.TS. Lê Hồng Kế đô thị hóa đƣợc hiểu nhƣ sau:
chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị song
song với bộ máy quản lý hành chính và quân sự” [11, tr.33].
Định nghĩa xã hội học về đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng
mà nó thực hiện. Các nhà xã hội học không quan tâm đến số dân tối thiểu hay
sự thừa nhận chính thức của đô thị về mặt tổ chức. Một cách truyền thống thì
xã hội học định nghĩa các đô thị nhƣ là những hình thức tổ chức xã hội có
xuất xứ địa lý và mang những đặc trƣng nhất định.
Thứ nhất, có số dân tƣơng đối đông, mật độ dân số cao và không thuần
nhất 1938 (Wirth, 1938);
Thứ hai, ít nhất có một bộ phận dân cƣ làm các công việc phi nông
nghiệp và có một số chuyên gia (Sjoberg, 1965);
Thứ ba, theo Max Weber, một đô thị phải đảm nhận những chức năng
thị trƣờng và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành (Weber,
1958);
Thứ tư, các đô thị thể hiện những hình thức tƣơng tác, trong đó một cá
nhân đƣợc biết đến không phải nhƣ một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất
có một số tƣơng tác với những ngƣời khác không phải nhƣ là những cá nhân,
mà là với các vai trò mà họ đảm nhận;
Thứ năm, các đô thị đòi hỏi một “gắn kết xã hội” dựa trên một cái gì đó
rộng hơn là gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể là dựa trên luật lệ hợp lý
hay truyền thống nhƣ tôn giáo hay sự trung thành với nhà vua.
19
Đây cũng chƣa phải là một định nghĩa đầy đủ. Nhìn chung, các nhà xã
hội học định nghĩa đô thị theo sự tổ chức, các chức năng và những đặc trưng
xã hội của nó [15, tr.15].
Định nghĩa khác
Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức cƣ trú mang tính
toàn vẹn lịch sử của con ngƣời, đƣợc đặc trƣng bởi các dấu hiệu sau:
Là nơi tập hợp của một số lƣợng lớn dân cƣ trên một lãnh thổ hạn chế.
hay toàn bộ môi trƣờng không gian vật chất – hình thể của đô thị. Các yếu tố
tổ chức - xã hội nếu đƣợc đề cập đến chỉ là yếu tố thứ hai. Trong khi đó, xã
hội học đô thị lại hƣớng sự chú ý trƣớc hết tới yếu tố này – cộng đồng dân cư
đô thị với những đặc điểm kinh tế - xã hội của nó, sự thích ứng hay hòa nhập
với môi trường vật chất – hình thể của đô thị. Và vì thế, hai nhóm bộ môn
khoa học này tất yếu phải có liên hệ với nhau dƣới nhiều hình thức [15, tr.16].
1.1.3. Quá trình đô thị hóa từ cách tiếp cận xã hội học
Các nhà khoa học xã hội thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình
đô thị hóa và đƣa ra không ít định nghĩa cùng với những đánh giá về quy mô,
tầm quan trọng và dự báo tƣơng lai của quá trình này. Trong số đó, phổ biến
là định nghĩa về quá trình đô thị hóa dựa trên cơ sở cách tiếp cận nhân khẩu
học và địa lý kinh tế. Theo định nghĩa này, quá trình đô thị hóa chính là sự di
cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống
trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị. Đó cũng là
quá trình gia tăng tỉ lệ dân cƣ đô thị trong tổng số dân của một quốc gia. Dấu
hiệu định lƣợng này (tỉ lệ % số dân đô thị trên tổng số dân) nhiều khi đƣợc
xem là dấu hiệu duy nhất để đánh giá trình độ (mức độ) đô thị hóa của một
quốc gia hay của một khu vực. Để bổ sung, còn có thêm các chỉ báo về số
lƣợng, kiểu loại, quy mô của mạng lƣới các đô thị hiện có.
21
Những dấu hiệu định lƣợng nhƣ vậy của quá trình đô thị hóa đã đƣợc
nhân khẩu học theo dõi và nghiên cứu khá kỹ lƣỡng. “Dân số và đô thị hóa” là
một chuyên mục không thể thiếu trong các tập san nghiên cứu dân số. Tuy
nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học thì sẽ không thể nào
giải thích đƣợc toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của đô thị hóa cũng nhƣ ảnh
hƣởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại. Các nhà khoa học ngày
càng ngả sang cách hiểu đô thị hóa nhƣ là một quá trình kinh tế - xã hội lịch
sử mang tính quy luật, trên quy mô toàn cầu. Khái quát hơn, đô thị hóa đƣợc
xem nhƣ là quá trình tổ chức lại môi trƣờng cƣ trú của nhân loại, ở đó, bên
Việt Nam trong vòng mấy thế kỉ gần đây để thấy rõ những nhận định trên
theo các mốc thời gian nhƣ sau:
1.2.1. Thời kì phong kiến (từ năm 1858 trở về trước)
Các thành thị Việt Nam thời kì này chủ yếu là các trung tâm hành chính
và thƣơng mại, đƣợc hình thành trên cơ sở những thành lũy, lâu đài của vua
chúa phong kiến tại những khu vực có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi cho
giao lƣu buôn bán. Về thành thị phong kiến Việt Nam hoàn toàn có thể dẫn
nhận xét của Mác: “Lịch sử của châu Á – đó là sự thống nhất không thể phân
chia giữa thành thị và nông thôn. Những thành thị lớn thực sự ở đây thực ra
có thể đƣợc xem là dinh lũy của vua chúa phong kiến, là cục bướu mọc trên
cơ thể kinh tế”. Về căn bản, các thành thị phong kiến Việt Nam đã đƣợc hình
thành và phát triển không bắt nguồn từ phân công lao động phát triển, mà là
từ việc phân phối lại sản phẩm xã hội cho nhu cầu tiêu dùng của bộ máy cai
trị và nhu cầu giao lƣu buôn bán. Trong khuôn khổ nền kinh tế tiểu nông, tự
nhiên, tự cấp, tự túc và đóng kín, các thành thị không có đƣợc vai trò và địa vị
kinh tế quan trọng đối với nông thôn và toàn xã hội nói chung. Về mặt xã hội,
23
quan hệ cộng đồng làng xã chiếm ƣu thế tuyệt đối. Các nhân tố cần thiết cho
sự phát triển công nghiệp buôn bán và sản xuất hàng hóa nói chung rất yếu ớt.
Những điều này đã có ảnh hƣởng quyết định tới sự phát triển các đô thị.
Các nghiên cứu lịch sử cũng cho thấy rằng, vào thế kỷ XVI-XVII, các
thành thị lớn nhƣ Thăng Long, Phố Hiến, Hội An đã phát triển khá phồn
thịnh. Đã có mầm mống của sản xuất hàng hóa - tiền đề cần thiết cho sự phát
triển các đô thị. Song trong điều kiện chế độ phong kiến tập quyền khá vững
mạnh, do chính sách "trọng nông ức thƣơng" và sự can thiệp của tầng lớp
phong kiến đã kìm hãm sự phát triển hàng hóa, không cho phép các thành thị
phong kiến Việt Nam lớn vƣợt lên thành các thành thị tƣ bản chủ nghĩa. Trên
một phạm vi rộng hơn, đây cũng là tình trạng chung của các thành thị phong
kiến phƣơng Đông (đặc biệt ở Trung Quốc). Ở đây, quá trình đô thị hóa Việt
Điều dễ thấy là: tiến hành công nghiệp hóa sẽ làm lớn thêm các thành
phố hiện có và hình thành phát triển các khu trung tâm công nghiệp, các điểm
dân cƣ kiểu đô thị, tức là tăng cƣờng quá trình đô thị hóa. Miền Bắc trong
những năm 1954-1964 là thời kì của đô thị hóa đƣợc tăng cƣờng. Mạng lƣới
các thành phố dần dần hình thành, phát triển và có ảnh hƣởng nhất định đến
sự phát triển nông thôn và xã hội nói chung.
Những năm 1965-1975, là thời kì chiến tranh ở cả hai miền đất nƣớc.
Thông thƣờng, chiến tranh là nhân tố kìm hãm ghê gớm cơ sở vật chất, kĩ
thuật, cấu trúc các đô thị, sút giảm dân số đô thị. Song trong điều kiện đặc thù
Việt Nam - cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở miền Bắc và
cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam lại gây ra hai tác động trái ngƣợc nhau.
Ở miền Bắc, để hạn chế thiệt hại do chiến tranh phá hoại gây ra, các
công trình công nghiệp quan trọng và một phần lớn dân cƣ ở thành phố đƣợc
25
chuyển về nông thôn tạo ra một quá trình "giải đô thị hóa" (deurbanisation)
tạm thời.
Ở miền Nam, do hoạt động chiến tranh, chính sách khủng bố và đàn áp
và đặc biệt là chiến dịch bình định nông thôn, "tát nƣớc bắt cá" của Mĩ và
chính quyền Sài Gòn, hàng triệu nông dân miền Nam buộc phải rời bỏ làng
quê trở thành ngƣời tị nạn và kéo vào các thành phố. Do kết quả của quá trình
đô thị hóa cƣỡng bức này, dân số đô thị miền Nam Việt Nam từ 15% vào năm
1960 đã tăng lên tới 60% vào đầu những năm 70. Dân số Sài Gòn từ 300 ngàn
đã tăng tới 3 triệu ngƣời (gấp 10 lần). Mức tăng còn cao hơn ở Đà Nẵng: từ
25 ngàn lên 300 ngàn ngƣời (gấp 12 lần). Dòng ngƣời tị nạn liên tục tràn vào
Sài Gòn đã biến nó thành một thành phố có mật độ dân số cao nhất thế giới:
34 ngàn ngƣời / 1km
2
. Chỉ sau ngày giải phóng 4-1975, mới có dòng di cƣ
ngƣợc lại từ thành phố về nông thôn. Song hậu quả của quá trình đô thị hóa