TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
------**------
MÔN HỌC:
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
Lớp
: Nhóm 9 - TCNH3 - QH 2014 E
GVHD : TS. Đinh Xuân Cường
Hà Nội, năm 2015
1
Danh sách các thành viên nhóm 9
STT
1
2
3
4
5
6
Họ tên
Lương Minh Loan
3.2.
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
3.3.
Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế
3.4.
Nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khấu
3.5.
Nghiệp vụ tín dụng quốc tế
3.6.
Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác:
II.
Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong bối cảnh hội nhập
1. Lộ trình hội nhập WTO ngành ngân hàng và dịch vụ tài chính
1.1.
Cam Kết Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Ngân Hàng Và Các Dịch Vụ
Tài Chính
1.2.
Các cam kết đa phương trong Báo cáo của Ban công tác
2. Sự cần thiết phát triển các nghiệp vụ NHQT trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế ngành ngân hàng Việt Nam
2.1.
Do đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành ngân
hàng
2.2.
Do những ảnh hưởng tích cực của việc phát triển nghiệp vụ
NHQT đến hệ thống NH
2.3.
Do đòi hỏi xuất phát từ nhu cầu khách hàng
3. Phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại
trong điều kiện hội nhập
7-8
8
8-9
9
9
9-14
14
14
14-15
15
15-16
16-19
19
19
19-21
21-25
25-26
27
27
27-28
29
29-30
30
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
3
Nhóm 9 – TCNH3 – K23
hoạt động nghiệp vụ NH đối nội ra ngoài biên giới quốc gia để hòa nhập, giao dịch với các
NH khác trên thế giới.
1.2.
Đặc điểm của nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Từ định nghĩa nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, chúng ta có thể thấy nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế mang một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất: Nghiệp vụ NHQT gắn liền với mối quan hệ kinh tế quốc tế và thương mại
quốc tế. Tiêu biểu là trợ giúp cho hoạt động xuấ nhập khẩu, lưu chuyển vốn giữa các
quốc gia.
- Thứ hai: Chủ thể tham gia nghiệp vụ NHQT là các ngân hàng có quốc tịch khác
nhau hoặc giữa ngân hàng của một nước với khách hàng của họ ở nước khác.
4
- Thứ ba: Nghiệp vụ NHQT bị chi phối bởi luật pháp, thông lệ quốc tế, đồng thời bị
chi phối bởi pháp luật và tập quan của các nước mà ở đó ngân hàng cung ứng các
dịch vụ NHQT.
- Thứ tư: Có thể nói nghiệp vụ NHQT có liên quan chặt chẽ với thị trường ngoại hối.
- Thứ năm: Nghiệp vụ NHQT có đòi hỏi cao về trình độ, năng lực quản lý, công nghệ
của ngân hàng và các bên có liên quan. Những nhà ngân hàng hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh quốc tế đòi hỏi phải hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau, phải nhạy
cảm với sự chuyển biến nhanh chóng của thị trường tài chính- tiền tệ quốc tế.
- Thứ sáu: Nghiệp vụ NHQT có tính rủi ro cao, nguyên nhân phức tạp và khó kiểm
soát. Nó chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế tài chính trên toàn thế giới, sự tăng
giảm về lãi suất, khối lượng diễn ra đột ngột nên rủi ro cao hơn so với nghiệp vụ
ngân hàng trong nước. Tuy nhiên, rủi ro cao thường đi đôi với lợi nhuận lớn. Trong
bối cảnh gay gắt như hiện nay, chỉ có ngân hàng nào phát triển nghiệp vụ NHQT
mới có cơ hội và khả năng phát triển lâu dài.
Ngân hàng con ở nước ngoài: Đây cũng là một định chế tài chính độc lập do
ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn để phù hợp với pháp luật nước ngoài. Ngân
hàng con hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm về kết quả
5
kinh doanh. Ngân hàng con ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước
ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
-
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là hình thức tổ chức phổ biến nhất đối với
phần lớn các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế. Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài là một bộ phân thuộc cơ cấu tổ chức của ngân hàng trong nước và
chịu sự chỉ đạo của trụ sở chính, không phân tách về mặt pháp lý với ngân hàng
mẹ. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hàng loạt các nghiệp vụ ngân
hàng tại nước chủ nhà trong khuôn khổ luật pháp và điều kiện kinh doanh tại
nước chủ nhà. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật
ngân hàng trong nước, vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài mà
ngân hàng đó mở chi nhánh.
-
Một dạng tiêu biểu hơn cả là tổ chức bộ phận kinh doanh quốc tế chuyên biệt
ngay tại trụ sở chính của ngân hàng mà vẫn đạt được các mục đích phục vụ khác
hàng như các hình thức khác. Tuy nhiên, để thực hiện được việc phục vụ tốt
khách hàng, bộ phận kinh doanh quốc tế chuyên biệt này phải được trang bị các
thiết bị hiện đại, các máy tính nối mạng toàn cầu, các máy điện toán dể có thể
quản lý hệ thống tài khoản phi nội địa của một ngân hàng.
3. Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của NHTM
ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động TMQT ngày càng gia tăng, để đáp ứng được yêu cầu
này, hệ thống NHTMVN đã có những thay đổi tích cực trong hoạt động kinh doanh ngoài
tệ. Doanh số kinh doanh ngoại tệ liên tục tăng qua các năm nhưng chủ yếu tập trung ở các
giao dich giao ngay, kỳ hạn còn các giao dịch phái sinh khác rất hạn chế.
3.3. Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế
Bảo lãnh là nghiệp vụ của ngân hàng trong đó ngân hàng cam kết chịu trách nhiệm
trả tiền cho người thụ hưởng (Bên nhận bảo lãnh) nếu khách hàng/bên vay (Bên được bảo
lãnh) không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận với bên thụ hưởng.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ
ngoại thương, nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh do sự vi phạm
nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.
Để phục vụ mọi nhu cầu phát sinh của khách hàng về vốn, uy tín cũng như phòng
ngừa rủi ro cho khách hàng, tạo sự yên tâm cho khách hàng trong hoạt động XNK, đầu tư
quốc tế..., các NHTMVN không ngừng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế với sự đa
dạng về sản phẩm, thậm chí VCB còn thực hiện mọi lọai hình bảo lãnh theo yêu cầu của
khách hàng miễn sao không trái với quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế.
3.4.
Nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu
Là hình thức tài trợ thương mại, kỳ hạn gắn kiền với thời gian thực hiện thương vụ,
đối tượng tài trợ là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác. Giá trị tài trợ
thường ở mức vừa và lớn.
Tài trợ của ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu là hình thức cho vay mang lại
hiệu quả cao, an toàn, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tài trợ xuất nhập khẩu bao gồm tài trợ nhập khẩu và tài trợ xuất khẩu. Tài trợ nhập
khẩu là các khoản ngân hàng cho người nhập khẩu vay để thanh toán tiền hàng cho người
xuất khẩu. Có 3 hình thức phổ biến là: tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng, cho vay
bắt buộc và cho vay ký quỹ. Tài trợ xuất khẩu là các khoản ngân hàng cho người xuất khẩu
vay với mục đích bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp, để họ có khả năng thực hiện
hợp đồng ngoại thương đã ký, và giúp cho doanh nghiệp liên tục sản xuất kinh doanh,
không bị hụt vốn trong thời gian chờ tiền thanh toán hàng hóa của đối tác nước ngoài. Có 2
Thẻ thanh toán quốc tế là một phương tiện thanh toán hiện đại, cho phép các chủ thẻ
sử dụng thẻ để thanh toán cho các hàng hóa dịch vụ, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý,
các máy rút tiền tự động tại các quốc gia trên thế giới. Thẻ thanh toán quốc tế gồm hai loại
là thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ quốc tế.
Thẻ tín dụng quốc tế là một hình thức chi tiêu trước trả tiền sau với một thời hạn ưu
đãi không thu lãi (khoảng từ 10 ngày đến 45 ngày). Chủ thẻ có thể thanh toán một phần
hoặc toàn bộ số tiền đã chi tiêu vào cuối mỗi kỳ tín dụng.
Thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ quốc tế là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu,
sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Đây là loại thẻ do các ngân hàng, tổ chức tài chính
trong nước và quốc tế (là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế) phát hành. Thẻ quốc tế được
hỗ trợ và quản lý với những tổ chức tài chính lớn như Master, Visa,.... hoặc các công ty
điều hành như JCB, Amex, Diners club,.. hoạt động theo một hệ thống thống nhất và đồng
bộ.
Thẻ thanh toán quốc tế xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên 90 của thế kỷ trước,
nhưng thị trường thẻ thanh toán nói chung gồm cả thẻ quốc tế và thẻ nội địa chỉ tạo được
dấu ấn đột phá từ năm 2002, và cho đến nay số lượng thẻ phát hành liên tục tăng mạnh.
Tính đến cuối năm 2011 đạt tới 33 triệu thẻ phát hành, trong đó thẻ thanh toán quốc tế là
hơn 2,5 triệu thẻ. Các NHTMVN rất chú trọng đầu tư công nghệ, vốn, nhân lực cho mảng
nghiệp vụ này.
Dịch vụ ngân hàng đại lý
Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng ngày nay. Để
thực hiện các nghiệp vụ NHQT, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mỗi ngân hàng đều phải
8
thiết lập quan hệ đại lý với các định chế tài chính, ngân hàng ở các quốc gia khác nhau,
nhất là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại lớn có uy tín tại nước ta như Vietinbank,
Vietcombank, BIDV, Agribank,... đều có hệ thống ngân hàng đại lý rộng lớn. Các ngân
hàng này luôn đặt quan hệ đại lý với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng
Bảo lãnh và cam kết;
Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch, trên thị
trường giao dịch thoả thuận hoặc bằng cách khác, các loại:
o Công
cụ thị trường tiền tệ (bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi);
o Ngoại
hối;
o Các
công cụ tỷ giá và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán
đổi, hợp đồng kỳ hạn;
9
o Vàng
khối.
Môi giới tiền tệ;
Quản lý tài sản (quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý
đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính (bao gồm chứng khoán, các sản
phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác);
Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các
phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Các nhóm dịch vụ mà Việt Nam có cam kết này được xác định theo phân loại tại
• Điều kiện thành lập ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài
tại Việt Nam
Về việc thành lập liên doanh
Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng liên doanh tại Việt Nam ngay từ
thời điểm gia nhập WTO (11/1/2007) với điều kiện:
-
Phía nước ngoài tham gia liên doanh phải là ngân hàng thương mại có tổng
tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin
thành lập liên doanh tại Việt Nam; và
-
Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 50% vốn
điều lệ.
Về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài kể từ ngày
1/4/2007 với điều kiện ngân hàng nước ngoài là chủ đầu tư phải là ngân hàng thương mại
10
có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn xin thành
lập ngân hàng tại Việt Nam.
Ngoài điều kiện theo cam kết, việc thành lập ngân hàng tại Việt Nam phải tuân thủ
các điều kiện kỹ thuật áp dụng chung theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghị định 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ là văn bản chính quy định về tổ chức và
hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100%
vốn nước ngoài và văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
công ty này tại Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách và pháp luật liên quan của
Việt Nam trong từng thời kỳ.
• Điều kiện thành lập chi nhánh của tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam
Việt Nam cam kết cho phép các ngân hàng thương mại nước ngoài được thành lập chi
nhánh của họ tại Việt Nam với điều kiện:
11
-
Ngân hàng mẹ có tổng tài sản trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước
thời điểm nộp đơn xin lập chi nhánh ở Việt Nam;
-
Chi nhánh được thành lập phải chịu các hạn chế trong hoạt động của mình.
Ngoài các điều kiện nêu trong cam kết nói trên, các ngân hàng nước ngoài muốn
thành lập chi nhánh tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện khác về mặt kỹ thuật theo quy
định của pháp luật Việt Nam (áp dụng chung cho cả ngân hàng trong nước và ngân hàng
nước ngoài).
Những nội dung về điều kiện đối với việc mở chi nhánh của ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam đã được đưa vào Công văn số
1210/NHNN-CNH của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện
hành có mức mở cửa như mức cam kết.
Trên thực tế, trước khi gia nhập WTO, một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã
được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam (37 chi nhánh tính đến 4/2007) mà
không phải chịu các điều kiện tương tự.
Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, việc thành lập chi nhánh của ngân
Từ 1/1/2009: 900% vốn pháp định được cấp;
Từ 1/1/2010: 1000% vốn pháp định được cấp;
Từ 1/1/2011: được nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam ở mức tương tự các
ngân hàng Việt Nam.
• Điều kiện thành lập văn phòng đại diện của ngân hàng thương mại, công ty
tài chính, công ty cho thuê tài chính nước ngoài tại Việt Nam
12
Việt Nam cam kết cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài (ngân hàng thương
mại nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) được mở Văn phòng đại diện
tại Việt Nam với điều kiện Văn phòng đại diện không được phép tiến hành các hoạt động
thương mại sinh lời trực tiếp.
• Thời hạn hoạt động tối đa của các loại hình tổ chức tín dụng FDI ở Việt Nam
Trong WTO, Việt Nam không cam kết về thời hạn hoạt động của các loại hình tổ
chức tín dụng này. Như vậy, Việt Nam có quyền tự do quy định về thời hạn này.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì thời hạn hoạt động tối đa của các tổ chức tín dụng
này được quy định như sau:
-
Đối với ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài: không quá 99 năm;
-
Đối với chi nhánh của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá thời hạn hoạt động
của ngân hàng mẹ và không quá 99 năm;
-
Đối với văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá thời hạn
luật pháp Việt Nam có qui định khác hoặc được sự cho phép của cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam
1.2.
Các cam kết đa phương trong Báo cáo của Ban công tác
a) Việt Nam sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với các vấn đề về ngoại hối theo
các quy định của Hiệp định WTO và các tuyên bố và quyết định liên quan của WTO có
liên quan tới IMF. Việt Nam sẽ không áp dụng bất cứ luật, quy định hoặc các biện pháp
nào khác, kể cả bất cứ yêu cầu nào liên quan tới các điều khoản hợp đồng, mà có thể hạn
chế nguồn cung cấp ngoại tệ cho bất kỳ cá nhân hay doanh nghiệp nào để thực hiện các
13
giao dịch vãng lai quốc tế trong phạm vi lãnh thổ của mình ở mức liên quan tới nguồn
ngoại tệ chuyển vào thuộc cá nhân hay doanh nghiệp đó.
b) Chính phủ Việt Nam dự kiến rằng các quy định cấp phép của Chính phủ trong
tương lai đối với các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ mang tính thận trọng và sẽ quy
định về các vấn đề như tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán và quản trị doanh nghiệp.
Thêm vào đó, các điều kiện đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng
100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử. Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam sẽ tuân thủ các quy định trong các Điều XVI và XVII của GATS khi xem
xét đơn xin cấp giấy phép mới, phù hợp với những hạn chế đã nêu trong Biểu cam kết về
Dịch vụ của Việt Nam. Một ngân hàng thương mại nước ngoài có thể đồng thời có một
ngân hàng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh. Một ngân hàng 100% vốn nước ngoài
tại Việt Nam không được coi là một tổ chức hay cá nhân nước ngoài và được hưởng đối xử
quốc gia đầy đủ như một ngân hàng thương mại của Việt Nam, về việc thiết lập hiện diện
thương mại.
c) Việt Nam sẽ tích cực điều chỉnh cơ chế quản lý của Việt Nam đối với các chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm các yêu cầu về vốn tối thiểu, phù hợp với thông lệ
trình độ quản trị, điều hành, tăng vốn điều lệ khi các đối tác nước ngoài tham gia vào các
ngân hàng trong nước thông qua việc mua cổ phần.
Thứ ba, quá trình hội nhập đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao trình độ quản lý
thanh khoản. Sự gia tăng các hình thức thanh toán và doanh số thanh toán cũng làm tăng
mức độ rủi ro trong thanh toán, khi một hay nhiều thành viên trong hệ thống mất khả năng
thanh toán sẽ tác động tiêu cực đến toàn hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn mới cũng như năng lực
mới đối với ngân hàng.
2.2.
Do những ảnh hưởng tích cực của việc phát triển nghiệp vụ NHQT đến hệ
thống NH
Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ NHQT có ảnh hưởng tích cực đến hệ thống
ngân hàng, đem đến cho ngân hàng rất nhiều lợi ích trong đó phải kể đến:
Phát triển nghiệp vụ NHQT đem lại cơ hội gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài
nghiệp vụ NHTM thông thường, nghiệp vụ NHQT tăng thêm thu nhập cho ngân hàng từ
các khoản thu phí dịch vụ và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Phát triển nghiệp vụ NHQT giúp NH thiết lập quan hệ tốt hơn với khác hàng, tăng
khả năng bán chéo sản phẩm của NH. Ngân hàng càng có nhiều dịch vụ thì khả năng đáp
ứng nhu cầu khách hàng ngày càng tốt hơn, nhất là trong thời kỳ kinh tế ngày càng hội
nhập sâu thì đó dường như là một phần không thể thiếu để tăng và giữ thị phần khách hàng.
Phát triển nghiệp vụ NHQT cho phép khai thác hiệu quả các thành tựu KHCN thông
tin trong lĩnh vực ngân hàng. Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nói riêng và nghiệp vụ ngân
hàng nói chung đòi hỏi hàm lượng công nghệ thông tin cao. Ngành ngân hàng phải thường
xuyên cập nhật, đổi mới công nghệ nhằm đảm bảo an toàn, chính xác trong các giao dịch
thanh toán trong và ngoài nước.
Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đòi hỏi các ngân hàng phải thay đổi cơ cấu
tổ chức và quản trị của mình. Nhằm tăng sức cạnh tranh, các ngân hàng phải liên tục phát
triển, mở rộng các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khác hàng điều này cũng đồng nghĩa với
-
Phát triển theo chiều rộng là theo đó NH tăng quy mô, số lượng các NVNHQT đã
có và phát triển thêm các NVNHQT mới nhằm tăng thị phần NVNHQT mà NH nắm
giữ thông qua doanh số và doanh thu từ các NVNHQT.
-
Phát triển theo chiều sâu là theo đó NH gia tăng về “chất” của: các NVNHQT nhằm
tăng độ thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của NH cụ thể như tính chính
xác, tính an toàn, tính nhanh nhậy, tính tiện ích mà quá trình thực hiện nghiệp vụ
đem lại.
3.1.
Phát triển theo chiều rộng
a. Số lượng và tính đa dạng các NVNHQT cung ứng
Theo khảo sát từ website của các NHTMVN trong phần giới thiệu các sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp và định chế tài chính thì có kết
quả sau đây về các nhóm NVNHQT mà các NHTMVN cung ứng.
Bảng 1. Danh mục các NVNHQT được cung ứng bởi các NHTMVN
Loại KH
Khách hàng
cá nhân
Tên nghiệp vụ
Thẻ thanh toán quốc tế
Chuyển tiền quốc tế
Séc du lịch
II
Bình
Bưu Điện Liên Việt, Vpbank, ABBank,
thường
HDBank...
III
Hạn chế
Bắc Á, KienLongBank...
(Nguồn: Tồng hợp từ website của các NHTMVN và đánh giá của tác giả)
Bên cạnh những NH như VCB, Techcombank, ACB... chú trọng đa dạng các
NVNHQT cung ứng thì nhiều NH chỉ kinh doanh những các NVNHQT truyền thống, thậm
chí chỉ tập trung vào các hoạt động trong nước. Hiện tại nhiều NH muốn mở rộng các hoạt
động NVNHQT để phát triển hơn, tuy nhiên gặp nhiều khó khăn như nền tảng khách hàng,
công nghệ, uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
b. Về khách hàng sử dụng các NVNHQT
Với lợi thế có một mạng lưới chi nhánh rộng khắp cùng với sự am hiểu luật pháp,
thị trường, phong tục tập quán nên các NHTMVN hiện có một lực lượng khách hàng nội
địa hùng hậu trong từng phân khúc thị trường tương ứng với chiến lược kinh doanh. Tuy
nhiên với nhóm khách hàng là các doanh nghiệp nước ngoài thì các NHTMVN còn hạn chế
tiếp cận.
c. Về các nghiệp vụ chủ yếu
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, các cơ chế trong hoạt động xuất nhập khẩu
trở nên thông thoáng hơn, vì vậy đã thúc đẩy hoạt động hoạt động XNK phát triển, tính đến
thời điểm tháng 10/2015 kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 126,74 tỷ USD, nhập khẩu đạt
130,72 tỷ USD. Cùng với sự gia tăng hoạt động XNK thì hoạt động thanh toán quốc tế cũng
có sự gia tăng theo. Thị phần TTQT chủ yếu tập trung tại các NHTMNN có uy tín và nền
tảng tốt, tuy nhiên hiện nay đang bị cạnh tranh mạnh bởi các ngân hàng có yếu tố nước
ngoài. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO và gần đây là hiệp định TPP, có nhiều dự báo cho
này, hệ thống NHTMVN đã có những thay đổi tích cực trong hoạt động kinh doanh ngoài
tệ. Doanh số kinh doanh ngoại tệ liên tục tăng qua các năm nhưng chủ yếu tập trung ở các
giao dich giao ngay, kỳ hạn còn các giao dịch phái sinh khác rất hạn chế. Dù không là
mảng dịch vụ thu nhiều lợi nhuận, nhưng kinh doanh ngoại hối vẫn mang lại nguồn thu ổn
định cho các ngân hàng. Theo báo cáo tài chính của một số ngân hàng, doanh thu ngoại tệ
6 tháng đầu năm nay vẫn tăng trưởng khá, như SHB lãi thuần từ hoạt động kinh doanh
ngoại hối hơn 33,9 tỷ đồng; Eximbank cũng đạt hơn 99,77 tỷ đồng, tăng 31,2 tỷ đồng
(34,3%) so với cùng kỳ năm ngoái...
Chi trả kiều hối
Đây là một điểm sáng trong kinh doanh NVNHQT của các NHTMVN. Theo Ngân
hàng Nhà nước (NHNN), lượng kiều hối chuyển về Việt Nam liên tục tăng trong thời gian
gần đây. Cụ thể, năm 2011, kiều hối về Việt Nam đạt 9 tỷ USD, sang năm 2012 là 10 tỷ
USD, năm 2013 là 11 tỷ USD, năm 2014 đạt mốc 12 tỷ USD.
Cũng theo NHNN, lượng kiều hối tăng chủ yếu do các chính sách của cơ quan này
và của từng ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm khuyến khích người Việt Nam chuyển
tiền về nước. Trong đó, đáng chú ý là các giải pháp mở rộng mạng lưới chuyển tiền và chi
trả kiều hối được thực hiện qua các kênh: hệ thống NHTM, tổ chức kinh tế, hải quan, bưu
điện... tạo thuận lợi cho hoạt động gửi tiền về nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Bên
cạnh đó, NHNN cũng chỉ đạo các NHTM tăng cường đầu tư công nghệ hiện đại xử lý giao
dịch thanh toán chuyển tiền, đáp ứng nhu cầu phục vụ khách hàng nhanh chóng, thuận tiện.
18
Nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế
Để phục vụ mọi nhu cầu phát sinh của khách hàng về vốn, uy tín cũng như phòng
ngừa rủi ro cho khách hàng, tạo sự yên tâm cho khách hàng trong hoạt động XNK, đầu tư
quốc tế..., các NHTMVN không ngừng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế với sự đa
dạng về sản phẩm, việc triển khai sản phẩm bảo lãnh quốc tế cần tuân theo các quy định
của pháp luật cũng như thông lệ quốc tế. Tuy nhiên nghiệp vụ này đòi hỏi uy tín của NH
trong khi đó theo đánh giá của Hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s vừa phát hành báo cáo
1.1.
Citibank với chiến lược đa dạng hóa sản phẩm
Citi group là một tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính và ngân hàng trên
1.000 thành phố tại 160 quốc gia và hàng trăm triệu khách hàng trên thế giới.
19
Citibank phát triển các NVNHQT dựa trên sự phân đoạn cụ thể từng nhóm khách
hàng và cung cấp sản phẩm “đo ni đóng giày” độc đáo cho từng nhóm. Các nhóm dịch vụ
ngân hàng tài chính của Citibank bao gồm:
• Khối KH bán lẻ (GCG)
Với hơn 200 năm kinh nghiệm tài chính và ngân hàng, Citibank hiện là một trong
những ngân hàng bán lẻ lớn nhất thế giới phục vụ hơn 100 triệu khách hàng tại hơn 40
quốc gia. Được biết đến với tên gọi Citibank và chiến lược tập trung ở các thành phố hàng
đầu trên thế giới , Khối Khách hàng Bán lẻ của Citi tận dụng uy tín và thương hiệu của
mình để đem lại những trải nghiệm tài chính đẳng cấp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Citibank phát triển mạnh mẽ tại những thị trường tài chính lớn của thế giới, và trải dài từ
Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc và Ấn Độ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Ba Lan
và Nga ở châu Âu, tới Mexico, Brazil, Colombia, Argentina và Panama ở Mỹ Latinh.
Citibank mở rộng hoạt động kinh doanh trong phân khúc ngân hàng bán lẻ tại thị
trường Việt Nam, bằng cách giới thiệu các sản phẩm có giá trị cao đến khách hàng, khách
hàng của Citibank tại Việt nam có thể tiếp cận được những dịch vụ tài chính đẳng cấp và
hoàn hảo bao gồm dịch vụ tiền gửi, tài khoản giao dịch, các sản phẩm thẻ tín dụng, bảo
hiểm nhân thọ, vay tiêu dụng và dịch vụ khách hàng cao cấp Citigold thông qua các kênh
phân phối và mạng lưới rộng khắp.
Trọng tâm trong lĩnh vực bán lẻ của ngân hàng là việc phát hành thẻ tín dụng.
Citibank là một trong những ngân hàng phát hành thẻ tín dụng lớn nhất toàn cầu và khu
động vốn cho các tập đoàn, tổ chức tài chính và chính phủ. Các khách hàng của ngân hàng
sẽ nhận được các giải pháp tài chính phù hợp và các dịch vụ tư vấn chiến lược về các
thương vụ mua bán và sáp nhập cũng như các hoạt động huy động vốn bao gồm mua bán,
sáp nhập, thoái vốn, tái cơ cấu tài chính, bảo lãnh phát hành và phân phối vốn chủ sở hữu,
các khoản nợ và chứng khoán phái sinh.
• Nhóm Nguồn vốn và kinh doanh ngoại tệ
Với năng lực trong lĩnh vực bảo lãnh phát hành, kinh doanh ngoại hối và giao dịch
tiền tệ, phân phối và nghiên cứu, Nhóm Nguồn vốn và Kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
cung cấp những sản phẩm và giải pháp tài chính bao gồm bảo lãnh phát hành, cơ cấu,
thương mại và kinh doanh các loại tài sản, bao gồm vốn chủ sở hữu, trái phiếu doanh
nghiệp, trái phiếu chính phủ, tài sản đảm bảo và chứng khoán thế chấp, các khoản vay hợp
vốn, cũng như các sản phẩm cấu trúc và phái sinh.
• Nhóm cung cấp các giải pháp thương mại & tư vấn quản lý dòng tiền
Nhóm Cung cấp các giải pháp thương mại và Tư vấn quản lý dòng tiền của ngân
hàng cung cấp dịch vụ quản lý tiền mặt kết với hợp với kinh doanh tài chính cho các doanh
nghiệp đa quốc gia, tổ chức tài chính và các tổ chức khu vực công trên khắp thế giới. Hàng
loạt các giải pháp toàn diện về vốn và thương mại gồm quản lý tiền mặt, quản lý thu chi,
quản lý thanh khoản và dịch vụ đầu tư, huy động vốn và dịch vụ kinh doanh tài chính đều
được ngân hàng cung cấp.
• Chứng khoán và Dịch vụ Quỹ
Bộ phận Chứng Khoán và Dịch Vụ Quỹ cung cấp các giải pháp phù hợp hỗ trợ cho
các mục đích đầu tư và chiến lược giao dịch đa dạng của các nhà đầu tư, tổ chức phát hành
và tổ chức trung gian trên toàn cầu. Thông qua hệ thống các giải pháp về quản trị đầu tư,
quản trị danh mục kinh doanh và dịch vụ về quỹ, tín thác, lưu ký, đầu tư và hỗ trợ vốn, Citi
giúp khách hàng giải quyết các vấn đề về phát hành, quản lý và phân phối các sản phẩm tài
chính và dịch vụ của diễn biến thị trường đầy phức tạp và cạnh tranh hiện nay.
Tại Việt Nam, Citibank cung cấp các gói sản phẩm phục vụ phân khúc khác hàng
bán lẻ bao gồm:
-
trường Việt Nam. Liên minh chiến lược này được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc
trong lĩnh vực kinh doanh, sức mạnh bổ trợ và năng lực phân phối sản phẩm bảo hiểm qua
kênh ngân hàng đã được thiết lập của cả hai bên.
Citibank dẫn đầu trong việc đa dạng hóa các loại tiền mặt và gói phương án thương
mại qua lệnh thanh toán, quản lý thanh khoản, hỗ trợ khách hàng, dịch vụ thương mại và
tài chính thương mại. Citibank cũng là ngân hàng đầu tiên thực hiện hệ thống ngân hàng
điện tử tốt nhất ở Việt Nam; ngân hàng đầu tiên thực hiện cổng thanh toán trực tuyến trên
thị trường nội địa; ngân hàng đầu tiên thực hiện hệ thống đầu tư trực tuyến, kinh doanh
rộng khắp trong những sản phẩm dựa trên đồng nội tệ và đối trọng của Citibank trên toàn
cầu.
1.2.
HSBC – công nghệ là chìa khóa của thành công
HSBC là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới.
Ngân hàng phục vụ khoảng 52 triệu khách hàng thông qua bốn Khối kinh doanh toàn cầu:
Khối Dịch vụ tài chính cá nhân và Quản lý tài sản, Khối Dịch vụ tài chính doanh nghiệp,
Khối Dịch vụ ngân hàng toàn cầu và thị trường vốn và Khối Ngân hàng tư nhân toàn cầu.
Mạng lưới hoạt động bao phủ 74 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Âu, châu Á-Thái Bình
Dương, Trung Đông và Bắc Phi, Bắc Mỹ và châu Mỹ La-tinh.
Với hơn 6.200 văn phòng trên khắp thế giới, HSBC hướng đến mục tiêu có mặt ở
những thị trường tăng trưởng, kết nối khách hàng với các cơ hội, hỗ trợ các doanh nghiệp
kinh doanh thành công, các nền kinh tế phát triển thịnh vượng và giúp người dân tại các
quốc gia thực hiện những ước mơ và tham vọng của mình.
Được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán London, Hồng Kông, New York,
Paris và Bermuda, khoảng 216.000 cổ đông tại 129 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện đang
nắm giữ cổ phiếu của Tập đoàn HSBC.
22
chủ yếu trên phương diện dịch vụ, cung cấp những trải nghiệm tốt nhất để gia tăng khác
biệt hóa.
Ngoài dịch vụ ngân hàng bán lẻ, HSBC còn cung cấp chuỗi các giải pháp tài chính
ưu việt cho các doanh nghiệp , tập đoàn lớn trên toàn cầu. Các sản phẩm dịch vụ do HSBC
cung cấp bao gồm:
Nhóm khách hàng bán lẻ (KHCN)
23
-
Dịch vụ tài khoản và tiền gửi
-
Dịch vụ ngoại hối và chuyển tiền toàn cầu
-
Các sản phẩm thẻ tín dụng với nhiều tính năng, tiện ích đi kèm, chủ thẻ được
hưởng nhiều chương trình ưu đãi khi phát hành và chi tiêu bằng thẻ tín dụng
-
Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ
-
Các sản phẩm vay tiêu dùng như vay thấu chi, vay mua nhà, mua xe, với lãi
suất ưu đãi, thủ tục nhanh gọn, linh hoạt
nơi.
Dịch vụ e-PO Trader: là hệ thống giao dịch trực tuyến cho phép doanh
nghiệp tạo và kiểm tra các chứng từ điện tử cho các giao dịch thanh toán
bằng phương thức Ghi Sổ. e-PO Trader cho phép người sử dụng tự động
hóa quá trình ra quyết định thanh toán và giúp người bán tạo và gửi các
chứng từ điện tử, cập nhật tình trạng thanh toán các đơn hàng.
-
Dịch vụ kinh doanh vốn và ngoại tệ: HSBC cung cấp các sản phẩm giao dịch
hối đoái bao gồm giao dịch giao ngay (spot), giao dịch kỳ hạn (forward) và
24
giao dịch hoán đổi (swap) và một số công cụ tài chính phái sinh khác như
giao dịch hoán đổi tiền tệ, giao dịch hoán đổi lãi suất.
-
Các dịch vụ tài khoản tiền gửi thanh toán và giải pháp quản lý tài khoản
-
Các dịch vụ chứng khoán như dịch vụ thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng
khoán.
Xu hướng phát triển tại Việt Nam
Cuối năm 2005, Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) thông báo quyết
định mua 10% vốn cổ phần của Techcombank. Tháng 7 năm 2007, HSBC trở thành ngân
hàng nước ngoài đầu tiên sở hữu cổ phần tại một ngân hàng trong nước với tỷ lệ 15%,
thông qua việc mua thêm cổ phần của Techcombank. Tháng 9 năm 2008, HSBC hoàn tất
NHTMVN là từ hoạt động tín dụng, một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các sản phẩm,
25