ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
HỌC PHẦN: NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
Giảng viên: TS. Đinh Xuân Cường
Nhóm: 02
Lớp: K23 TCNH 3
Hà Nội, năm 2015
1
MỤC LỤC
2
1. Khung pháp lý cho hoạt động của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
1.1. Một số thuật ngữ liên quan đến ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Theo Điều 7, Nghị định 22/2006/NĐ-CP thì:
- Ngân hàng nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước
ngoài, có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là hoạt động ngân hàng.
- Ngân hàng mẹ là ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ của
ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hoặc có chi nhánh hoạt
động tại Việt Nam.
06/2013/PL-UBTVQH13
- Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ban hành ngày 28/2/2006 về tổ chức và
hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân
hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện, tổ chức tín dụng nước ngoài tại
Việt Nam
- Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ban hành ngày 17/7/2009 về tổ chức hoạt
động của ngân hàng thương mại
- Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ban hành ngày 17/7/2014 về quy định chi
tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
một số điều của pháp lệnh ngoại hối
- Thông tư số 03/2007/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 5/6/2007 về hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định số
22/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn
phòng đại diện, tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam
- Thông tư số 40/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 15/12/2011 về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân
hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ
chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại
Việt Nam
- Thống tư số 37/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 28/12/2012 về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú
- Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 21/1/2013 về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập
dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Thông tư số 09/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 18/3/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy
biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi.
+ Ngân hàng nước ngoài đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các tỷ lệ bảo
đảm an toàn theo thông lệ quốc tế.
+ Cơ quan giám sát, thanh tra có thẩm quyền của nước nguyên xứ có khả
năng giám sát toàn bộ hoạt động của ngân hàng nước ngoài trên cơ sở tổng hợp
theo thông lệ quốc tế; có cam kết hợp tác quản lý, giám sát hoạt động và trao đổi
thông tin với Ngân hàng Nhà nước.
- Điều kiện riêng:
Loại hình
Điều kiện
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại - Các điều kiện được quy định tại
5
Loại hình
Điều kiện
Việt Nam
khoản 2 Điều 106 Luật các Tổ chức
tín dụng
- Ngân hàng nước ngoài có tổng tài
sản có ít nhất là tương đương 20 tỷ
đôla Mỹ vào năm trước năm xin cấp
giấy phép
Ngân hàng liên doanh, ngân hàng - Các điều kiện được quy định tại
100% vốn nước ngoài
khoản 1 Điều 22 Luật các Tổ chức tín
dụng
- Ngân hàng nước ngoài được cơ quan
có thẩm quyền của nước nguyên xứ
6
hoạt động của ngân hàng mẹ. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
không được thực hiện các nghiệp vụ mà chính ngân hàng mẹ cũng không được
thực hiện theo quy định của nước nguyên xứ.
1.3.4. Nội dung an toàn hoạt động
Theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN thì các ngân hàng nước ngoài phải
đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng sau:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu duy trì 9%.
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên
quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng.
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối
với tất cả khách hàng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu không được vượt quá 5%
vốn điều lệ, vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ dự
trữ thanh khoản là 10%
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được sử dụng nguồn
vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn theo tỷ lệ tối đa là 60%
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ dư
nợ cho vay so với tổng tiền gửi là 80%
2. Hội nhập của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng
2.1. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA)
Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có hiệu
lực từ ngày 11/12/2001. Nội dung chính của BTA bao gồm các quy định và
nguyên tắc giám sát hoạt động thương mại giữa hai quốc gia. Chương 3 của
Hiệp định phác thảo những nguyên tắc và quy định áp dụng cho lĩnh vực thương
mại dịch vụ. Trong số 08 ngành dịch vụ được đề cập tới trong danh sách, các
dịch vụ tài chính, cụ thể hơn là “các dịch vụ tài chính và ngân hàng”, được quy
định khá cụ thể (gồm có điều kiện, hạn chế và thời gian thực hiện) về việc mở
phép đối với các nhà đầu tư Việt Nam. Theo thời định, mỗi bên sẽ chấp nhận
những dich vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên khác, tôn trọng tất cá những
biện pháp có ảnh hưởng đến việc cung ứng dịch vụ, với chế độ đãi ngộ không
kém ưu đãi hơn so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên đó.
- Từ tháng 12 năm 2004, các chi nhánh ngân hàng của Mỹ được phép: i)
nhận đảm bảo cho khoản vay bằng giá trị quyền sử dụng đất do các DN có vốn
đầu tư nước ngoài nắm giữ; (ii) tiếp nhận và sử dụng giá trị quyền sử dụng đất
đảm bảo cho khoản vay trong trường hợp không thanh toán nợ; iii) được tiếp
cận các dịch vụ tái chiết khấu, hoán đổi và hợp đồng kỳ hạn của Ngân hàng Nhà
nước; và quan trọng hơn là, iv) được hưởng đầy đủ quyền như ngân hàng trong
nước;
2.2. Hiệp định Thương mại tự do các nước ASEAN (AFTA)
Hiệp định Thương mại tự do các nước ASEAN yêu cầu Việt Nam cam kết
vào một lộ trình cắt giảm thuế cho đến năm 2006. Việc cắt giảm thuế dự kiến sẽ
8
tăng cường các hoạt động thương mại quốc tế, các dòng đầu tư nước ngoài bên
trong khu vực, và các dịch vụ hỗ trợ tài chính như trao đổi ngoại hối và thanh
toán quốc tế.
Trong khi tác động của AFTA tới ngành ngân hàng là gián tiếp, các nước
ASEAN đã thông qua một hiệp định khung về thương mại (AFAS) vào tháng 12
năm 1995. AFAS đưa ra những qui định cho các quốc gia thành viên ASEAN
nhằm cải thiện liên tục Tiếp cận thị trường và đảm bảo chế độ Đối xử Quốc gia
công bằng đối với các nhà cung cấp dịch vụ trong cộng đồng ASEAN ở cả bốn
hình thức cung cấp dịch vụ. Tất cả các nguyên tắc của AFAS đều nhất quán với
các quy định quốc tế về thương mại dịch vụ như trong Hiệp định chung về
thương mại dich vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trên
thực tế, việc tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ AFAS là trực tiếp
hướng tới những cam kết cao hơn cả những cam kết mà các nước thành viên đã
- Phía nước ngoài tham gia liên doanh phải là ngân hàng thương mại có
tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước thời điểm nộp đơn
xin thành lập liên doanh tại Việt Nam; và
- Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá
50% vốn điều lệ.
* Về việc thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài kể
từ ngày 1/4/2007 với điều kiện ngân hàng nước ngoài là chủ đầu tư phải là ngân
hàng thương mại có tổng tài sản có trên 10 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền trước
thời điểm nộp đơn xin thành lập ngân hàng tại Việt Nam.
Ngoài điều kiện theo cam kết, việc thành lập ngân hàng tại Việt Nam phải
tuân thủ các điều kiện kỹ thuật áp dụng chung theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Đối với Chi nhánh Ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam
Việt Nam cam kết cho phép các ngân hàng thương mại nước ngoài được
thành lập chi nhánh của họ tại Việt Nam với điều kiện:
- Ngân hàng mẹ có tổng tài sản trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm liền
trước thời điểm nộp đơn xin lập chi nhánh ở Việt Nam;
- Chi nhánh được thành lập phải chịu các hạn chế trong hoạt động của
mình.
Ngoài các điều kiện nêu trong cam kết nói trên, các ngân hàng nước ngoài muốn
thành lập chi nhánh tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện khác về mặt kỹ
thuật theo quy định của pháp luật Việt Nam (áp dụng chung cho cả ngân hàng
trong nước và ngân hàng nước ngoài).
Những hạn chế trong hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài
tại Việt Nam
- Không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở giao dịch
chính của mình. Ví dụ Ngân hàng A mở chi nhánh X1 tại Việt Nam thì chi nhánh
10
- Đối với chi nhánh của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá thời hạn
hoạt động của ngân hàng mẹ và không quá 99 năm;
- Đối với văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài: không vượt quá
thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ;
11
- Công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài,
công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn
nước ngoài: 50 năm
Thời hạn hoạt động cụ thể được quy định trong giấy phép được cấp và có
thể được gia hạn theo yêu cầu (thời hạn gia hạn không vượt quá thời hạn hoạt
động trước đó được quy định trong giấy phép).
* Ngân hàng nước ngoài được thiết lập các máy rút tiền tự động, phát
hành thẻ tín dụng.
Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài
được hưởng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đầy đủ, tức là các ngân hàng
này có quyền thiết lập và vận hành các máy rút tiền tự động (ATM) như các
ngân hàng Việt Nam. Hiện nay đối với các ngân hàng Việt Nam, không có hạn
chế số lượng các máy rút tiền tự động mà các ngân hàng này được phép lắp đặt.
Các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng được phép phát hành thẻ tín dụng
tại Việt Nam như các ngân hàng Việt Nam.
* Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp khác ngoài cam kết đối với
việc thành lập, tham gia, hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh
vực ngân hàng và dịch vụ tài chính.
Do tính đặc thù và tầm quan trọng của dịch vụ tài chính (đối với toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, đối với các nhà đầu tư, những người gửi tiền…), WTO
cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp khác vì lý do thận
trọng, đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Do đó, ngoài các hạn chế về hình thức pháp nhân, yêu cầu về vốn, các hạn
định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền
kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Tính đến năm 2015, 12 nước bao gồm Mỹ, Úc, Brunei, Canada, Chile,
Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam đã trở
thành thành viên của hiệp định. Các nước này đang nỗ lực hướng đến việc ký
kết thỏa thuận trong thời gian sớm nhất, sau khi bỏ lỡ hạn chót đặt ra cuối năm
2013.
Vòng đàm phán đầu tiền diễn ra vào 3-2010 tại Melborn (Úc). Từ đó đến
nay đã diễn ra tất cả 19 vòng đàm phán chính thức và cuối cùng sau 5 năm đàm
phán đến 05/10/2015, tại hội nghị diễn ra ở thành phố Atlanta, Bộ trưởng
Thương mại các nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương (TPP) đã đạt được thỏa thuận cuối cùng đối với hiệp định thương mại tự
do lớn nhất thế giới này.
Sau khi 12 nước ký hiệp định TPP, văn kiện này cần nhận được sự phê
chuẩn của chính phủ và Quốc hội các nước thành viên để có hiệu lực.
Dịch vụ tài chính là lĩnh vực đàm phán được các nước TPP đặc biệt quan
tâm, kỳ vọng đưa TPP trở thành hiệp định tự do hóa của thế kỷ 21 với những
13
cam kết sâu rộng về tiếp cận thị trường trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm.
Chương dịch vụ tài chính của TPP bao gồm các nghĩa vụ cốt lõi tìm thấy
trong các hiệp định thương mại khác như đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc;
tiếp cận thị trường; và một vài quy định cụ thể của chương Đầu tư bao gồm Tiêu
chuẩn đối xử tối thiểu. Bên cạnh đó có một số nội dung mới đáng chú ý như sau:
- Quy định việc cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới cho một nước
TPP từ một nhà cung cấp của một nước TPP khác mà không yêu cầu nhà cung
cấp dịch vụ phải thành lập cơ sở hoạt động tại một nước khác để bán các dịch vụ
của mình nhưng phải phù hợp với quy định đăng ký hoặc ủy quyền cho các nhà
giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trung ương như Ủy
ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà sẽ tập trung
vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại.
Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then chốt): tạo lập một thị
trường và cơ sở sản xuất thống nhất; tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao;
thúc đẩy sự phát triển kinh tế công bằng; xây dựng một khu vực hội nhập hoàn
toàn với nền kinh tế toàn cầu.
Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự do dịch chuyển
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyển dòng vốn.
Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, các quốc
gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏ các rào
cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa các nước
ASEAN. Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã cam kết
tự do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm và
các thị trường vốn vào năm 2015. Điều này bao hàm tự do hóa 4 phương thức
cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới như được định nghĩa trong WTO - là
cung cấp thương mại dịch vụ qua biên giới (phương thức 1), Tiêu dùng (sử dụng
dịch vụ) ở nước ngoài (phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3)
và Tự do dịch chuyển cá nhân (Phương thức 4).
2.5.2. Hành động của Việt Nam và ASEAN để thực hiện hội nhập AEC
Hiện nay, trong khối ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong bốn
thành viên có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực
hiện AEC. Việt Nam đã tham gia hợp tác một cách toàn diện với các nước
ASEAN từ các lĩnh vực truyền thống như: thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu
tư, nông nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông, cho đến các lĩnh vực mới như:
bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng…
Cho tới nay, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu cho hơn 10 nghìn dòng thuế
xuống mức 0 - 5% theo ATIGA, chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu
thuế. Về thương mại hàng hoá, ASEAN đã sửa đổi, bổ bổ sung các hiệp định
kinh tế ASEAN, trong đó Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA)
dạng hóa các loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng ở quốc gia đó. Đồng thời,
cạnh tranh khốc liệt hơn sẽ buộc các ngân hàng phải tìm kiếm cơ hội kinh doanh
mới, bằng cách mở rộng hoạt động về nông thôn, vùng sâu và vùng xa. Đến lượt
mình, sự hiện diện nhiều hơn của các ngân hàng ở nông thôn, vùng sâu và vùng
xa sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương nói riêng và cả nước nói
chung.
Trong nội bộ khối thì các ngân hàng của Singapore và Malaysia rất tích
cực mở rộng phạm vi hoạt động của mình ở các nước thành viên ASEAN khác.
16
Trong khi đó thì mức độ thâm nhập thị trường ngân hàng nội khối bởi ngân hàng
của các nước ASEAN khác, gồm có Việt Nam, có thể nói là không đáng kể, với
số lượng chi nhánh ở các nước khác có thể đếm trên đầu ngón tay. Nhưng có thể
kỳ vọng rằng khi thương mại và đầu tư nội khối tăng lên sẽ kích thích nhiều
ngân hàng khác mở rộng hoạt động của mình ra phạm vi khối để phục vụ khách
hàng của mình tốt hơn và đồng thời nắm bắt thêm được nhiều cơ hội kinh doanh
mới.
Một số ngân hàng thương mại tại các nước ASEAN đang có kế hoạch
nâng cao sự hiện diện của mình tại Việt Nam. Mới đây, ngân hàng Kasikorn của
Thái Lan đã thành lập hai văn phòng đại diện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh. Trước Kasikorn, Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS) và Maybank
(Malaysia) cũng đã có mặt tại thị trường Việt Nam. Kasikorn cho biết sẽ mở
rộng hoạt động tại Việt Nam và tiếp tục mở thêm nhiều văn phòng và chi nhánh
sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép. Ngân hàng này có kế
hoạch chinh phục đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước
khi ra mắt chính thức vào đầu tháng 3 vừa qua, Kasikorn đã từng có quá trình
hợp tác với hai ngân hàng lớn của Việt Nam là Vietinbank và Agribank.
Với nhu cầu vốn ngày càng lớn từ các doanh nghiệp Việt Nam cũng như
những doanh nghiệp FDI tại đây, rất nhiều ngân hàng thuộc các nước Asean
sáp nhập mà gần đây nhất là giữa CIMB Bank, RHB Bank và Malaysian
Building Society để tạo ra một ngân hàng còn lớn hơn cả Maybank, hiện đang là
ngân hàng lớn nhất Malaysia. Tầm vóc mới của ngân hàng sau sáp nhập không
những sẽ giúp nó kiểm soát và bảo vệ được thị phần của mình trong nước mà
còn tạo thêm nguồn lực để bành trướng ra các nước khác trong khối.
Nhưng cần lưu ý, hội nhập kinh tế với sự ra đời của AEC không chỉ mang
đến những lợi ích như thêm cơ hội kinh doanh, giảm chi phí và giá, đa dạng hóa
sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, tăng cường độ bao phủ về mặt địa lý của hệ
thống ngân hàng lên khắp các vùng trong cả nước và ở cả nước ngoài, hội nhập
sâu rộng hơn trong ngành ngân hàng còn mang đến nhiều rủi ro hơn. Dễ thấy
trước nhất là rủi ro của đổ vỡ hệ thống khi một ngân hàng nào đó ở nước nào đó
đối mặt với khủng hoảng, cơn khủng hoảng có thể dễ dàng lan tỏa xa hơn và sâu
hơn đến hệ thống ngân hàng ở các nước khác trong khối ASEAN. Bởi vậy, chính
phủ của các nước thành viên ASEAN chắc chắn sẽ phải phối hợp và làm việc
chặt chẽ với nhau để hoàn thiện khuôn khổ giám sát và chế tài để xử lý tình
huống lây lan khủng hoảng. Về phần mình, mỗi chính phủ phải sẵn sàng đương
đầu với những thách thức mới và phức tạp trong việc giám sát các ngân hàng có
hoạt động trên khắp lãnh thổ ASEAN.
3. Thực trạng hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
3.1. Lịch sử hình thành các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
3.1.1. Giai đoạn trước năm 1990 trước khi có pháp lệnh ngân hàng
18
Thời kỳ Pháp Thuộc trước khi người Pháp đặt chân lên Việt Nam vào năm
1858, Việt Nam chưa có tổ chức ngân hàng và tín dụng nào. Đến cuối thế kỷ 19,
khi nền đô hộ đã được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương, để phục vụ cho hoạt
động kinh doanh của mình Pháp đã thành lập ngân hàng để phục vụ cho hoạt
động riêng mình.
Thời kỳ Pháp thuộc 2 ngân hàng nước ngoài thành lập tại Việt Nam: ngân
Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, từ ngày 1/4/2007,
các ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã được phép thành lập tại Việt Nam,
nhưng đến 8/9/2008, ngân hàng nhà nước mới cho phép thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Ngân hàng đầu tiên được cấp phép là ngân
hàng HSBC và Standard Chartered. Trong năm này tiếp tục cấp phép thêm 03
ngân hàng nước ngoài được thành lập. Như vậy trong năm 2008 NHNN đã cấp
phép cho thành lập 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm
Standard Chartered, HSBC, ANZ, Hong Leong, Shinhan. Trước đó các ngân
hàng này đã thành lập các văn phòng, chi nhánh tại Việt Nam sau khi có văn bản
chính thức cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài thì các ngân
hàng này đã tiến hành thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Như ngân
hàng HSBC năm 1870 HSBC mở văn phòng đầu tiên tại Sài Gòn (nay là TP. Hồ
Chí Minh). Tháng 8 năm 1995, chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh được cấp
phép hoạt động và cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính ngân hàng. HSBC khai
trương chi nhánh thứ hai tại Hà Nội và thành lập Văn phòng Đại diện tại Cần
Thơ vào năm 2005. Năm 2008 HSBC được cấp phép thành lập và cũng là một
trong 2 ngân hàng nước ngoài đầu tiên thành lập ngân hàng 100% vốn nước
ngoài tại Việt Nam. Ngân hàng ANZ, nhà băng nước ngoài đầu tiên mở chi
nhánh tại Hà Nội năm 1993, đang có tham vọng mở thêm từ 10-12 chi nhánh
vào cuối năm 2008, khi được cấp giấy phép thành lập ngân hàng 100% vốn
nước ngoài tại Việt Nam.
Tính đến tháng 11/2015 có 06 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 03 ngân
hàng liên doanh, 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 53 văn phòng đại diện
đang hoạt động tại Việt Nam. Các tổ chức này đều là những ngân hàng và tổ
chức tài chính lớn, có uy tín và độ an toàn cao, có khả năng cạnh tranh tốt. Mặc
dù thị phần hoạt động của các TCTD nước ngoài vẫn còn ở mức khiêm tốn,
nhưng có vị trí quan trọng trong hệ thống các định chế tài chính tại Việt Nam.
Các TCTD nước ngoài là kênh truyền dẫn vào Việt Nam các công nghệ ngân
hàng hiện đại và kinh nghiệm quản trị ngân hàng tiên tiến, đồng thời bổ sung
dùng, Dịch vụ Tài chính Thương mại và Dịch vụ Ngân hàng Bán buôn.
Hiện nay, ANZ Việt Nam có hơn 750 nhân viên. Vốn điều lệ hiện tại của
ngân hàng là 3.000 tỷ đồng. Theo báo cáo tài chính công bố mới nhất của ANZ
Việt Nam là 2013, ngân hàng này có vốn chủ sở hữu tính đến 31/12/2013 là
3.803 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế 2013 đạt 407,508 tỷ đồng, tăng mạnh so với
con số năm 2012 là 279,053 tỷ đồng.
- Ngân Hàng Standard Chartered Việt Nam
Ngân hàng TNHH MTV Standard Chartered Việt Nam - ngân hàng 100%
vốn của Standard Chartered Anh quốc chính thức đi vào hoạt động từ ngày
1/8/2009.
21
Ngân hàng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng thương mại
và bán lẻ cho khách hàng là các doanh nghiệp, các định chế tài chính, doanh
nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng cá nhân.
Hiện tại, Ngân hàng Standard Chartered có 3 chi nhánh tại Hà Nội và
TP.HCM với gần 850 nhân viên. Vốn điều lệ của ngân hàng hiện là 3.000 tỷ
đồng.
Kết thúc năm 2013, tổng tài sản của ngân hàng là 23.873 tỷ đồng, giảm 0,82%
so với năm 2012.
Thu nhập lãi thuần năm 2013 đạt 1.145 tỷ đồng, tăng 5,1% so với năm
trước. Lợi nhuận trước thuế và sau thuế lần lượt là 322 tỷ đồng và 236 tỷ đồng,
giảm 34,8% và 36,04% so năm 2012.
- Ngân Hàng Shinhan Vietnam
Năm 2008, Ngân hàng Shinhan Việt Nam được cấp giấy phép thành lập
ngân hàng 100% vốn đầu tư từ Hàn Quốc tại Việt Nam.
Ngày 28/11/2011, Ngân hàng Shinhan đã mua 50% cổ phần của ngân
hàng Shinhan Vina (ngân hàng liên doanh với 50% cổ phần của Ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam - Vietcombank và 50% cổ phần của ngân hàng
Tính đến cuối năm 2013, tổng lãi trước thuế của ngân hàng đạt 103,8 tỷ
đồng, giảm 29,4% so với năm 2012. Hiện vốn điều lệ của ngân hàng là 3.000 tỷ
đồng.
- Ngân Hàng Public Bank Berhad
Ngày 23/3/2015, NHNN đã chấp thuận về nguyên tắc việc PBB được
nhận toàn bộ phần vốn góp của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) tại Ngân hàng liên doanh VID Public và tiến hành các thủ tục để
chuyển đổi ngân hàng này thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
của PBB.
Ngân hàng VID Public Bank được thành lập ngày 30/9/1991 với tỷ lệ vốn
góp 50:50 giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với ngân hàng
Public Bank Berhad (Malaysia).
Ngân hàng chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/1992 đến nay, sau 3 lần
tăng vốn, VID Public Bank có 62,5 triệu USD vốn điều lệ.
Sau hơn 20 năm hoạt động, ngày 15/7/2014, BIDV đã ký hợp đồng
chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp (50%) của BIDV tại Ngân hàng liên
doanh VID Public (VPB) cho Ngân hàng Public Bank Berhad (PBB) của
Malaysia.
Về ngân hàng liên doanh thì tính đến nay (11/2015) có 3 ngân hàng liên
doanh được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động tại Việt Nam.
Tên
STT
ngân
hàng
1
Indovina
Vốn
Lịch sử
Sản phẩm
Vốn
điều
lệ
triệu
USD
Lịch sử
hình
thành
ngày
21/11/1990
Ngày
19/11/2006
NH liên
168,5 chính thức
doanh
triệu khai
Việt-Nga
USD trương và
(VRB)
đi vào hoạt
động
Ngân
hàng liên 161
doanh
triệu
Đồng Nai
Trụ sở chính:
Hà Nội và 5 Chi
nhánh ở các
vùng kinh tế
trọng điểm của
đất nước: Hải
Phòng,
Đà
Nẵng,
Khánh
Hòa, Vũng Tàu,
Tp. Hồ Chí
Minh
Ngân hàng có
tổng số 221
nhân viên, với 8
chi nhánh và 2
phòng giao dịch
hoạt động trên
các địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Đà
Nẵng, Đồng Nai
và Bình Dương.
TMCP
Công
Thương
Việt
(Ngân
hàng
Ngoại
thương
Nga
Vneshtorgbank)
Cung
cấp
các
sản
phẩm dịch
vụ cho khách
hàng
cá
nhân, khách
hàng doanh
nghiệp
và
ngân hàng
điện tử
1. Ngân hàng
Nông nghiệp và
Phát triển nông
thôn Việt Nam
(NHNo&PTNT
)
2. Ngân hàng
Thương
hàng 100% vốn nước ngoài còn thua xa các ngân hàng lớn trong nước và tương
đương với các ngân hàng phổ thông. Trong thời gian tới nếu việc đầu tư trực tiếp
nước ngoài được thông thoát và có sức thu hút hơn đặt biệt là trong lĩnh vực
ngân hàng thì có thể các ngân hàng nước ngoài sẽ tăng vốn điều lệ lên để cạnh
tranh với các ngân hàng trong nước. Tiềm lực của các ngân hàng nước ngoài là
rất lớn vì vậy mà các ngân hàng trong nước cũng không nên quá chủ quan về
năng lực tài chính của mình.
So sánh vốn điều lệ của một số ngân hàng nội và ngân hàng 100% vốn
nước ngoài tại Việt Nam đến 11/2015
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tên viết tắt
NHTMVN
Vốn điều lệ
(tỷ VND)
STT
Tên viết tắt
4547
Eximbank
12.355
6
Public Bank Berhad
62,5 triệu $
SCB
12295
MSB
11750
MB
11593
ACB
9377
(Nguồn: http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/trat-tu-moi-trong-bang-xep-hangvon-cua-36-ngan-hang-hien-nay-20150913104230311.chn)
Về tài sản của các nhóm tổ chức tín dụng tính đến tháng 3 năm 2015:
25