MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU: ……………………………………………………1
B.NỘI DUNG: …………………………………………………..1
I. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU VÀ HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG
BẢO HIỂM: ………………………………………………………………1
1. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm:………………………………...1
2. Những nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm:………………………2
2.1. Về đối tượng bảo hiểm:…………………………………………3
2.2. Về số tiền bảo hiểm:…………………………………………… 4
2.3. Phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hay điều kiện bảo hiểm:………. 5
2.4. Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm:…………………………………6
2.5. Thời hạn bảo hiểm:……………………………………………..7
2.6. Về mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm:……… 8
3. Hình thức hợp đồng bảo hiểm:…………………………………………..8
II. PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ
GIẤY CHỨNG NHẬN BẢO HIỂM:………………………………….. 10
1. Giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm:10
2. Hợp đồng bảo hiểm quyết định nội dung của giấy chứng nhận bảo hiểm:
…………………………………………………………………. 11
C. KẾT LUẬN:……………………………………………….. 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
A. MỞ ĐẦU:
Ở Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vài năm gần
đây từ khi chóng ta chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm. Các lĩnh vực, các
phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” (Điều 567).
Chương II Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi, bổ sung năm 2010) có
quy định chi tiết về hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, “Hợp đồng bảo hiểm là sự
thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên
mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền
bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm” (khoản 1 Điều 12).
Quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi, bổ sung 2010) đã bao
trùm được cả hai lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ.
2. Những nội dung chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm:
Cũng như các hợp dồng kinh tế và dân sự, pháp luật quy định nội dung
của Hợp đồng bảo hiểm.
Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định:
“1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người
được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài
sản;
d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;
đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;
i) Các quy định giải quyết tranh chấp;
k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.
2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm
có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận”.
3
gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo quy
4
định của pháp luật”.
Như vậy, các loại hợp đồng đều xác định rất cụ thể đối tượng bảo hiểm
có sự phân định rất rõ đối tượng của từng loại hợp đồng bảo hiểm.
2.2. Về số tiền bảo hiểm:
Trong hợp đồng bảo hiểm, một trong những nội dung cần xác định là
số tiền bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm chính là quyền lợi của người được bảo
hiểm được tính bằng tiền, đồng thời số tiền bảo hiểm cũng là mức trách nhiệm
cao nhất của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc bồi thường tổn thất hoặc trả
tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Mỗi loại hợp đồng bảo hiểm có cách xác định số tiền bảo hiểm khác
nhau trong bảo hiểm tài sản: Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Số tiền
bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó”
(Điều 41). Số tiền bảo hiểm có thế bằng hoặc thấp hơn giá trị tài sản được bảo
hiểm, nhưng không thể cao hơn giá trị mặc dù pháp luật vẫn ghi nhận khả
năng này. Việc người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm cao hơn giá trị tài sản
có thể vì hai lý do:
Thứ nhất, người tham gia bảo hiểm sơ suất hoặc đánh giá sai giá trị tài
sản được bảo hiểm;
Thứ hai, người tham gia bảo hiểm cố tình định giá sai tài sản bảo hiểm
với lý do trục lợi bảo hiểm khi tổn thất xảy ra.
Để ngăn ngừa tình trạng này, khoản 1 Điều 42 Luật kinh doanh bảo
hiểm (sửa đổi, bổ sung năm 2010) đã quy định: “Hợp đồng tài sản trên giá trị
là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị thị trường của tài sản
được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm và
bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị”.
Trong các hợp đồng bảo hiểm con người cũng phải ghi số tiền bảo
Hợp đồng bảo hiểm là sự thể hiện cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm
đối với người mua bảo hiểm vì vậy pháp luật quy định điều khoản phải rõ
ràng, những rủi ro nào được người bảo hiểm nhận bảo hiểm. Ngày nay, các
điều khoản bảo hiểm có xu hướng liệt kê rủi ro chứ không viết “và các rủi ro
khác”… như trước kia; liên quan đến rủi ro bảo hiểm, các loại hình bảo hiểm
6
khác nhau thì rủi ro được bảo hiểm không giống nhau. Nhìn chung các loại
bảo hiểm tài sản đều có chung một số rủi ro như cháy, nổ, sét đánh, động đất,
núi lửa; các loại hình bảo hiểm con người là ốm đau, tai nạn; các loại hình bảo
hiểm về trách nhiệm dân sự là do lỗi sơ suất … nhưng các rủi ro được bảo
hiểm phải hội tụ các điều kiện:
Thứ nhất, rủi ro có khả năng gây ra chứ không chắc chắn sẽ xảy ra:
Mua bảo hiểm tức là mong muốn có sự đảm bảo được đền bù khi rủi ro xảy ra
cũng có nghĩa là người tham gia bảo hiểm dự liệu hay lo ngại rủi ro sẽ xảy ra;
nếu không có sự nguy hiểm đe dọa và nguy hiểm thì không cần thiết phải mua
bảo hiểm. Rủi ro được bảo hiểm cũng chỉ có khả năng xảy ra chứ không phải
chắc chắn sẽ xảy ra bởi nếu doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảo hiểm cho mọi
rủi ro sẽ xảy ra thì không thể tồn tại doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp
bảo hiểm xác định chi phỉ bảo hiểm trên cơ sở xác xuất xảy ra rủi ro, bảo
hiểm cho hàng nghìn người để bù đắp cho một người, nếu cả nghìn người bị
thiệt hại thì doanh nghiệp bảo hiểm phá sản.
Thứ hai, rủi ro phải có tính không xác định về thời gian xảy ra và mức
độ thiệt hại do rủi ro gây ra. Các rủi ro mang tính bất ngờ và ngẫu nhiên,
không lường trước được nên cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo
hiểm chỉ có thể đưa ra những nhận định, có thể trong nhiều trường hợp nhờ
những dự báo khoa học nên xác định được rằng sẽ có rủi ro xảy ra, nhưng
chính xác vào thời điểm và mức độ rủi ro tới đâu thì không . Ví dụ: Hợp đồng
bảo hiểm cho một chiếc tàu được ký vào tháng 6, người ta có thể xác định
kéo dài ít nhất một năm, có khi dài tới 25 năm trong bảo hiểm nhân thọ. Thời
hạn của các hợp đồng này tính theo lịch, tính từ ngày kí kết hợp đồng.
Thời hạn của các hợp đồng bảo hiểm con người và trách nhiệm dân sự
do hai bên kí kết hợp đồng lựa chọn. Thời gian của các hợp đồng bảo hiểm tài
sản đặc biệt là xây dựng lắp đặt, hàng hải thì phụ thuộc vào thời gian xây
dựng và hoàn thiện công trình.
Tuy nhiên, không phải mọi rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đều được giải
quyết bồi thường mà còn phải căn cứ vào thời gian có hiệu lực thực tế của
hợp đồng hay thời hạn phát sinh trách nhiệm bảo hiểm.
8
Cũng như các hợp đồng khác, một hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực kể từ
thời điểm giao kết cho đến khi hết hạn được thỏa thuận trong hợp đồng.
Nhưng trong nhiều trường hợp, hợp đồng bảo hiểm có thỏa thuận trách nhiệm
bảo hiểm phát sinh sau một thời gian hợp đồng bảo hiểm được kí kết.
2.6. Về mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm:
Trong tất cả các loại hợp đồng bảo hiểm, pháp luật đều quy định phải ghi
rõ mức phí bảo hiểm và phương thức đóng phí bảo hiểm. Mức phí bảo hiểm
chính xác được xác định số tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho doanh
nghiệp bảo hiểm.
Khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, trách nhiệm bảo hiểm chỉ phát sinh
theo quy định tại Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi, bổ sung năm
2010), theo đó: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi có một trong những
trường hợp sau đây:
1. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng
đủ phí bảo hiểm;
2. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận
giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo
hiểm nợ phí bảo hiểm;
khẩu. Người nhập hàng chính là người được bảo hiểm có thể bán hàng bằng
hình thức chuyển nhượng chúng từ ngày khi hàng hóa đang được vận chuyển
trên biển, nếu không có quy định Hợp đồng bảo hiểm có thể chuyển nhượng
sẽ dẫn đến tình trạng hàng hóa không được bảo hiểm khi người nhập hàng
bán hàng cho người khác.
Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bồi thường; sau khi tổn thất xảy
ra, lợi ích tài chính của người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm là khác về
nội dung mà họ đã thỏa thuận nếu các thỏa thuận đó không được ghi lại bằng
văn bản.
Như vậy, pháp luật quy định hình thức của hợp đồng bảo hiểm là văn
bản nhằm nâng cao độ chính xác thực về những nội dung đã cam kết. Khi có
tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ
pháp lý chắc chắn cho các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình.
10
II. PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÀ
GIẤY CHỨNG NHẬN BẢO HIỂM:
Một hợp đồng bảo hiểm bao gồm ít nhất 3 loại văn bản: Đề nghị Bảo
hiểm, Quy tắc bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm … Nếu thiếu một
trong những loại văn bản này, hợp đồng sẽ mất đi tính đồng bộ và không còn
giá trị pháp lý.
Giấy chứng nhận bảo hiểm là một loại chứng chỉ pháp lý do bên bảo
hiểm cấp cho người được bảo hiểm, xác nhận hợp đồng bảo hiểm đã được
giao kết. Thông thường giấy chứng nhận bảo hiểm được cấp để sử dụng cho
các trường hợp như hợp đồng bảo hiểm có nhiều người tham gia bảo hiểm,
hợp đồng bảo hiểm được giao kết theo chế độ bảo hiểm bắt buộc. Giấy chứng
nhận bảo hiểm có thể là chứng chỉ pháp lý xác nhận người sở hữu giấy chứng
nhận bảo hiểm tham gia một hoặc nhiều chế độ bảo hiểm.
Giấy chứng nhận bảo hiểm là một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm, và
hiểm sẽ được rút gọn và tối giản trong giấy chứng nhận bảo hiểm. Thông
thường nội dung của giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ bao gồm những điều
khoản nói lên đối tượng được bảo hiểm, các chi tiết cần thiết cho việc tính
toán bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm. Qua đó, có thể nhận thấy, những nội
dung chi tiết trong hợp đồng bảo hiểm đã được tối giản trong giấy chứng nhận
bảo hiểm. Bởi vì, giấy chứng nhận bảo hiểm đơn giản chỉ là chứng từ được
doanh nghiệp bảo hiểm cấp để xác nhận hàng hóa đã được mua bảo hiểm.
Ví dụ: Giấy chứng nhận và hợp đồng bảo hiểm Ô tô (nguồn: Trang
web )
Giấy chứng nhận bảo hiểm:
Là bằng chứng ký kết hợp đồng bảo hiểm giữa chủ xe cơ giới và công
ty bảo hiểm. Đây là nội dung tóm tắt thể hiện cam kết của công ty bảo hiểm
với Người được bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm thường có 02 liên (01
cho khách hàng, 01 lưu tại công ty bảo hiểm). Công ty bảo hiểm chỉ cấp giấy
chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe đã đóng phí bảo hiểm (trừ khi có thoả thuận
khác).
12
Hợp đồng bảo hiểm:
Đối với những khách hàng có nhiều xe, ngoài việc cấp Giấy chứng
nhận bảo hiểm cho từng xe, giữa khách hàng và công ty bảo hiểm cần phải
ký hợp đồng bảo hiểm.
Nội dung Hợp đồng bảo hiểm thể hiện sau:
- Thời gian ký hợp đồng;
- Thời hạn bảo hiểm: Ghi rõ ngày bắt đầu và ngày kết thúc;
- Các loại hình bảo hiểm và số tiền bảo hiểm/ mức trách nhiệm;
- Tổng số phí bảo hiểm: ghi bằng số, bằng chữ;
- Các Điều kiện, Điều khoản bảo hiểm, điều khoản sửa đổi bổ sung
- Điều khoản thanh toán phí bảo hiểm, kỳ thanh toán, phương thức
Bộ Tài chính: mof.gov.vn
Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam: avi.org.vn
Cổng thông tin bảo hiểm Việt Nam: webbaohiem.net
/> />
BÀI TẬP HỌC KÌ
MÔN: LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
15
ĐỀ BÀI SỐ 8: Tìm hiểu những nội dung chủ yếu và hình
thức của Hợp đồng bảo hiểm. Phân tích mối liên hệ giữa
hợp đồng bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm.
16