THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐÔH BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Ở nhiều nước phát triển, trong danh mục sảm phẩm của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì cơ cấu các sản phẩm bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp bào giờ cũng là nhiều nhất, sau đó mới đến bảo hiểm
xe cơ giới và bảo hiểm con người. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
được đánh giá là sản phẩm tiềm năng và sẽ là xu hướng chung tại các nền
kinh tế đang phát triển. Ở Việt Nam, bảo hiểm trách nhiệm nói chung và
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói riêng, mặc dù rất tiềm năng
nhưngg vẫn chưa thực sự hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo quy
định của pháp luật Việt Nam, nhóm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty môi giới bảo
hiểm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư, bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho công ty quản lý quỹ, bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp của nhà thầu thiết kế xay dựng công trình, bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp của nhà thầu giám sát thi công công trình xây dựng, bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty kiểm toán, bảo hiểm trách
nhiêmh nghề nghiệp cho doanh nghiệp thẩm định giá . Thực tế, nhận thức
chung của người Việt Nam về các sản phẩm bảo hiểm trách hiệm chưa
cao, họ chưa thấy cần thiết, hoặc cũng có thể do tập quán, thói quen kinh
doanh, không ai sợ trách nhiệm hoặc trách nhiệm là của tập thể… Ngược
lại, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp có vi phạm trách nhiệm khá nặng
nè, nên các doanh nghiệp còn e ngại khi triển khai. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy loại bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp này có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Trong phạm vi bài này,
em đi tìm hiểu về “chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và thực tế
hiện nay, từ đó cho ý kiến và đề xuất giải pháp hoàn thiện chế độ bảo
hiểm này.” Qua đó sẽ đưa ra những ý kiến đề xuất giải pháp hoàn thiện
chế độ bảo hiểm này.

1


nghề y,…
3. Cơ sở xác định trách nhiệm bảo hiểm:
Cơ sở xác định trách nhiệm được bồi thường khi có đơn khiếu kiện
của chủ thể bị thiệt hại đối với thương tật thân thể, thiệt hại vật chất
hoặc thiệt hại về xây dựng phát sinh từ hành động của người được bảo
hiểm với những điều kiện:
- Hành động bất cẩn, lỗi hay sai sót.
- Xảy ra trong khi cung cấp dịch vụ chuyên môn.
- Hành động trong phạm vi ranh giới của nghề chuyên môn nêu
trong giấy yêu cầu bảo hiểm.
- Xuất phát từ một bên thứ ba không có liên quan.
- Thời hạn hồi tố.
4. Ý kiến của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
Hiện nay có rất nhiều sản phẩm BH trách nhiệm khác nhau như:
BH TNNN kiến trúc sư, luật sư, kỹ sư, bác sỹ, BH TNNN môi giới
chứng khoán, BH TNNN kiểm toán, tư vấn tài chính… Đây là những
2


người hành nghề chuyên môn phải thực hành công việc, thao tác nghề
nghiệp chuyên môn với sự cẩn thận và tay nghề đảm bảo yêu cầu
chuyên môn vì nhiều lí do có thể gây thiệt hại cho bên thứ ba từ những
hành động bất cẩn, những sai phạm hoặc thiếu sót sơ xuất trong quá
trình thực hiện dịch vụ nghề nghiệp của mình.
Do đó, BH TNNN sẽ bảo đảm về mặt tài chính cho các cá nhân, tổ
chức hành nghề chuyên môn khắc phục những thiệt hại có thể do bất
cẩn, do lỗi hay sai sót của người chịu trách nhiệm chuyên môn chính
cũng như nhân viên của họ xảy ra trong quá trình thực hiện dịch vụ
nghề nghiệp.
II.

sản phẩm BH TNNN bác sĩ mà một số DNBH đã bán chưa đáp ứng
1
2

http://www.baoviet.com.vn/insurance
http://www.home.abic.com.vn

3


đúng nghề nghiệp đặc thù của ngành y tế; chưa phân định rõ phần nào
là tai nạn nghề nghiệp, phần nào thuộc về đạo đức (sự tắc trách trong
thao tác hành nghề).
Một ví dụ cụ thể trong ngành y để cho thấy việc xác định thế nào là
tai nạn nghề nghiệp và có phải bồi thường từ trách nhiệm nghề nghiệp
hay không: một trường hợp mổ đẻ, sao ca mổ, kiểm tra tất cả các chỉ
số về sức khỏe của sản phụ đều bình thường, nhưng 4-5 ngày sau hậu
phẫu, sản phụ bị băng huyết, dẫn đến tai biến hoặc vết mổ bị nhiễm
trùng dẫn đến bung vết thương, do cơ đại của sản phụ không đáp ứng.
Điều này thuộc về rủi ro trong nghề nghiệp, nhưng để phân định được
cái nào thuộc về tai nạn nghề nghiệp để tri trả bồi thường thì cần phải
có Hội đồng y khoa xác minh. Vì thế, thời gian bị kéo dài, khiến bác sĩ
cảm thấy xa lạ với sản phẩm nghề nghiệp của mình. Bên cạnh đó, về
phía các bệnh viện do chưa nhận thấy sự ưu việt và cần thiết của loại
hình bảo hiểm này nên nhiều bệnh viện không mấy quan tâm đến
chúng. Ngoài ra, việc giải quyết các tai nạn, rủi ro trong nghề nghiệp
của các bác sĩ thường do bệnh viện đứng ra giải quyết, cơ chế quản lí
của nhà nước nên cũng có những trường hợp xử lí nhằm bảo vệ cho
cán bộ bệnh viện chưa được hợp tình, hợp lí3.
Về phía nhà nước: cuối năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị

vấn. Thực hiện chế độ BH TNNN luật sư là một biện pháp quan trọng
nhằm ngăn ngừa và hạn chế bớt những rủi ro trong ngành nghề luật sư
và lành mạnh hóa cạnh tranh trong thị trường dịch vụ pháp lí. Xuất
phát từ bản chất hoạt động luật sư mang tính độc lập nên một luật sư
sẽ phải hoàn toàn chịu trác nhiệm với quyết định độc lập của mình,
cũng như phải bảo mật thông tin, giữ gìn tài sản và tài liệu, hồ sơ của
khách hàng của người thứ ba liên quan mà luật sư có trách nhiệm cần
giữ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định cụ thể về việc luật sư
phải có trách nhiệm tham gia BH TNNN về nghề luật.
• Bảo hiểm trách nhiệm nghề xây dựng.
BH TNNN trong hoạt động xây dựng là loại BH trách nhiệm pháp
lí của người được bảo hiểm phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm
nghề nghiệp. Việc chủ đầu tư và các chủ thể tham gia hoạt đôngj xây
dựng mua BH theo quy định của pháp luật xây dựng sẽ tăng thêm chi
phí nhưng là chi phí cần thiết đối với ngành nghề đòi hỏi chuyên môn
cao nhưng rủi ro về bất cẩn vẫn luôn có thể xảy ra này. Các quy định
về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng tại các văn bản quy định về bảo
hiểm trong hoạt động xây dựng tại các văn bản quy phạm pháp luật.
Việc quy định các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng phải thực
hiện mua bảo hiểm trong hoạt động xây dựng được quy định rõ ràng
tròn luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn luật xây dựng, cụ thể:
đối với các nhà thầu tư vấn: điểm đ Khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 2
Điều 58 và điểm đ Khoản 2 Điều 90 Luật xây dựng quy định “Nhà
thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình và nhà
thầu giám sát thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ mua BH
TNNN”. Đối với nhà thầu thi công xây dựng công trình: điểm h
Khoản 2 Điều 76 Luật xây dựng quy định: “Nhà thầu thi công xây
dựng công trình có nghĩa vụ mua loại BH theo quy định của pháp luật
bảo hiểm”. Cũng tại điểm b khoản 1 Điều 45 Nghị định số 48/2010
NĐ- CP của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng đã quy

người được bảo hiểm trong một thời hạn bảo hiểm, bao gồm cả phí
tổn và chi phí bào chữa do người được bảo hiểm chấp thuận mà DN
bảo hiểm có thể phải trẩ. Trường hợp khiếu nại hàng loạt: Hai hay
nhiều khiếu nại phát sinh từ một hành vi bất cẩn (ví dụ từ cùng một lỗi
khảo sát, tính toán thiết kế hoặc giám sát thi công xây dựng). Bất kể
số người bị thiệt hại , tất cả các khiếu nại này được coi là một khiếu
nại và ngày xảy ra tỏn thất là ngày mà khiếu nại đầu tiên trong một
loạt khiếu nại được phát ra bằng văn bản chống lại người được bảo
hiểm.
Các nhà thầu tư vấn mua bảo hiểm có đơn vị mình theo 1 trong 2
dạng: Mua cho toàn bộ hoạt động tư vấn có hợp đồng trong năm tài
chính hay mua theo từng hoạt động riêng lẻ. Mức mua và mức chi trả
bảo hiểm tương ứng không quy định mức sàn, nên thường là mua giá
trị thấp. Có rất nhiều DNBH do vậyc ũng không cần thuê chuyên gia
để phải xem xét năng lực tư vấn, giải pháp thiết kế, mức độ an toàn…
để có cách hành xử (bán bảo hiểm)phù hợp như thông lệ các nước.
Đặc biệt, các hoạt động tư vấn cho những công trình riêng lẻ của dân
cư trong đô thị chen hầu như không mua bảo hiểm. Kết quả là khi xảy
ra sự cố, do sơ xuất nghề nghiệp, nhà thầu tư vấn không đủ khả năng
tài chính để khắc phục, gây thiệt hại cho xã hội và phức tạp cho việc
quản lí các hoạt động xây dựng. Điều này không những gây thiệt hại
về kinh phí mà còn ảnh hưởng tới quá trình thi công, thực hiện công
trình xây dựng.
Trong thực tế, các nhà thầu thi công xây dựng thường không mua
bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Nếu có, đối với công trình lớn
là mua bảo hiểm máy móc thiết bị sử dụng và trách nhiệm bên thứ ba
(và cũng chỉ mua tượng trưng). Việc nhà thầu thi công xây dựng mua
đày đủ các loại bảo hiểm theo quy định thường chỉ tiến hành với
6


Đ-CP đã quy định cụ thể việc xử lí CTCK trong việc mua bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp cho nhân viên. Theo đó, từ ngày 20/9/2010,
CTCK sẽ bị phạt từ 50 – 70 triệu đông nếu không mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp và không trích lập đẩy đủ quỹ bảo vệ nhà đầu tư.
Với yêu cầu CTCK phải mua BH TNNN cho nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán tại công ty (bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba), công ty
bảo hiểm sẽ là nơi chi trả những khoản thiệt hại do sơ xuất của CTCK
và nhân viên CTCK tuân thủ quy định này, cho dù hoạt động của
CTCK tiềm ẩn nhiều rủi ro như: nhập lệnh sai, tư vấn cho khách hàng
không chính xác, đưa ra giá bảo lãnh phát hành không phù hợp dẫn
đến đợt phát hành không thành công, không chuyển được lệnh vì
đường truyền trục trặc… những nghiệp vụ này đều thuộc diện CTCK
phải mua bảo hiểm.

7


Nguyên nhân từ chối mua BH TNNN không phải chỉ từ bản thân
CTCK và CTKT, mà từ cả phía nhà cung cấp. Phần lớn các sản phẩm
bảo hiểm, nhất là với những sản phẩm đặc thù như bảo hiểm trong lĩnh
vực kiểm toán và chứng khoán, các daonh nghiệp thường mang từ
nước ngoài vào. Trong khi đó, CTKT, TTCK Việt Nam vẫn sơ
khaineen các sản phẩm này khó áp dụng. Các chuyên gia tính phí
thường là ở nước ngoài và đánh giá thị trường Việt Nam có độ rủi ro
cao, nên đưa ra mức phí bảo hiểm cao, không phù hợp với quy mô và
tài chính của CTKT, CTCK trong nước.
2. Những ưu điểm của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
- Trong một vài năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trở
nên sôi động với sự góp mặt của ngày càng nhiều các công ty bảo
hiểm, trong đó có các công ty liên doanh với nước ngoài và công ty

8


3. Những hạn chế của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
BH TNNN có thể tạo ra sự thiếu trách nhiệm trong công việc của
người được bảo hiểm đối với bên thứ ba. Điều này cũng xuất phát từ
chính đặc điểm quan trong nhất của hợp đồng BH TNNN, đó là
DNBH sẽ thay thế người được bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường
đối với bên thứ ba. Với quy định đảm bảo quyền lợi cho người được
bảo hiểm như vậy thì trên thực tế có thể bị “lạm dụng” để thực hiện
hành vi sai phạm của mình đối với bên thứ b. việc chứng minh lỗi là
cố ý hay sơ xuất trong quá trình thực hiện chuyên môn nghiệp vụ của
người được bảo hiểm đối với bên thứ ba không phải lúc nảo cũng dễ
dàng. Do đó, đây cũng được coi là một hạn chế của BH TNNN.
Thức tế, nhận thức chung của người Việt Nam về các sản phẩm bảo
hiểm trách nhiệm chưa cao, họ chưa thấy cần thiết, hoặc cũng có thể
do tập quán, thói quen kinh doanh, không ai sợ trách nhiệm hoặc trách
nhiệm là của tập thể… Ngược lại, BH TNNN có phạm vi trách nhiệm
khá nặng nề, nên các doanh nghiệp còn e ngại khi triển khai. Mặt khác
lĩnh vực này cũng tiềm ẩn rủi ro liên quan đến trục lợi bảo hiểm, do
hành lang pháp lí về lĩnh vực này chưa thực sự chặt chẽ. Trong khi đó,
cách tính phí bảo hiểm chưa thống nhất, cụ thể. Vì thế, thị trường này
vẫn còn quá nhỏ, dẫn đến cung từ các DNBH trong nước còn hạn chế.
III. Ý KIẾN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ
ĐỘ BẢO HIỂM NÀY:
1. Ý kiến về chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
BH trách nhiệm nói chung và BH TNNN nói riêng, mặc dù rất tiềm
năng nhưng vẫn chưa thực sự hấp dẫn các DNBH. Theo quy định của
pháp luật Việt nam, nhóm BH TNNN bao gồm: BH TNNN cho công
ty môi giới bảo hiểm, BH TNNN cho luật sự, BH TNNN cho công ty

bảo hiểm quốc tế.
- Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm trông qua hệ
thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và
kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính
vào hoạt động của các doanh nghiệp.
- Việc thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nắm
thế chủ động, trong khi vẫn tạo môi trường tự do kinh doanh là rất
khó khăn, đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệp về hoạt động bảo
hiểm, cũng nhưng sự linh hoạt trong việc áp dụng các cong cụ quản
lý Nhà nước.
2.2. Cần có quy định cụ thể về mức đóng phí bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp:
- Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu làm giảm phí nhằm xây dựng
một mức phí phù hợp đáp ứng được khả năng của kahachs hàng mà
vẫn bảo đảm quyền lợi của người bảo hiểm. Việc lựa chọn một
mức phí thấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với loại hình
bảo hiểm này hơn.
- Tuy nhiên để bên mua bảo hiểm tự giác mua BH trách nhiệm nghề
nghiệp cần phải có sự phối hợp giữa Nhà nước và DNBH. Nhà
nước cần có chế tài cụ thể hơn, phía DNBH cũng cần đưa ra mức
phí hợp lí với cách tính dễ hiểu. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác
thông tin tuyên truyền một cách sâu rộng, nhằm nâng cao nhận
thức của bên mua bảo hiểm về tầm quan trọng của bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp khi có rủi ro.
2.3. Cần có các biện pháp đánh giá rủi ro:
- Để phòng tránh có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực và “rủi ro” cho
mình, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải có một đội ngũ nhân sự
chuyên nghiệp, không những thành thục, giảo chuyên môn mà còn
phải có đạo đức nghề nghiệp; quan tâm đầu tư phát triển hệ thóng
công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý

hại. Tuy nhiên, theo quy định của Luật công chứng và các văn bản
hướng dẫn thi hành hiện nay, vấn đề còn vướng mắc là việc thực hiện
BH TNNN đối với công chứng viên.
Hiện nay chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn về thời gian mua
BH TNNN cho côn chứng viên. Như vậy, tổ chức hành nghề công
chứng có thể thực hiện việc mua BH TNNN cho công chứng viên
trước khi đăng đăng ký thành lập hoặc có thể thực hiện công việc đó
sau khi văn phòng công chứng được thành lập hoặc có thể thực hiện
công việc đó sau khi Văn phòng công chứng được thành lập, đi vào
hoạt động. Hơn nữa, Luật chưa quy định giới hạn về thời gian bắt
buộc phải tiến hàng nghĩa vụ mua bảo hiểm nghề nghiệp cho công
chứng viên nên rất khó khăn cho khâu quản lý, kiểm tra của các cơ
quan có thẩm quyền.
Trên thực tế, việc mua BH TNNN cho công chứng viên đan hành
nghề tại các tổ chức hành nghề công chứng rất cần thiết. Bởi lẽ, công
chứng viên không bảo đảm được nguồn vật chất để thực hiện nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại về vật chất có thể xảy ra do lỗi của mình thì rất
khó đảm bảo được quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức có liên quan
11


khii yêu cầu thực hiện việc công chứng. Mặt khác, Luật Công chứng
lại không quy định việc ký quỹ hoặc một hình thức khác về vật chất
đối với tổ chức hành nghề công chứng trước khi đăng kí hoạt động, vì
vậy đã gây vướng mắc cho cơ quan quản lý Nhà nước khi đưa ra điều
kiện vật chất bắt buộc đối với các tổ chức này khi chịu trách nhiệm bồi
thường vật chất do lỗi của công chứng viên tổ chức mình gây ra.
Tại khoản 7 Điều 32 Luật công chứng quy định: “Văn phòng công
chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công
chứng viên của tổ chức mình”. Theo đó, chỉ có Văn phòng công

điều kiện cho thu nhập của người dân được cải thiện từ đó thúc đẩy
nhu cầu bảo hiểm. Môi trường pháp lí cho hoạt động kinh doanh bảo
hiểm cũng ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với chuẩn mực quốc
tế, tạo ra hành lang vững chắc cho các doanh nghiệp tự do hoạt động
theo khuôn khổ pháp luật; đặc biệt thị trường tài chính Việt Nam phát
triển không ngừng với sự tham gia của các tổ chức tài chính – tín dụng
trong và ngoài nước đã tác động không nhỏ tới thị trường bảo hiểm
nói riêng. Ở nhiều nước phát triển, trong danh mục sản phẩm của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì cơ cấu các sản phẩm bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp bao giờ cũng là nhiều nhất, sau đó mới đến
bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người. Bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp được đánh giá là sản phẩm tiềm năng và sẽ là xu hướng
chung tại các nên kinh tế đang phát triển. Chính vì thế, việc xây dựng
và hoàn thiện chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một trong
những tiêu chí đánh giá sự phát triển ngành bảo hiểm ở nước ta. Bên
cạnh đó, việc phát triển và hoàn thiện bảo hiểm trách nhiệm cao trong
ngành nghề chuyên môn, đồng thời cũng nhằm giảm bớt sự rủi ro đối
với người tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status