TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
------oOo------
TIỂU LUẬN NHÓM
MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài: GIÁO
DỤC VÀ NẠN “CHẢY MÁU CHẤT
XÁM”- LIỆN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Như Liêm
Lớp: K29QTR-ĐN
SVTH: Nhóm 5:
Nguyễn Thị Thủy
Nguyễn Văn Hải
Ngô Thị Như Ngọc
Nguyễn Thị Vì
Trương Ngọc Tân
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VÀ NẠN ....................4
“CHẢY MÁU CHẤT XÁM”...........................................................................................4
1.1. Khái quát về giáo dục................................................................................................4
1.1.1 Định nghĩa..............................................................................................................................4
1.1.2. Vai trò của giáo dục đối với nền kinh tế....................................................................................4
1.2. Nạn “Chảy máu chất xám”...........................................................................................................5
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
3.3. Nguyên nhân => Lương thấp không giữ chân được nhân tài....................................................43
3.4. Giải pháp....................................................................................................................................44
KẾT LUẬN.....................................................................................................................45
HVTH: Nhóm 5
Trang 2
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo nước ta có bước phát triển mới, chúng ta
đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, trình độ dân trí
được nâng lên, góp phần tích cực đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên nền giáo dục nước ta còn phải đối
mặt với nhiều khó khăn yếu kém nhất là chất lượng và khâu quản lý giáo dục và đào
tạo, việc đào tạo nguồn nhân lực của hệ thống giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu của đổi
mới kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI.
Song song đó, một vấn đề đã, đang và sẽ còn xảy ra luôn là vấn đề nan giải cho
Chính phủ ta, đó là nạn “chảy máu chất xám” của tầng lớp trí thức. Trong nền kinh tế
đang đứng trước nhiều thách thức như hiện nay, người có thể dẫn dắt nước ta đi về
phía trước không ai khác chính là các chuyên gia có năng lực, có hiểu biết, có tài năng.
Nhưng những nguyên nhân làm cho nền kinh tế yếu kém phát triển cũng chính là
nguyên nhân làm cho tư tưởng chạy sang các nước phát triển để có cơ hội thăng tiến
của người Việt Nam- nhất là lớp trí thức trẻ ngày càng mạnh mẽ. Vậy nạn “chảy máu
chất xám” là gì , nó có ảnh hưởng đến nền kinh tế vốn còn nhiều yếu kém của nước ta
như thế nào?
Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên nhóm chúng tôi chọn đề tài
dục có tính chất bắt buộc cho đến một độ tuổi nhất định, việc đến trường thường
không bắt buộc; một số ít các bậc cha mẹ chọn cho con cái học ở nhà, học trực tuyến,
hay những hình thức tương tự.
1.1.2. Vai trò của giáo dục đối với nền kinh tế
Sự phát triển của xã hội được đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế. Mọi xã hội
được xây dựng trên nền tảng của các nền kinh tế và được tạo ra bởi các yếu tố kinh tế.
Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển về kinh tế cũng cần có rất
nhiều nguồn lực như nguồn lực nhân lực, nguồn lực nguồn vốn, nguồn lực tài
nguyên…, trong đó nguồn lực nhân lực (người lao động) là quan trọng nhất. Bởi vì,
muốn đưa xã hội càng phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần
thiết của người lao động mới. Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có
giáo dục. Bởi vì giáo dục thông qua hệ thống giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình
thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao, một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất;
mặt khác, để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và
HVTH: Nhóm 5
Trang 4
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, hiện đại hóa,
công nghiệp hóa…). Chất lượng nguồn nhân lực được đặc trưng bởi trình độ được đào
tạo (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực công nghiệp…). Tât cả đều do giáo
dục quyết định. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là tạo động lực cho
sự phát triển kinh tế.
Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần thiết cho xã
hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Thông qua các các quá trình giáo dục và dạy
dục, 28,5% nhân tài công tác trong lĩnh vực công nghệ kỹ thuật và nghiên cứu khoa
học, đây là đội ngũ trí thức mà nước Anh đang rất cần.
- Nhật Bản: Vốn là một nước công nghiệp phát triển, nhưng gần đây họ cũng
đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhân tài ngay tại quê nhà. Ước tính có 2.500
kỹ sư Nhật trong ngành kỹ thuật công nghiệp đang làm việc tại Đài Loan.
- Nga: Vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước,
có rất nhiều nhà khoa học Nga đã bỏ nghề ra nước ngoài làm việc. Tình trạng di cư
của các nhà khoa học Nga vẫn tiếp tục diễn ra ở đầu thế kỷ 21. Nước Nga là nơi đào
tạo các chuyên gia khoa học nổi tiếng, nhiều nước phương Tây đã giành nhiều ưu ái
cho các nhà khoa học Nga. Các nhà vật lý, toán học và sinh học của Nga có thể tìm
việc tại các trường đại học Mỹ mà không gặp khó khăn gì lớn. Tình trạng "chảy máu
chất xám" khiến Nga thiệt hại hơn 30 tỉ USD/năm.
1.2.3. Nguyên nhân
Chảy máu chất xám vẫn luôn là vấn đề nhứt nhối đối với các quốc gia đang phát
triển, khi mà hàng loạt nhân tài và những nhân công được rèn luyện có kỹ năng cao ở
HVTH: Nhóm 5
Trang 7
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
những nước nghèo đua nhau đi tìm “ miền đất hứa” ở những cường quốc phát triển
hơn.
Sự dịch chuyển ồ ạt với số lượng lớn nhân công được đào luyện có kỹ năng từ
nước này sang nước khác, từ Châu lục này sang Châu lục khác bắt nguồn từ các
nguyên nhân sau:
a) Lương cao, chính sách đãi ngộ tốt
Do lương bổng và chính sách đãi ngộ thỏa đáng mà nhân viên giỏi thường
chuyển đến công ty khác có mức lương cao hơn để làm việc, du học sinh thường
cãi được những tiến bộ về khoa học kỹ thuật của thế giới mình đang sống. Thư viện,
các phòng thí nghiệm, các hệ thống máy vi tính và các phương tiện truyền thông khác
như các trang web đủ lọai đã giúp cho du học sinh dễ dàng trong việc học tập cũng
như làm việc. Về nước những phương tiện tối tân, hiện đại như thế làm sao có được và
du học sinh trở về có đất dụng võ để mang những điều mình học hỏi về phát triển đất
nước hay không.
c) Môi trường học tập và làm việc tốt
Môi trường học tập và làm việc ở các nước phát triển thường tốt hơn, tạo điều
kiện cho các nhân tài có cơ hội thăng tiến, áp dụng những gì mình học vào thực tế. Ở
các nước đó, bản thân được có điều kiện học tập, nâng cao năng lực chuyên môn từ đó
có khả năng thích ứng tốt hơn.
1.2.4. Tác động của chảy máu chất xám ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội.
Chảy máu chất xám vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực.
Tác động tích cực.
- Người dân làm việc và thành công ở hải ngoại thường gửi những số tiền rất
lớn về cho thân nhân của mình ở quê nhà, giúp cho quốc gia có một số vốn lớn để đầu
tư và chi dùng.
- Người dân sống ở hải ngoại cũng là những nhịp cầu cho các thương vụ và đầu
tư giữa người ngoại quốc và bản xứ, họ cũng là thành phần đầu tư và giúp cho sự học
hỏi ở trong nước hay chuyên chở các kiến thức từ hải ngoại.
Tác động tiêu cực.
+/ Đối với Quốc gia:
- Mất nhân tài, mất một nguồn vốn nhân lực phục vụ cho sự phát triển đất nước.
Việc một số tri thức giỏi rời khỏi địa phương đi làm ở nơi khác là một thiệt thòi cho
địa phương đó, đồng thời gây tâm lý bất an cho các giới tri thức khác – những người
đóng góp lớn nhất cho sự tiến hóa của nhân loại.
- Gia tăng khoảng cách phát triển, tạo sự chênh lệch giữa các nước giàu và các
quốc gia nghèo, đang phát triển do chất xám phân bổ không đều, thiếu hợp lý giữa các
nhành, các khu vực.
- Mức độ thua kém của quốc gia về mọi phương diện phát triển (xã hội, kỹ thuật,
2010-2011
TRƯỜNG/SCHOOL
27.900
28.114
28.413
28.593
28.803
Tiểu học/Primary
14.939
15.051
15.172
15.242
15.337
Công lập/Public
14.844
Công lập/Public
712
669
613
Ngoài công lập/Non-Public
HVTH: Nhóm 5
5
94
1,08
Phòng học 3 ca/Triple shifts
2011-2012
94
1,12
1,12
601
554
9.740
9.868
10.041
10.127
Ngoài công lập/Non-Public
28
34
19
16
10.243
10.223
20
Phòng học 3 ca/Triple shifts
39
29
14
75
69
101
111
74
Trung học phổ thông/Upper secondary
2.167
2.192
2.242
2.288
2.350
Công lập/Public
1.591
1.735
1.852
15.212.028
15.022.759
14.851.820
14.782.561
Nữ/Female
7.620.022
7.422.961
7.391.451
7.225.186
7.301.981
Dân tộc/Ethnic minorities
2.278.742
2.345.070
2.286.053
2.275.771
thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao hiện đại hoá đất nước? Việt Nam muốn
phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng.
- Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh mà không chữa trị, đua
nhau nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm
nào thi cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặc lang thang trên đường phố,
ma túy trong học đường, ý thức công dân rất kém. Càng nói càng thấy nguy cơ, nhưng
không thấy xã hội thật sự quản ngại vì bao nhiêu năm rồi chưa thấy biện pháp giải
quyết, chỉ nghe được những hứa hẹn cải cách. Giáo dục Việt Nam muốn phát triển
phải giải phẫu đúng bệnh. Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao
chữa trị? Thực tế, các cơ quan chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước
nhà. Trong các cuộc hội thảo, hầu như mỗi vấn đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái
đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nó không được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế.
Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phải của riêng ngành giáo dục Việt Nam.
2.1.1. Khó khăn
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có
những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền
giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
- Giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục;
chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng;
so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là
quốc sách hàng đầu.
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới,
chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa
phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức,
lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề”
HVTH: Nhóm 5
thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới
chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những
người lãnh đạo - quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách
nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản
chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
HVTH: Nhóm 5
Trang 13
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
2.1.2. Nguyên nhân
(1). Về phía người dạy
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng
cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học
tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang nặng lý thuyết, thiếu cập nhật
thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp. Mặt khác, việc sử dụng các
phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết
lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên
lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên
cứu thực tế. Đời sống của người Thầy còn nhiều khó khăn: hiện nay giáo viên đang
được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống
bằng lương, các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều. Đây là
vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo. Nếu
chúng ta thử tính một gia đình nhà giáo, hai người dạy học, có hai con đúng tiêu
chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họ
nuôi con đi học tới lớp mấy?
(2). Về phía người học
Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức
toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức,
nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học sinh.
Ngành giáo dục chậm đổi mới để theo kịp nhu cầu đất nước : Sự phát triển kinh
tế của đất nước tạo điều kiện cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam phát
triển, hiện nay chúng ta có một xã hội học tập, người người đi học, gần 30 triệu học
sinh các cấp là một con số khổng lồ, qua các kỳ thi đại học ta thấy có sự chen
chúc nhau quá mức, các trung tâm luyện thi, các thầy giáo dạy thêm, học thêm, học
sinh cố học để tìm kiếm một trường học thích ứng. Khi một đất nước có tốc độ phát
triển khá cao và đều đặn như hiện nay, các nhà quản lý giáo dục phải có biện pháp
đón đường, dự kiến những nhu cầu của ngành, của nhân dân, của học sinh để có những
biện pháp thích hợp.
-
Cơ chế quản lý đối với ngành giáo dục chưa phù hợp: Hiện nay ngành giáo
dục các địa phương chịu sự tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn là chịu tác
động hàng dọc của Bộ giáo dục – đào tạo. Các trường phổ thông dạy học, thi cử đúng
như quy chế của Bộ giáo dục – đào tạo, nhưng nếu học sinh thi rớt nhiều, lưu ban
nhiều thì địa phương sẽ có ý kiến, thậm chí có những ý kiến chỉ đạo, “bệnh thành
tích” có cơ hội để phát triển trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay.
2.1.3. Đánh giá – nhận xét
Việt Nam trên trường quốc tế
Có lẽ chưa bao giờ đề tài giáo dục được đem ra bàn luận nhiều như thời điểm
hiện tại. Nguyên nhân trực tiếp có lẽ là từ giải thưởng toán học Fields của giáo sư Ngô
Bảo Châu, một “hiện tượng” mới đang chiếm đa số trên các mặt báo của Việt Nam và
cả quốc tế. Từ chuyện gốc gác đến giá trị nền tảng mà anh thừa hưởng, từ chuyện
riêng, đời tư đến tầm ảnh hưởng chính trị quốc gia… vẫn đang là những đề tài tranh
HVTH: Nhóm 5
các tiêu chuẩn xây dựng cơ sở vật chất.
Mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50% được đáp ứng việc
làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề. Dĩ nhiên chúng ta chưa nói đến chất lượng
và thực tế chuyên môn của tầng lớp mà người ta gọi là tri thức, là bộ mặt của đất nước.
Trong một cuộc sát hạch, đánh giá của Intel để tuyển dụng 2000 sinh viên công
nghệ thông tin, chỉ có 90 ứng sinh, nghĩa là 5% vượt qua kiểm tra, và trong số đó chỉ
HVTH: Nhóm 5
Trang 16
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
có 40 người đủ khả năng tiếng anh theo yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận, đây là kết
quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.
Trong 10 năm từ 1996 đến 2005 chỉ có 3456 công trình nghiên cứu khoa học trên
các tạp san quốc tế. Nếu đem so sánh với con số giáo sư và phó giáo sư thì trung bình
mỗi vị chỉ có 0,58 bài báo cáo trong vòng 10 năm. Không những ít so với quốc tế và
so với các nước trong khu vực, Việt Nam cũng đứng vào loại bét nhất: chỉ bằng 1/5 so
với Thái lan; 1/3Malaysia; 1/14 Singapo; thậm chí thấp hơn cả Indonesia và Philippin.
Chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở Việt Nam thấp hơn một bậc so với nước
ngoài. Theo một giảng trình viên của cuộc hội thảo về toán lý hóa : “ trình độ của sinh
viên tốt nghiệp ở Việt Nam chỉ bằng chương trình đại cương của đại học nước ngoài,
cao học bằng đại học và tiến sĩ bằng cao học”.
Việt Nam là nước có tỷ lệ “giả tri thức, tiến sĩ giấy, giáo sư dỏm” nhiều đến mức
không dám công khai điều tra vì sợ “không có người làm việc”. Việc lấy bằng cấp
không biết dễ hay khó, nhưng có lẽ Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ý định
đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ ở thủ đô Hà Nội.
Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thực sự khủng hoảng, mà nói như các chuyên
gia của đại học Harvard thì nó đã đến mức trầm trọng. Người ta vẫn thường mượn đến
với công việc của mình. Điều này khiến cho kỹ năng mềm của sinh viên hiện nay còn
yếu.
Hai năm trở lại đây, nhiều cơ sở đào tạo đã được mở ra với mục đích nâng cao kỹ
năng mềm cho các bạn trẻ. Tuy nhiên, các cơ sở này chỉ đào tạo được một lượng nhỏ
sinh viên mỗi năm. Chính vì vậy mà trong hàng ngàn sinh viên ra trường mỗi năm chỉ
có số ít người đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Không hiếm trường hợp sinh viên đạt kết quả học tập rất tốt nhưng khi phỏng
vấn xin việc gặp nhiều khó khăn. Kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt vấn đề, kỹ
năng team work, giao tiếp tiếng Anh… vẫn là điểm yếu của các bạn. Mặc dù đây được
coi là những kỹ năng tối cần thiết khi phỏng vấn xin việc.
Những trường hợp trên đã chỉ ra rằng, kiến thức thực tế và vốn sống cũng là hành
trang quan trọng để sinh viên tự tin đi làm sau này.
Một vấn đề quan trọng chưa được quan tâm ở Việt Nam là xây dựng một xã hội
học tập, làm sao để người dân có thể học tập suốt đời để phục vụ công việc cũng như
thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Ở nước ta, gần như chưa có xã hội học tập như
vậy. Ta có hệ thống giáo dục thường xuyên bên cạnh hệ thống giáo dục ban đầu nhưng
thực ra đang bị lệch. Những người tham gia giáo dục thường xuyên học lớp riêng,
chương trình cắt gọn và đi học chủ yếu nhằm hoàn thiện bằng cấp, đáp ứng yêu cầu
của vị trí công tác. Còn xã hội học tập thực sự là xã hội mà người dân luôn luôn có nhu
cầu đi học, đi học để đáp ứng công việc là chính chứ không phải bằng cấp, xã hội như
thế mới phát triển lành mạnh được.
Ngoài ra, để góp phần phát triển nền giáo dục toàn diện, chúng ta cần phải dành
vị trí xứng đáng cho công nghệ thông tin. Trong chương trình, đây phải là môn học
HVTH: Nhóm 5
Trang 18
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
bản toàn diện nền giáo dục, với sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Nhà
HVTH: Nhóm 5
Trang 19
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
nước, với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, quản lý nhà nước, quản lý
doanh nghiệp và những người am hiểu sâu sắc về giáo dục…, trong đó ngành giáo dục
là nòng cốt.
Vấn đề quan trọng đầu tiên là phải tổ chức nghiên cứu xây dựng cho được một
Đề án tổng thể về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục cho giai đoạn 10 năm 2011
- 2020. Đề án phải nêu lên được quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, khung nội dung và các
nhiệm vụ chủ yếu, lộ trình nghiên cứu và triển khai thực hiện, nguồn lực để thực
hiện… Sau khi Đề án được phê duyệt mới chỉ đạo triển khai cụ thể các nội dung,
nhiệm vụ; điều này không có nghĩa là không thực hiện ngay các sửa đổi, điều chỉnh cụ
thể, cần thiết khi đã có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn. Vì đây là nhiệm vụ quan trọng,
rộng lớn và lâu dài nên cần có Bộ phận thường trực chuyên trách gồm những người
am hiểu sâu lý luận khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục, rất tâm huyết, giúp việc
Ban Chỉ đạo Quốc gia. Việc thành lập và sự chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Ban
Chỉ đạo Quốc gia về đổi mới giáo dục là một trong những yếu tố quyết định đảm bảo
cho sự nghiệp này thành công.
Ý kiến, đánh giá của chuyên gia
Giáo dục Đại học Việt Nam đã được nhà nước quan tâm đặc biệt trong những
năm gần đây, ngân hàng thế giới đã đầu tư cho giáo dục Việt Nam qua nhiều dự án lên
đến hàng trăm triệu đô la nhưng tình hình Giáo dục Đại học Việt Nam hiện nay còn
nhiều bất cập, 3 trong số những bất cập đó liên quan đến: Mục tiêu, chương trình và
phương pháp. Sau đây là một số đánh giá nhận xét của các lãnh đạo giáo dục.
đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục
đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dục - Đào tạo,
các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu
cho mình.
2.1.4. Giải pháp
Mục tiêu giáo dục của ta hiện nay là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài” . Theo công bố của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)
năm 1993 về chỉ tiêu quy mô phát triển giáo dục thì so với quốc tế ta đều thấp hơn về
chỉ tiêu phát triển giáo dục ở các bậc học. Về giáo dục phổ thông, ta chưa đạt mức
trung bình, về cao đẳng đại học ta còn thấp hơn nước phát triển chậm. Vì vậy, muốn
thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra chúng ta cần tích cực thực hiện các biện pháp
để nâng cao chất lượng giáo dục:
(1)- Tăng cường nguồn lực cho giáo dục đào tạo: Trên thế giới và trong
khu vực hiện nay tỷ trọng ngân sách giành cho giáo dục – đào tạo rất cao, chúng ta do
điều kiện đất nước còn nghèo, nguồn cung cấp ngân sách cho giáo dục - đào tạo còn
hạn chế, đang phấn đấu để đạt con số 15 % và sau đó cần phải tăng hơn nữa. Ngoài
ngân sách nhà nước hiện nay chúng ta đang huy động các nguồn lực ngoài ngân sách,
xã hội hoá giáo dục để tăng nguồn lực cho giáo dục đào tạo. Hiện nay có nhiều nước
HVTH: Nhóm 5
Trang 21
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
trên thế giới coi giáo dục là một ngành kinh doanh, kinh doanh công nghệ dạy học,
chúng ta nên tạo điều kiện kêu gọi họ tham gia xây dựng cơ sở vật chất và nội
dung chương trình giáo dục cho ta. Ngoài ra ta nên có chủ trương cho các trường
chuyên nghiệp, dạy nghề lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học đúng với ngành nghề
đào tạo.
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
cho thấy chừng nào chúng ta chưa cải cách hệ thống thang bảng lương ngành giáo dục,
chừng đó chúng ta vẫn không thể có được đầu vào tốt cho ngành sư phạm.
Xét về mặt kinh tế, chi phí chúng ta đánh mất trong tương lai cho vấn đề này sẽ
còn cao hơn rất nhiều so với việc tăng lương cho giáo viên. Vì một giáo viên kém ảnh
hưởng đến hàng trăm người và thậm chí ảnh hưởng đến cả nhiều thế hệ. Như vậy, phải
tăng lương thì ngành giáo dục mới có cơ hội chiêu mộ được người tài.
(2)- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục: Từng bước đổi
mới nội dung sách giáo khoa, loại bỏ những kiến thức không thiết thực, bổ sung
những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật những tiến
bộ khoa học, công nghệ, tăng nội dung công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ
thuật tổng hợp và năng lực thực hành. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư
tưởng Hồ Chí Minh, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là
tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam. Tổ chức cho sinh viên, học
sinh tham gia công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao phù hợp với
yêu cầu giáo dục toàn diện.
Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt
quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng
làm việc theo nhóm của người học. Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác
nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo
của mình. Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập và áp
dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào
tạo theo tín chỉ.
(3)- Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, đưa Tin học vào quản lý
và đổi mới phương pháp: Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị cho các trường
phổ thông, trường dạy nghề, trường đại học. Tích cực đưa Tin học vào giảng dạy, thay
đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Hiện nay trên thế giới đang thực hiện
những phương tiện dạy học hiện đại như: học với máy tính, với đèn chiếu overhead,
với giáo án điện tử… Chúng ta từng bước tiếp cận, nhân rộng, từng bước đưa vào sử