I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG.
1. Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.
1.1. Khái niệm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài
người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo
định nghĩa chung nhất được hiểu là việc một người thỏa thuận để cho người
khác được quyền sử dụng tài sản của mình (vật cùng loại) trong một thời gian
nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với
người đó.
Theo quy định của pháp luật, cho vay được định nghĩa tại khoản 16 Điều 4
Luật các tổ chức tín dụng 2010 “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên
cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào
mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Cho vay theo quy định của pháp luật chính là một trong những hình thức
cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng hiện nay, và là một hoạt động mang tính
chất nghề nghiệp kinh doanh các tổ chức tín dụng. Khi thực hiện hoạt động cấp
tín dụng cho khách hàng của mình, các tổ chức tín dụng sẽ giao cho khách hàng
một khoản tiền nhất định hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền nhất
định để sử dụng theo hợp đồng tín dụng đã được kí kết giữa các bên để khách
hàng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên
tắc là hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
* Đặc điểm hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng:
- Thứ nhất, trong hoạt động cho vay thì luôn luôn xuất hiện hai bên chủ thể
tham gia vào hoạt động cho vay đó là chủ thể đi vay và chủ thể cho vay. Trong
quan hệ cho vay này thì chủ thể cho vay chính là các tổ chức tín dụng được phép
cấp tín dụng theo quy định của pháp luật, và chủ thể đi vay là các khách hàng có
nhu cầu vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
- Thứ hai, hình thức pháp lí của việc cho vay chính là hợp đồng tín dụng,
ghi nhận sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn
- Cho vay dài hạn: Đây là hình thức cho vay mà trong đó thời hạn sử dụng
vốn do các bên thỏa thuận với thời hạn trên một năm trở lên, hình thức vay vốn
này thường để đáp ứng nhu cầu trong thời gian dài.
* Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay.
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức vay mà nghĩa vụ hoàn trả
khoản tiền vay do tổ chức tín dụng cấp cho bên vay được bảo đảm bằng một tài
sản nhất định của bên vay hoặc của người thứ ba. Trong trường hợp này thì giữa
khách hàng vay vốn (hoặc người thứ ba) và tổ chức tín dụng sẽ phải kí kết cả 2
loại hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay, các bên có thể thỏa thuận
thành lập thành một hợp đồng chung.
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: đây là hình thức vay trong đó
nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền vay do tổ chức tín dụng cấp cho bên vay không
được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ 3. Các bên sẽ chỉ kí
kết duy nhất một hợp đồng đó là hợp đồng tín dụng.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
- Cho vay kinh doanh: đây là hình thức cho vay mà vốn vay được bên vay
cam kết sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình.
- Cho vay tiêu dùng: đây là hình thức cho vay mà trong đó bên vay cam kết
sử dụng vốn vay vào mục đích thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng
như mua sắm đồ gia dụng, mua nhà cửa, phương tiện đi lại, học tập…
2
* Căn cứ vào phương thức cho vay.
- Cho vay từng lần.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Cho vay theo dự án đầu tư.
- Cho vay hợp vốn.
- Cho vay trả góp.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được hiểu là
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
3
quá trình tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho khách hàng thông qua nghiệp vụ cho
vay. Theo đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng bao
gồm bộ phận pháp luật điều chỉnh các chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay;
điều chỉnh hình thức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; điều
chỉnh hình thức pháp lý của hoạt động cho vay – là hợp đồng tín dụng; và các
biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nhất thiết phải được điều chỉnh bởi
các quy định của pháp luật vì:
- Xuất phát từ vị trí của hoạt động cho vay. Đây được coi là hoạt động rất
quan trọng của tổ chức tín dụng. Vì nó tạo ra nguồn lợi duy trì hoạt động của tổ
chức tín dụng.
- Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. Tính rủi ro này bắt
nguồn từ đặc thù của đối tượng nghiệp vụ cho vay là tiền tệ - một loại hàng hóa
có tính nhạy cảm và rủi ro cao. Việc thu hồi vốn của tổ chức tín dụng thường
phải phụ thuộc vào khả năng kinh doanh và thiện chí trả nợ cảu khách hàng.
Từ những lý do trên, việc cần thiết là phải tạo ra một hành lang pháp lý để
kiểm soát, đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động ổn
định của các tổ chức tín dụng nói chung. Đồng thời ràng buộc trách nhiệm pháp
lý đối với các chủ thể tham gia quan hệ cho vay. Đồng thời tạo ra cho tổ chức tín
dụng những lá chắn để tránh khỏi những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế.
II. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.
1. Chủ thể tham gia quan hệ cho vay.
Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với bên vay và bên cho vay không
chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lí cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tín dụng, mà
quan vấn đề hiệu lực pháp lí của hoạt động tín dụng.
1.2. Bên vay.
Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên
tắc, những điều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay
trong mọi hợp đồng tín dụng):
- Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với tổ
chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp
pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng
tín dụng;
- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp.
Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện riêng sau (những điều kiện này
chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thoả
thuận rõ trong hợp đồng tín dụng):
- Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;
- Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả;
- Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của
người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo
lãnh.
Tóm lại, việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay
và bên đi vay trong hợp đồng tín dụng, ngoài mục đích thiết lập trật tự, kỷ cương
trong hoạt động tín dụng còn có ý nghĩa là giải pháp nhằm đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
5
2. Hình thức pháp lý của hoạt động cho vay – hợp đồng tín dụng.
Theo quy định của pháp luật hiên hành, quan hệ cho vay giữa tổ chức tín
dụng với khách hàng được xác lập và thực hiện thông qua công cụ pháp lí là hợp
đồng tín dụng.
- Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi ký kết,
thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng.
- Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các
vi phạm hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.
6
- Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng.
- Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng.
- Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm hợp đồng
tín dụng và tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có).
2.3. Hình thức hợp đồng tín dụng.
Theo quy định tại điều 17 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001, mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới
có giá trị pháp lý. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì những ưu điểm sau
đây:
- Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ
thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng.
- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho
người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý,
an toàn trong trường hợp cần thiết.
- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ
quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn.
Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm
văn bản viết và văn bản điện tử. Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua
(trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay
được thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu
trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính
của bên vay khi trả nợ.
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay. Trong điều khoản này, các bên
cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì. Việc thỏa thuận điều khoản
này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về
vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử
dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Mặt khác, để
bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng
hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có
quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và
điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi.
- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Đây là điều
khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biện
pháp giải quyết tranh chấp bằng con -đường thương lượng, hòa giải hoặc lựa
chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng
tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thì
việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng
tài sản như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều
khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành
một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.
2.5. Quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng.
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp
vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định. Việc giao kết hợp
đồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:
8
với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Do tính đặc biệt
quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp
luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc
đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên
đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay. Sau khi đã thẩm định hồ
sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp
nhận hoặc từ chối cho vay. Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng
phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho
vay. Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách
9
hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp
luật.
* Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên
nhận đề nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia
với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng. Theo đó, hành vi
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố
đồng ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng giữa
các bên. Có nghĩa là việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn
thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các
điều khoản của hợp đồng (bao gồm các điều khoản chủ yếu, điều khoản thường
lệ, điều khoản tùy nghi) và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực
tiếp ký tên vào bản hợp đồng tín dụng.
* Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối
cùng, cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng.
Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp
đồng tín dụng. Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã
chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tín dụng.
diện của ngân hàng thương mại không có thẩm quyền đại diện ngân hàng để xác
lập và thực hiện giao dịch với khách hàng.
Thứ hai, “mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo
đức xã hội”.
Đây là điều kiện được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi công, xét
trong mối quan hệ tương hỗ với quyền lợi tư của các bên giao dịch. Đối với các
giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại, mục đích và nội dung giao
dịch không chỉ phản ánh lợi ích của các bên mà còn bị chi phối bởi chính các lợi
ích đó. Mục đích của giao dịch thương mại giữa ngân hàng và khách hàng sẽ bị
coi là trái pháp luật và đạo đức xã hội khi giao dịch đó được các bên xác lập
nhằm vi phạm các quy tắc pháp lí đã được Nhà nước xây dựng để bảo vệ quyền
lợi chung hoặc nhằm xâm hại các giá trị đạo đức đã được Nhà nước và xã hội
thừa nhận.
Ví dụ, nếu ngân hàng và khách hàng giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi là
để giúp cho khách hàng thực hiện hành vi “rửa tiền” đối với nguồn thu nhập do
phạm pháp mà có thì giao dịch này được xem là có mục đích trái pháp luật.
Còn nội dung của giao dịch thương mại ngân hàng sẽ bị coi là trái pháp luật
và đạo đức xã hội khi các điều khoản được cam kết bởi ngân hàng và khách
hàng đã vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc vi phạm các chuẩn mực đạo
đức đã được Nhà nước thừa nhận.
Ví dụ, Ngân hàng A kí kết hợp đồng tín dụng để cho vay đối với khách
hàng là con đẻ của Tổng giám đốc ngân hàng A. Giao dịch này có nội dung vi
phạm điểm b khoản 1 Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 nên về nguyên
tắc giao dịch sẽ đương nhiên vô hiệu ngay từ khi xác lập.
Thứ ba, “có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng và tự do ý chí”.
Điều kiện này liên quan mật thiết với điều kiện về năng lực hành vi dân sự
của chủ thể tham gia giao dịch. Chỉ khi nào xác định rõ chủ thể giao dịch có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự thì việc xác định tính tự nguyện và tự do ý chí của
chủ thể đó mới chính xác và khoa học. Đối với chủ thể giao dịch là pháp nhân
lý giải rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa
thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản
HĐTD.
* Sự vô hiệu của HĐTD và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu:
Trên nguyên tắc, khi một HĐTD không thoả mãn một trong số các điều
kiện có hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô
hiệu này, về lí thuyết có thể được nhìn nhận là ở trạng thái tuyệt đối (đương
nhiên vô hiệu) hoặc tương đối (có thể vô hiệu).
Trong khoa học pháp lí, việc xác định trạng thái vô hiệu (tuyệt đối hoặc
tương đối) của các giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch thương mại của
ngân hàng nói riêng thường dựa vào nguyên tắc cơ bản là:
- Nếu giao dịch được xác lập nhưng vi phạm những quy tắc pháp lí có mục
đích bảo vệ lợi ích công hay trật tự công thì hậu quả kéo theo là giao dịch đó
đương nhiên vô hiệu ngay từ khi xác lập (vô hiệu tuyệt đối) và bất kì ai quan
tâm đến lợi ích chung đều có thể yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu.
12
- Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập nhưng chỉ vi phạm các quy tắc
pháp lí có mục đích bảo vệ lợi ích tư hay quyền lợi tư của các bên tham gia vào
giao dịch thì hậu quả kéo theo là giao dịch đó có thể bị coi là vô hiệu (vô hiệu
tương đối) và chỉ những người có quyền lợi bị xâm hại (bao gồm các bên của
giao dịch hoặc người thứ ba không tham gia vào giao dịch nhưng có quyền lợi
liên quan) mới có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ
quyền lợi của mình.
2.7. Thực hiện hợp đồng tín dụng.
Thực hiện HĐTD là việc các bên chủ động thực hiện các quyền, nghĩa vụ
đã phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Trong quá trình thực hiện, các bên phải tuân
thủ một số nguyên tắc thực hiện hợp đồng do pháp luật quy định như: thực hiện
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có
thiệt hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số
tiền bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của
cơ quan tài phán có thẩm quyền.
2.9. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về
phương diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài. Vì thế không
phải cứ khi nào có vi phạm hợp đồng thì có tranh chấp hợp đồng mà tuy vào
hoàn cảnh cụ thể để xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh
chấp.
Theo pháp luật Viêt Nam, tranh chấp này sẽ được giải quyết bằng những
con đường sau đây:
- Tự thương lượng giữa các bên tranh chấp: theo quy định của pháp luật,
trước hết các bên có quyền tiến hành thương lượng với nhau nhằm tiến tới dung
hòa lợi ích cho cả 2 bên.
- Hòa giải giữa các bên tranh chấp thông qua trung gian: giải pháp này có
thể được các bên lựa chọn khi việc thương lượng không đạt kết quả. Việc quy
định cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên và để tránh cho
các bên những khoản chi phí không cần thiết do phải kiện trước Tòa.
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán: đây là giải pháp cuối
cùng để phân định quyền lợi giữa các bên. Theo điều 22 BLTTDS 2004 tòa án
theo thủ tục dân sự sẽ có thẩm quyền giải quyết trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận điều khoản lựa chọn trọng tài thương mại khi có tranh chấp phát sinh,lúc
này sẽ áp dụng theo Pháp lệnh trọng tài thương mại.
3. Các loại hợp đồng thông dụng:
Như đã trình bài ở phần trên có nhiều tiêu chí phân chia HĐTD thành nhiều
loại khác nhau, trong phần này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn về 2 loại HĐTD
thông dụng nhất dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay gồm có HĐTD
không có bảo đảm và có bảo đảm bằng tài sản
Thực tiễn cho thấy, việc ký kết một HĐTD có bảo đảm khá phức tạp và có
nhiều thủ tục rất khác so với việc giao kết một HĐTD không có bảo đảm. Do đó
khi ký kết một HĐTD có bảo đảm cần lưu ý các vấn đề sau:
- Hình thức bảo đảm: cần lựa chọn hình thức bảo đảm phù hợp với nhu cầu,
hoàn cảnh và lợi ích của các bên như các hình thức cầm cố, thế chấp, bảo lãnh.
- Điều kiện có hiệu lực: cần đảm bảo giá trị pháp lý cho giao dịch bảo đảm
được các bên xác lập bằng cách tuân thủ đúng và đủ các điều kiện theo luật định.
- Mối quan hệ về hiệu lực pháp lý giữa giao dịch bảo đảm và HĐTD: cần
quan tâm đến vấn đề này vì nó đã từng được chứng minh là có ảnh hưởng trực
tiếp đến việc xác định và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia HĐTD có bảo
đảm.
Theo quy định tại điều 15 nghị định số 163/2006/ NĐ-CP ngày 29/12/2006
ta có thể thấy rằng HĐTD và hợp đồng bảo đảm tiền vay là hai hợp đồng độc lập
về mặt hiệu lực pháp lý nên khi HĐTD có bảo đảm bị vô hiệu thì khồi tài sản
bảo đảm sẽ được giải quyết như sau:
- Nếu HĐTD có bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng
đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt.
- Nếu HĐTD có bảo đảm bị vô hiệu nhưng các bên đã thực hiện một phần
hay toàn bộ thì họ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Tình trạng đặt nặng yếu tố tài sản để xem xét quyết định cho vay: Ai cũng
biết tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu thứ hai, nhưng nó rất quan trọng nếu chẳng
may khách hàng gặp rủi ro trong làm ăn, không còn khả năng thanh toán nợ, hơn
15
nữa tình trạng thiếu trung thực của khách hàng trong việc cung cấp thông tin, tài
liệu đang là phổ biến. Vì vậy để giảm bớt rủi ro, thời gian qua các ngân hàng
cho vay phần lớn sử dụng biện pháp cho vay có tài sản bảo đảm, đặc biệt đối với
những khách hàng chưa đủ niềm tin trong quan hệ tín dụng, khách hàng mới
quan hệ lần đầu, một số khách hàng thuộc loại hình Công ty TNHH, DNTN.
với từng loại khách hàng vay, quy mô tín dụng không ngừng tăng trưởng mà còn
đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả. Thực tế cho thấy, nhờ tính chủ động
trong lựa chọn đã tạo điều kiện thuận lợi để NHCV có cơ hội quyết định đúng
đắn biện pháp bảo đảm tiền vay, từ đó giúp nhiều doanh nghiệp nhà nước, các
16
tổng công ty, doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn vay vốn không có tài sản
bảo đảm đã tiết giảm được nhiều chi phí; đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn
cho các dự án / phương án khả thi và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường, hoặc các doanh nghiệp có tài sản bảo đảm nhưng giá trị đảm bảo thấp đã
không phải bỏ lỡ các cơ hội làm ăn, phát triển sản xuất kinh doanh. Bên cạnh
những kết quả đã đạt được, việc xem xét, quyết định biện pháp bảo đảm tiền vay
có nơi, có lúc do NHCV chủ quan, thiếu sâu sát trong phân tích; đánh giá không
đầy đủ, chính xác các điều kiện của biện pháp bảo đảm tiền vay, các yếu tố về
khách hàng vay như: mức độ tín nhiệm, khả năng tài chính, tình hình sản xuất
kinh doanh, tính khả thi của dự án/ phương án và khả năng tổ chức thực hiện,
quy mô hoạt động, tính chất sở hữu nên không những góp phần làm phiền hà
đến khách hàng vay mà còn tăng nguy cơ rủi ro đối với NHCV. Có các nguyên
nhân chính sau đây:
- NHCV chấp hành không đầy đủ các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền
vay của Nhà nước, của Ngân hàng Nhà nước và của Hội sở chính TCTD.
Đã xảy ra không ít trường hợp khách hàng vỡ nợ cùng lúc với nhiều ngân
hàng trên địa bàn. Một mặt do NHCV thực hiện không nghiêm túc các điều kiện
quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay, nhất là trong trường hợp cho vay
không có tài sản bảo đảm. Sự hời hợt, chủ quan trong phân tích, đánh giá về
mức độ đáp ứng các điều kiện đối với khách hàng quan hệ vay vốn lần đầu làm
nảy sinh tình trạng “phải theo”. Loại khách hàng này NHCV đã lỡ đầu tư, nếu
dừng cho vay thì không thể thu hồi được nợ cũ. Mặt khác, không ít NHCV quyết
định biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ chú trọng vào uy tín của khách hàng, còn
biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có tài sản nói riêng
không ít NHCV chỉ dựa vào nguồn số liệu khách hàng cung cấp, chưa có sự
kiểm chứng giữa các sổ sách kế toán và thực tế kiểm kê. Nhiều cán bộ tín dụng
phân tích, đánh giá chưa đi vào chiều sâu cho nên kết quả thẩm định thường đi
ngược lại với thực tế hoạt động của khách hàng vay. Nhiều trường hợp khách
hàng vay có các chỉ tiêu tài chính rất khả quan: doanh số hoạt động tăng qua mỗi
năm, doanh thu và lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, nhưng khách hàng vẫn
không trả được nợ vay. Bởi vì nguồn số liệu mà CBTD sử dụng tính toán có chất
lượng kém, không chính xác, hoặc nguồn số liệu đã quá xa so với thời điểm vay
vốn nên hiệu quả thẩm định thấp, thậm chí mất tác dụng. Qua xem xét loại
khách hàng này nhận thấy hầu hết họ đã rơi vào trạng thái suy giảm về mặt tài
chính, kinh doanh kém hiệu quả, nếu không tiếp tục được vay thì không thể trả
được nợ cũ nên kiếm cớ trì hoãn gửi báo cáo tài chính hoặc tìm cách “đánh
bóng” lại số liệu, đôi khi được sự đồng ý của NHCV.
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia hoạt động cho
vay của tổ chức tín dụng hoạt động một cách an toàn, lành mạnh, Nhà nước ta
đã ban hành rất nhiều các quy định pháp luật để xây dựng hành lang pháp lý
thông thoáng, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình áp
dụng, các quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn nền
kinh tế của nước ta.
- Quy định về quy chế cho vay:
Về mặt hình thức, hiện nay quy chế cho vay được ban hành bằng một quyết
định của Thống đốc NHNN. Tuy nhiên các văn bản về bảo đảm tiền vay, về giao
dịch bảo đảm lại được ban hành dưới hình thức Nghị định. Do đó, quy chế cho
18
Khi trách nhiệm trả nợ được đảm bảo, các TCTD sẽ không còn e dè trong
việc cấp vốn vay cho các đối tượng được bảo lãnh. Theo đó, những chính sách
kinh tế, xã hội mà Nhà nước đặt ra sẽ được thực hiện một cách triệt để và có
hiệu quả hơn.
- Cần điều chỉnh lại các đối tượng cấm cho vay.
Việc quy định các đối tượng cấm cho vay theo Điều 126 Luật các tổ chức
tín dụng 2010 đã vô hình chung gạt bỏ những khách hàng tiềm năng của các
TCTD. Mặt khác, trên thực tế , mục đích cấm cho vay đối với các đối tượng đó
là làm lành mạnh quan hệ cho vay, tránh trường hợp các cá nhân đó tư lợi không
19
được thực hiện triệt để. Bởi lẽ, bằng cách này hay cách khác, nguồn vốn vẫn
được chuyển đến tay các đối tượng này dưới các hình thức trá hình khác nhau
mà pháp luật không kiểm soát được. Chính vì vậy, pháp luật cần sửa đổi các quy
đinh về các đối tượng thuộc diện cấm cho vay, theo đó, cha mẹ, vợ chồng, con
của thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc
(phó giám đốc) và các chức danh tương đương vẫn có quyền vay vốn nếu họ đáp
ứng đủ các điều kiện vay vốn mà pháp luật quy định.
- Cần thống nhất lại các văn bản pháp luật về vấn đề xử lý tài sản bảo đảm
là quyền sử dụng đất.
Do sự mâu thuẫn trong quy định xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng
đất trong trường hợp các bên không có thỏa thuận giữa Luật đất đai 2003 và Bộ
luật dân sự 2005 nên trong việc phát mại tài sản để thu hồi nợ của TCTD gặp rất
nhiều khó khăn. Vì vậy, trước hết phải thống nhất các quy định về phương thức
xử lý tài sản đảm bảo giữa hai văn bản pháp luật trên. Đồng thời, TCTD sẽ được
phép bán đấu giá tài sản đó một cách công khai để tiết kiệm thời gian và chi phí,
trong trường hợp bên vay thấy bất hợp lý thì có thể khởi kiện ra tòa án.
- Cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về đảm bảo tiền vay theo
hướng thống nhất hóa các quy định và quan tâm hơn đến lợi ích kinh doanh của