QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG BẤT CẬP VỀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG - Pdf 33

MỞ ĐẦU
Di chúc chung của vợ, chồng là minh chứng cho tính sống chung, tính bền
vững của quan hệ hôn nhân cùng tính cùng tạo dựng tài sản của vợ chồng. Đó như
một biểu hiện cao đẹp về đời sống tinh thần của người Việt Nam, vợ, chồng cùng
nhau tần tảo gây dựng tài sản chung để nuôi sống gia đình, để cùng nhau tích lũy và
cuối cùng vợ chồng đồng tâm với nhau để định đoạt khối tài sản chung đó khi chết
đi. Tính cùng nhau của vợ chồng xuyên suốt trong cả một thời kì hôn nhân, thậm
chí cả khi chết đi cũng được cùng nhau định đoạt tài sản. Một trong số những quy
định của pháp luật cho phép vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ ngang nhau là
quyền lập di chúc chung. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận và thực tiễn, pháp luật
Việt Nam hiện hành còn khá nhiều điểm bất cập cần phải xem xét, sau đây tôi xin
trình bày bài tiểu luận về vấn đề: “Di chúc chung của vợ, chồng”.

NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM KHÁI NIỆM DI CHÚC VÀ DI CHÚC CHUNG VỢ,
CHỒNG.
1. Di chúc:
Theo Điều 631 BLDS quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: “Cá
nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình
cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như BLDS năm 2005 của Việt Nam đã đưa ra
khái niệm chung về di chúc. Theo Điều 649 BLDS năm 1995 và Điều 646 BLDS
2005 đã khái niệm: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết”.

1


2. Khái niệm về di chúc chung của vợ, chồng:
Với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản, vợ, chồng có
quyền định đoạt tài sản chung bằng nhiều cách, trong đó có quyền định đoạt tài sản

Thứ hai: Tài sản được định đoạt trong di chúc chung của vợ, chồng là tài sản
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng. Khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia
đình có quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ
chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và
những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.”. Di chúc chung của
vợ chồng là trường hợp đặc bệt của di chúc, nếu di chúc thông thường thì người lập
di chúc có quyền định đoạt tài sản của riêng mình, còn đối với loại di chúc đặc biệt
này thì chỉ định đoạt phần tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng là thời điểm
người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. Đây cũng là một đặc
trưng của di chúc chung của vợ, chồng làm nó khác biệt so với di chúc do cá nhân
lập. Bởi thời điểm di chúc cá nhân lập theo quy đinh của pháp luật chỉ có hiệu lực
khi cá nhân đó chết. Còn thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng
được xác định theo hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là di chúc chung của vợ,
chồng có hiệu lực khi người sau cùng chết và trường hợp thứ hai là di chúc chung
có hiệu lực tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.
Thứ tư: Di chúc chung của vợ, chồng được hình thành dựa trên quan hệ hôn
nhân đang còn hiệu lực. Theo khoản 7 Điều 8 luật hôn hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: “ Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng
tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.” Tuy nhiên, do điều

3


kiện hoàn cảnh lịch sử để lại, pháp luật Việt Nam phải công nhận một số trường
hợp sau:
- Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn (trước đây gọi là hôn nhân thực tế) :

LHNVGĐ có hiệu lực pháp luật) ở miền bắc thì không đặt vấn đề vi phạm luật.
( thông tư số 60-DS ngày 22/02/1987 của TANDTC)
CHƯƠNG II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG BẤT CẬP VỀ DI
CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG.
1 . Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng.
Theo BLDS Điều 663 quy định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định
đoạt tài sản chung” . Quyền này phát sinh từ thời điểm hai người được công nhận là
vợ, chồng hợp pháp. Kể từ thời điểm là vợ, chồng hợp pháp thì giữa vợ, chồng hình
thành khối tài sản chung, tài sản chung vợ, chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Vợ, chồng có quyền bình đẳng đối với việc sở hữu tài sản chung này nên vợ, chồng
cũng bình đẳng với nhau về việc lập di chúc chung. Vì vậy, tài sản chung có thể
được hai người cùng nhau định đoạt trong di chúc chung. Ngoài tài sản chung vợ,
chồng còn có thể có tài sản riêng. Đối với tài sản riêng vợ, chồng lập di chúc riêng
(di chúc cá nhân) để định đoạt theo ý chí của mình. Vợ, chồng có thể cùng nhau
định đoạt toàn bộ khối tài sản chung hoặc có thể định đoạt một phần tài sản chung
trong khối tài sản đó.
Khi xem xét về quyền lập di chúc chung của vợ, chồng ta nhận thấy có sự
xung đột giữa quy định này với quy định tại Đ646 BLDS năm 2005. Điều 646
BLDS năm 2005 định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyền tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”[38] Như vậy, ta hiểu rằng

5


di chúc là phương tiện để cá nhân định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình sau khi
chết, không có di chúc của cộng đồng hay di chúc tập thể. Sự mâu thuẫn trên tạo ra
rất nhiều quan điểm xung quanh vấn đề quyền lập di chúc chung của vợ chồng
được quy định tại BLDS năm 2005. Luồng quan điểm ủng hộ di chúc chung cho
rằng nên công nhận di chúc chung của vợ, chồng và coi đây là trường hợp di chúc
đặc biệt. Nhưng cũng có không ít quan điểm trung thành với quy định tại Điều 646

mặc nhiên bị huỷ bỏ”.
Vấn đề đặt ra là sau ba tháng, người lập di chúc (cả vợ và chồng) đều còn
sống nhưng chỉ có một trong hai người không còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc
có hiệu lực pháp luật không? Thiết nghĩ, trong trường hợp này thì di chúc đã lập
vẫn còn có hiệu lực pháp luật; vì rằng di chúc là sự thể hiện ý chí tự do, tự nguyện,
mà một khi người lập di chúc (có thể vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng) không
còn minh mẫn, sáng suốt thì cũng có nghĩa đã mất đi sự tự do ý chí, sự thống nhất
thỏa thuận ấy nên để tôn trọng sự định đoạt của người để lại di sản thì nên thừa
nhận di chúc trong trường hợp này.
Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực pháp luật chỉ khi sau ba tháng kể từ
khi lập di chúc mà cả hai vợ, chồng đều chết. Liên quan đến vấn đề này, sau ba
tháng kể từ khi lập di chúc thì một người chết và một người còn sống thì di chúc
chung của vợ, chồng còn có hiệu lực pháp luật không? Nếu có hiệu lực pháp luật
thì cả di chúc có hiệu lực pháp luật hay chỉ phần di chúc liên quan đến phần chúc
của người còn sống có hiệu lực pháp luật?
Vì vợ, chồng là hai cá thể độc lập, vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung
bằng miệng phải bảo đảm điều kiên: “ bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các
nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản”, thực tế trường hợp cả
hai vợ, chồng rơi vào tình trạng như vậy là rất hiếm xảy ra, trong khi đó, di chúc

7


chung của vợ, chồng được lập nên do sự thống nhất của hai vợ chồng nên pháp luật
không thừa nhận một trong hai chủ thể lập di chúc ( vợ hoặc chồng) bị cái chết đe
dọa bệnh tật hoặc nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản còn
bên còn lại thì không.
Với những đặc thù riêng của di chúc chung của vợ, chồng và với những quy
định của pháp luật về cách thức lập di chúc miệng thì thấy hình thức lập di chúc
miệng rất khó tồn tại và khó có tính khả thi, bởi những lý do sau:

chồng ủy quyền cho nhau viết di chúc. Mặt khác, làm như vậy giống như là viết hộ
di chúc, nên sẽ phải tiến hành theo một thủ tục khác, trước mặt ít nhất hai người đủ
điều kiện làm chứng để chứng kiến việc lập di chúc chung. Còn việc cả hai vợ
chồng cùng nhau viết vào bản di chúc thì không thể tồn tại trong khi đó việc một
người viết trước, một người viết sau hay một người viết rồi người kia ký thì không
thể hiện được sự tự do ý chí. Nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc, rồi cả hai
cùng ký vào bản di chúc thì không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay, dễ dẫn đến
sự ngụy tạo chữ ký để giả mạo di chúc chung, mà không có cơ sở để giám định bút
tích của người lập di chúc.
Từ những bất cập về cách thức lập di chúc thì theo quan điểm của cá nhân,
với đặc thù của di chúc chung của vợ, chồng thì hình thức bằng văn bản không có
người làm chứng cũng không có tình khả thi trong thực tế. Chúng ta có nên thừa
nhận hình thức di chúc này đối với di chúc chung của vợ chồng hay không?
c) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
Đối với hình thức di chúc này thì di chúc do “người khác” viết, việc thể hiện
ý chí của người để lại di sản là thông qua người khác thực hiện trong di chúc. Đây
là điểm khác biệt so với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc
bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự tay viết vào

9


bản di chúc. Pháp luật không quy định về điều kiện của người viết hộ di chúc, theo
đó bất kỳ ai cũng có thể viết hộ. Để đảm bảo tính khách quan cũng như tính chính
xác của di chúc thì việc viết hộ di chúc phải được thực hiện trước mặt hai người
làm chứng.
Sau đó vợ và chồng phải ký, điểm chỉ, đây là “dấu ấn” duy nhất của người để
lại di sản, nếu không có cơ sở xác nhận thì di chúc coi như vô hiệu. Việc vợ, chồng
ký tên, hoặc điểm chỉ vào bản di chúc phải thực hiện trước mặt hai người làm
chứng. Điều này có nghĩa người làm chứng là người chứng kiến việc vợ, chồng thể

nào nhưng phải dựa trên nguyên tắc nhất trí của cả hai vợ chồng. Tại Điều 664
BLDS 2005 quy định:
“1. Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc
nào.
2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung
thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia
chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”.
Điều này thể hiện sự nhất trí cao về ý chí của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, quy
định này tạo ra những bất cập sau:
- Thứ nhất, khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di
chúc chung thì phải được sự đồng ý của người còn lại, trong trường hợp người còn
lại không đồng ý thì người đó không có quyền sửa đổi, bổ sung phần nội dung di
chúc liên quan đến tài sản của mình. Quy định này xâm phạm tới quyền tự do định
đoạt tài sản thuộc của cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân đồng thời
cũng vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện lập di chúc của cá nhân bởi nhiều lý do
mà một mà một người cần sửa đổi, bổ sung di chúc để bảo vệ cho chính quyền lợi
của họ và những người thân.

11


- Thứ hai, quy định trên tiếp tục thể hiện sự mâu thuẫn với quy định này:
“nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan
đến tài sản của mình”. Trong trường hợp hai vợ chồng còn sống, một người muốn
sửa đổi, bổ sung, thay đổi nội dung của di chúc thì bắt buộc phải có sự đồng ý của
người còn lại, nhưng đến khi một người chết trước luật lại cho phép người còn sống
có quyền sửa đổi nội dung phần di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Điều
này đã thể hiện sự không thống nhất nội dung của điều luật. Vì vậy, nếu đã cho
phép một người được phép sửa đổi, bổ sung nội dung của di chúc chung trong
trường hợp một bên chết trước thì BLDS cũng nên cho phép một bên được quyền

chúc không có hiệu lực một phần hoặc toàn bộ tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 667 BLDS.
Để có di chúc điều kiện tiên quyết là phải có di sản, vì di chúc được lập
nhằm chuyển giao toàn bộ hoặc một phần di sản của người lập di chúc cho người
khác. Bên cạnh sự tồn tại của di sản thì sự tồn tại người thừa kế cũng là điều kiện
để di chúc có hiệu lực.
Trong khoảng thời gian từ khi lập bản di chúc chung đầu tiên đến khi di chúc
chung có hiệu lực pháp luật vợ, chồng có thể lập thêm một hoặc nhiều bản di chúc
chung khác. Các bản di chúc chung định đoạt cùng một tài sản thì bản di chúc
chung cuối cùng sẽ có hiệu lực pháp luật.
b). Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng.
Thông thường thì vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc chung phát sinh hiệu
lực, di chúc chung được mang ra thực hiện theo ý chí của vợ, chồng đã định đoạt.
Thời điểm này có ý nghĩa đối với việc xác định phần tài sản chung nào là di sản và
các nghĩa vụ về tài sản mà vợ, chồng để lại; xác định những người có quyền hưởng
di sản của vợ, chồng theo di chúc; là căn cứ bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về thừa

13


kế. Với ý nghĩa như vậy việc xác định chính xác thời điểm có hiệu lực của di chúc
nói chung và di chúc chung của vợ, chồng nói riêng là rất quan trọng, không xác
định đúng thời điểm này sẽ dẫn tới hàng loạt các tranh chấp liên quan đến di chúc
chung, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người hưởng thừa kế và những
người có quyền và lợi ích liên quan.
Tại Điều 668 BLDS năm 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng
có hiệu lực kể từ thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm hai vợ, chồng cùng
chết.” BLDS năm 2005 đã loại bỏ quyền tự thoả thuận lựa chọn thời điểm có hiệu
lực của di chúc chung của vợ, chồng như quy định của BLDS năm 1995. Tài sản
của vợ, chồng không bị phân chia khi một người chết, tránh tình trạng phải phân
chia ít nhất hai lần đối với một di chúc. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện sự chung sức,

Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu hết
10 năm đó mà người kia vẫn còn sống, thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối
với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Nếu vì lý do nào đó, chẳng
hạn nội dung di chúc chung vi phạm pháp luật, có dấu hiệu lừa dối, giả mạo... mà
người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời (do di chúc chung chưa được công
bố), đến khi người sau cùng chết mà thời hiệu khởi kiện không còn, thì quyền lợi
của người thừa kế của người chết trước cũng như những người thừa kế hợp pháp
của cả vợ, chồng có được bảo vệ không, cũng chưa được pháp luật qui định rõ.
Nếu người chết đồng thời có hai di chúc, di chúc chung của vợ, chồng và di
chúc định đoạt tài sản riêng thì di chúc định đoạt tài sản riêng sẽ phát sinh hiệu lực
trước. Vậy là trên cùng một sản nghiệp của người chết nhưng lại được chia di chúc
hai lần, lần thứ nhất là chia thừa kế đối với phần di sản không được định đoạt trong

15


di chúc chung vào lúc người để lại di chúc chết, lần thứ hai chia di sản trong di
chúc chung khi di chúc chung có hiệu lực. Sẽ có hai lần người nhận thừa kế phải
yêu cầu toà án phân chia di sản, hai lần toà án thụ lý giải quyết tranh chấp đối với
tài sản của cùng một người. Có quan điểm cho rằng điều này sẽ vi phạm nguyên tắc
đã xét xử xong rồi thì toà án không thụ lý, giải quyết lại.
6. Về người hưởng thừa kế.
a) Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ - chồng
BLDS 2005 không quy định rõ những trường hợp bị cấm khi lập di chúc
chung. Điều này sẽ tạo nên những tình huống pháp lý rất khó xử, như việc hai bên
lập di chúc để thừa kế lẫn nhau, thì di chúc đó có hiệu lực hay không. Di chúc vốn
là một loại giao dịch pháp lý đơn phương và không mang tính chất đền bù. Việc
cho phép vợ, chồng khi lập di chúc chung để thừa kế lẫn nhau, đã biến loại giao
dịch này thành giao dịch pháp lý song phương và mang tính chất có đền bù, làm
thay đổi bản chất pháp lý của di chúc. Việc pháp luật hiện hành không cấm đoán

những thế có không ít rắc rối, tranh chấp xảy ra xung quanh di chúc chung của vợ,
chồng.
Pháp luật hiện hành vẫn chưa có giải pháp nào để giải quyết tốt các vấn đề
pháp lý phức tạp được đặt ra đối với việc lập, sửa đổi, hủy bỏ di chúc chung và xác
định thời hiệu thực thi của di chúc chung. Bản chất của di chúc của di chúc vốn là
giao dịch pháp lý đươn phương của cá nhân, không thể có sự tham dự ý chí của
nhiều cá nhân trong việc lập di chúc. Nếu thừa nhận di chúc chung , pháp luật có

17


thể đạt được mục đích tốt đẹp là hướng các bên trong quan hệ thừa kế cần quan tâm
hơn việc tăng cường tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình. Nhưng nếu các
chủ thể lập di chúc chung xong rồi bất đồng trong việc sửa đổi , bổ sung, thay thế,
hủy bỏ di chúc chung; hay sau khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, những người
thừa kế hợp pháp không thể xin phân chia di sản thừa kế hoặc chia thừa kế bắt
buộc.... thì có thể còn tạo hiệu ứng ngược.
Việc bãi bỏ quy định di chúc chung của vợ chồng có thể không khả thi, vì đây là
một thực tiễn pháp lý và tục lệ , đã tồn tại từ lâu trong xã hội Việt Nam. Nên vấn đề
cần thết hiện nay là, làm sao vẫn duy trì di chúc chung nhưng phải hạn chế tối đa
những rắc rối, phức tạp do việc thừa nhận loại di chúc này mang lại. Bởi thế, chúng
tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau.
2.. Nên tách các quy định về di chúc chung của vợ, chồng thành một mục
riêng.
Như đã phân tích trên, tuy di chúc chung của vợ chồng cũng là một loại di chúc
được lập, sửa đổi, bổ sung và phát sinh hiệu lực gần giống như một di chúc thông
thường. Nhưng di chúc chung còn có những đặc thù: (i) do hai ý chí cá nhân cùng
tham gia định đoạt dựa trên mối quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực; (ii) dùng để
định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng; (iii) có hiệu lực không đồng thời với
thời điểm mở thừa kế của bên chết trước... do đó, cần phải được qui định thành một

Để đảm bảo quyền tự do định đoạt của cá nhân, đảm bảo di chúc chung phản
ánh được sự thoả thuận của hai vợ chồng thì bên cạnh việc quy định vợ, chồng cần
cùng nhau thoả thuận khi muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc thì
cũng cần phải quy định cho vợ, chồng được quyền tự do trong việc định đoạt tài

19


sản riêng trong khối tài sản chung. Theo ý kiến của cá nhân, nên quy định: “khi vợ,
chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc chung thì cần có sự đồng
ý của bên kia. Ngoài ra, các bên có quyền tự sửa đổi, bổ sung di chúc chung trong
phạm vi phần tài sản của mình. Việc sửa đổi, bổ sung theo ý chí của bên nào thì có
giá trị đối với phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung.”
6 . Về thời hiệu khởi kiện.
Về thời hiệu khởi kiện của di chúc chung của vợ, chồng thì cần quy định
thêm: “Thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với di chúc chung được bắt đầu lại trong
trường hợp: Vợ, chồng có thoả thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là
thời điểm người sau cùng chết, thì thời điểm tính khởi kiện lại được tính bắt đầu từ
ngày di chúc chung có hiệu lực”.
KẾT LUẬN
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật về di chúc chung của vợ chồng với rất nhiều
vướng mắc, không phù hợp với hiện thực. Điều đó cũng cho thấy, di chúc chung
của vợ, chồng hoàn toàn không phải là vấn đề đơn giản. Luật thực định chỉ dùng
một hai điều luật ngắn để điều chỉnh vấn đề này, rõ ràng là chưa tương xứng và
không đủ liều lượng cần thiết. Đó sẽ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất cập và
thiếu nhất quán trong việc thực thi pháp luật về vấn đề liên quan, hi vọng rằng các
nhà lập pháp, các cơ quan chức năng sẽ sớm vào cuộc, đảm bảo cho những quy
định của pháp luật sẽ phù hợp hơn để dễ dàng đi vào cuộc sống.

20


5

2. Nội dung di chúc chung của vợ, chồng.

6

3 Hình thức di chúc chung của vợ, chồng:

6

a) Di chúc miệng:

7

b) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

8

c) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

9

d) Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

10

4. Vấn đề sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung:

11

1. Có nên tiếp tục thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng?

18

2. Nên tách các quy định về di chúc chung của vợ, chồng thành một
mục riêng.

19

3.Về hình thức của di chúc chung vợ chồng:

19

4. Đối với quy định về hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng

19

5. Đối với việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ,
chồng

19

6 . Về thời hiệu khởi kiện.

20

KẾT LUẬN

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status