Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền - Pdf 33

Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu huy động và sử dụng
vốn trở nên vô cùng cấp bách. Để giải quyết nhu cầu tạm thời về kinh tế thì hợp
đồng vay tiền là một trong những công cụ pháp lý hữu hiệu. Cùng với sự phát triển
đó Đảng và Nhà nước cũng luôn nỗ lực tìm kiếm để đưa ra những quy định vừa chặt
chẽ về mặt pháp lý nhưng mặt khác vẫn có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển. Một
trong số đó là những biện pháp quy định về lãi suất.
Tuy nhiên, trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng
đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến lãi suất. Trong khi những quy định của pháp
luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng. Vì vậy, để có cái nhìn rõ nét
hơn về vấn đề này em quyết định chọn đề bài: “Một số vấn đề về lãi suất trong hợp
đồng vay tiền”. Do phạm vi đề tài rộng cũng như đây là vấn đề còn rất mới mẻ và
biến đổi không ngừng nên với tư cách của những sinh viên chưa có nhiều kinh
nghiệm về vấn đề này những sơ suất là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, em rất
mong thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

1. Khái quát chung về hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền.
1.1. Hợp đồng vay tiền.
 Khái niệm:
Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về Hợp
đồng (Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) ta

 Đối tượng của hợp đồng vay tiền
Là một khoản tiền nhất định. Tiền ở đây có thể là Việt Nam đồng (VND) cũng
có thể là ngoại tệ, tuy nhiên nếu là ngoại tệ thì ít nhất một bên trong hợp đồng phải
có giấy phép lưu thông ngoại tệ (ngân hàng, tổ chức tín dung…) vì ngoại tệ là vật
hạn chế lưu thông.
 Kỳ hạn.
Trong hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn. Nếu hợp đồng không
thỏa thuận xác định cụ thể thời hạn trả tiền thì được coi là không kỳ hạn, bên cho
vay có thể yêu cầu bên vay hoàn trả số tiền bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo
Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

3

trước một khoản thời gian hợp lý để thực hiện hợp đồng. Và ngược lại nếu có thỏa
thuận cụ thể về thời hạn đó bên vay có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trả tiền của
mình. Trường hợp hết hợp đồng mà bên vay không trả được nợ thì phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm dâ sự do vi phạm hợp đồng vay có lãi suất thì bên vay phải hoàn trả
bên cho vay cả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà
nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả nợ nếu có thỏa thuận.
 Hình thức của hợp đồng vay tiền.
Hình thức của loại hợp đồng này có thể là miệng hoặc bằng văn bản. Theo ý chí
của các bên thì hợp đồng vay tiền cũng có thể lập dưới hình thức công chứng, chứng
thực. Mặc dù pháp luật không quy định nhưng ta thấy hầu như tất cả các hợp đồng
tín dụng (có một bên là tổ chức tín dụng) thì đều dưới hình thức văn bản có công
chứng, chứng thực…nếu có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng miệng sẽ không có giá trị
pháp lý chứng minh nên rủi ro rất cao so với hợp đồng dưới hình thức văn bản
 Quyền và nghĩa vụ của các bên

 Định nghĩa:
Hiện nay lãi suất là cụm từ được sử dụng trong rất nhiều hợp đồng vay tiền.
Nhưng trong BLDS 2005 lại chưa có một định nghĩa cụ thể về vấn đề này vì vậy dẫn
đến nhiều cách hiểu khác nhau. Theo giáo trình Trường đại học Luật Hà Nội (2010)
thì “Lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỷ lệ nhất định mà bên cho vay phải trả
thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian. Lãi suất được tính theo tuần, theo
tháng hoặc năm do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định”. Căn cứ vào lãi
suất, số tiền vay và thời hạn vay phải trả một số tiền nhất định (tiền lãi). Số tiền này
tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay. Hay theo Wikipedia lãi suất
được hiểu là tỉ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng
thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền
không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn
chi tiêu.
Tuy nhiên, ta có thể hiểu ngắn gọn lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất
định mà bên vay phải trả trả cho bên cho vay theo đơn vị thời gian theo một tỉ lệ
thuận.
 Đặc điểm:
-

Lãi suất phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản cụ thể là vay tiền

-

Lãi suất không phát sinh độc lập mà nó chỉ phát sinh do có thỏa thuận của các
bên sau khi đã thỏa thuận được số vay gốc.

-

Lãi suất được tính theo số vay gốc và thời hạn vay.


-

Lãi suất danh nghĩa

-

Lãi suất thực tế


Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính

-

Lãi suất cố định

-

Lãi suất thả nổi


Phân loại theo cách đo lường lãi suất

-

Lãi suất đơn

-

Lãi suất kép


chung chỉ được quy định trực tiếp thông qua một điều luật duy nhất:
“Điều 476. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất
cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố với loại vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi, nhưng không xác định rõ lãi
suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do ngân hàng
nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”
Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về vấn đề này trong tổng số 722 Điều
luật trong BLDS 2005 là quá khái quát. Trong khi quan hệ kinh tế xã hội biến đổi
từng ngày sẽ dễ tạo ra khe hở cho nhiều đối tượng lách luật trong khi những văn bản
dưới luật hướng dẫn áp dụng còn ít và sơ xài. Vì vậy, việc hiểu quy định của BLDS
sao cho đúng với ý đồ của các nhà làm luật là một vấn đề không hề đơn giản bởi
trong nhưng năm qua có rất nhiều tranh cãi xung quanh Điều 476 này.
2.1.

Lãi suất thỏa thuận

Về nguyên tắc lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, nhằm
ngăn ngừa hiện tượng cho vay với lãi suất quá cao trong xã hội, cũng như tạo cơ sở
pháp lý cho tranh chấp liên quan đến lãi suất. Nên ngay từ khi xây dựng ban hành
BLDS 1995 các nhà làm luật đã đưa ra phương thức xác định lấy một mức lãi suất
được xem là tiêu chuẩn làm căn cứ cho việc điều hành trần lãi suất của ngân hàng
(mức lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định từng thời điểm ứng với loại
vay tương ứng). Giá trị xác định tỉ lệ này không phải là bất biến mà nó cũng có
những thay đổi nhất định qua từng thời kỳ. Nếu như khoản 1 Điều 473 BLDS 1995
quy định: “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% mức
lãi suất cao nhất do ngân hàng nhà nước quy định cho loại vay tương ứng”. Thì đến
khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 đã có sự thay đổi khi quy định: “lãi suất vay do các
bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà
nước công bố đối với loại vay tương ứng”. Vậy một câu hỏi được đặt ra là tại sao lại

hạn luật định. Hay nói cách khác lãi suất thỏa thuận = lãi suất cơ bản x 150%.
Ví dụ: lãi suất cơ bản là 1% vậy lãi suất thỏa thuận tối đa = 1% x 150% (gấp 1,5 lần)
Cách hiểu thứ hai dựa trên ngưỡng của lãi suất cơ bản và giá trị phần vượt quá.
Hay nói cách khác, lãi suất vẫn do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 50%
lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố (BLDS 1995); 150% lãi suất cơ bản do
Ngân hàng Nhà nước công bố (BLDS) 2005: lãi suất thỏa thuận = lãi suất thỏa
thuận + lãi suất cơ bản x 150%.
Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

8

Song nếu đối chiếu cụ thể hai cách hiểu này vào hai BLDS 1995 và 2005 hẳn sẽ
có nhiều bất cập.
- Nếu áp dụng cách hiểu thứ nhất áp dụng công thức: Lãi suất thỏa thuận tối đa
= lãi suất cơ bản x giá trị xác định mức lãi suất tối đa. Thì lãi suất thỏa thuận theo
quy định của BLDS 1995 lại quá thấp và chẳng nhẽ lãi suất thỏa thuận chỉ = 50%
lãi suất trần. Hay nói cách cách khác nếu lãi suất trần của NHHN công bố 1%/tháng
thì lãi suất tối đa thỏa thuận chỉ bằng 1% x 50% (bằng ½ lãi suất trần).
- Còn nếu áp dụng cách hiểu thứ hai: Lãi suất thỏa thuận = lãi suất cơ bản + lãi
suất cơ bản x giá trị xác định mức lãi suất tối đa. Thì sẽ tỏ ra hợp lý với BLDS 1995
nhưng lại có bất cập khi áp dụng BLDS 2005 vào thực tiễn. Cụ thể: Nếu lãi suất cơ
bản do ngân hàng nhà nước công bố là 1%/tháng thì lãi suất thỏa thuận tối đa = 1%
+ 1% x 150% (gấp 2,5 lần lãi suất cơ bản). Nhưng như thế sẽ là quá cao so với mức
lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước công bố và chẳng khác nào khuyến khích
cho vay nặng lãi.
Mặc dù kể từ khi thông tư liên tịch số 01/2000 TT/LT ngày 19/6/1997 của Tòa án
Nhân dân Tối cao – Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tài Chính

điều này cho thấy một điều: chính nhà nước không áp dụng công thức lãi suất thỏa
thuận = lãi suất cơ bản x 150%. Nhưng cũng không thấy việc quy định rõ áp dụng
cách hiểu nào trong 2 cách hiểu trên nên vấn đề này cũng tồn tại những khó hiểu
trong áp dụng. Riêng đối với lãi suất kinh doanh nhà nước không khống chế mà để
cho các tổ chức tín dụng tự ấn định mức lãi suất miễn sao phù hợp với quan hệ cung
cầu trên thị trường trên tinh thần của Thông tư số 07/2010/TT – NHNN ngày
26/2/2010 quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận của các tổ
chức tín dụng với khách hàng và Quyết định 33/2008/QĐ – NHNN ngày 3/12/2008
về mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với
khách hàng. Để giữ vững lãi suất trần huy động là 14%/năm và chấn chỉnh việc huy
động vốn nghiêm cấm các hành vi vượt lãi suất bằng những hình thức huy động vốn
như khuyến mại…mới đây ngân hàng nhà nước mới ban hành thêm chỉ thị
02/2011/CT – NHNN ngày 7/9/2011.
2.2.

Cách tính lãi suất.

Về cơ bản căn cứ vào thời hạn vay, lãi suất trong hợp đồng vay tiền gồm lãi suất
đúng hạn và lãi quá hạn. Trong đó tiền lãi được tính trên số nợ gốc, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận về lãi suất theo nguyên tắc chung khi tham gia hợp đồng vay
tiền các bên có thể tự thỏa thuận về lãi suất. Tuy nhiên trong trường hợp các bên có
thỏa thuận về lãi nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì
Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

10

áp dụng lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

11

hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do ngân hàng
nhà nước quy định tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy
định tại khoản 2 Điều 473 BLDS 1995.
Theo hướng dẫn là như vậy nhưng nếu áp dụng vào luật năm 2005 thì vấn đề lãi
suất đúng hạn và quá hạn vẫn chưa được làm rõ.
Thứ nhất, giả sử A vay B 100 triệu đồng trong 1 năm với lãi suất 12%/năm (lãi
suất cơ bản tại thời điểm cho vay = 9%/tháng) lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cơ
bản 9% do ngân hàng nhà nước công bố tức sau 1 năm A phải trả cho B 100 triệu
đồng (gốc) cộng với khoản tiền lãi là 12 triệu đồng. Nhưng 2 năm sau A mới trả
được tiền cho A lúc này phát sinh lãi quá hạn, ngoài số tiền gốc và tiền lãi đúng hạn
(chậm trả tiền lãi 1 năm so với thỏa thuận). Thì trong trường hợp này lãi suất quá
hạn sẽ được tính ra sao? Nếu vẫn áp dụng Điều 476 BLDS 2005 tức lãi suất quá hạn
vẫn nhỏ hơn hoặc bằng 150% lãi suất cơ bản là 13,5% (150% lãi suất cơ bản 9%) thì
không ổn và chẳng khác nào đồng nhất lãi suất đúng hạn và quá hạn là một.
Thứ hai, nếu các bên cho vay thỏa thuận vượt 150% lãi suất cơ bản của Ngân
hàng Nhà nước công bố thì lãi suất đúng hạn liệu có được giữ nguyên là tỷ lệ vượt
quá? Hợp đồng có bị tuyên vô hiệu? Hay vẫn áp dụng mục I.4 của thông tư liên tịch
buộc các bên phải trả bằng 150% mức lãi suất do ngân hàng nhà nước công bố?
Như vậy cũng chẳng khác nào đồng tình với cách hiểu thứ nhất và quy định của
Điều 476 BLDS để trả lại cách hiểu đúng cho quy định của Điều 473 BLDS 1995
Thứ ba, nếu thỏa thuận giữa các bên nhỏ hơn 150% lãi suất cơ bản của Ngân
hàng nhà nước công bố thì sẽ áp dụng lãi suất thỏa thuận hay lãi suất theo quy định
của pháp luật = 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước?
II. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG
QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN.

phạt hàh chính hau chịu trách nhiệm hình sự.
Từ trước đến nay những ngân hàng, tổ chức tín dụng vượt lãi suất trần chưa được
thực hiện mạnh tay và bị bỏ lọt rất nhiều. Tuy nhiên, gần đây khi ngân hàng nhà
nước đưa ra hàng loạt thông tư hướng dẫn và buộc các ngân hàng nghiêm chỉnh chấp
hành mức lãi suất trần với những biện pháp mạnh tay thì rất nhiều cán bộ ngân hàng
đã bị “trảm” với hành vi vượt lãi suất trần. Chẳng hạn vụ việc của ông Nguyễn Thái
Hậu, giám đốc chi nhánh ngân hàng Đông Á tại Tây Ninh bị phát rác khi thỏa thuận
với một khách hàng đem tiền đến gửi ngoài sổ tiết kiệm ghi lãi suất 13,94% nhưng
thực chất khách hàng đó sẽ được ngân hàng trả với lãi suất 15,5% (có xác nhận của
ngân hàng). Sau khi sự việc trên bị phát rác ngân hàng Đông Á đã tạm đình chỉ công
Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

13

tác đối với ông Hậu vào ngày 8/9/2011. Và vài ngày sau 15/9 ngân hàng nhà nước
cũng đã phát hiện và công bố quyết định xử phạt 3 chi nhánh ngân hàng Đông Á vì
huy động lãi suất trên mức trần 14% hoặc khuyến mại, thưởng tiền cho khách ngoài
lãi suất. Hay gần đây nhất là vụ việc của ngân hàng VP Bank phải giải trình vì bị
nghi ngờ có hành vi vượt lãi trần qua chương trình “lộc vàng đón xuân”….mặc dù
tảng băng chìm đằng sau những vụ việc vượt lãi suất trần còn rất nhiều. Song với
những hành động đầy táo bạo khi ban hành những văn bản nghiêm túc chấn chỉnh
cũng như gữa vững mức lãi suất trần trong vấn huy động vốn thực sự là dấu hiệu
đáng mừng và rất đáng hoan nghênh đối với ngân hàng nhà nước mà ngân hàng nhà
nước cần tiếp tục thực hiện.
Tuy nhiên vấn đề “lãi suất khủng” lại được dư luận quan tâm nhiều hơn bởi
quyền lợi của họ gắn với hoạt động này chặt chẽ hơn. Theo thông tin cập nhật ngày
13/11/2011 tại cổng thông tin lãi suất ngân hàng niêm

vốn …nên ông đành phải gõ cửa dịch vụ “cho vay nóng” với điều kiện lãi suất
3%/tháng, phí dịch vụ vay ngân hàng 5%-7% của tổng số tiền vay. Với mức lãi suất
ông chưa nghe thấy và cũng chưa bao giờ ngờ đến nhưng ông vẫn phải vay để cố
gắng trả cho khách rồi quay vòng vốn nhanh trả nợ nhanh. Hay trường hợp ông Bùi
Quang Linh – kế toán một doanh nghiệp chuyên san lấp mặt bằng tại Hà Nội cũng
chia sẻ: “Vay nóng thì xưa nay vẫn có, nhưng gần đây do không tiếp cận được
nguồn vốn của ngân hàng nên không chỉ người dân mà nhiều doanh nghiệp cũng
phải chấp nhận vay nóng nếu không muốn đóng cửa, ngừng sản xuất kinh doanh”
nên nhiều lúc để thanh toán tiền cho nhân viên công ty là anh lại phải đi làm thủ tục
vay nóng. Mỗi lần vay từ 2 đến 3 tỷ đồng và thời hạn vay ngắn dài từ một tuần đến
một tháng nhưng lãi suất lên đến 9%/tháng khi đưa ra khởi kiện ở tòa cùng lắm các
ông chủ lãi cũng chỉ không nhận được lãi phần vượt quá 150% lãi suất cơ bản của
ngân hàng nhà nước, nộp phạt hành chính nếu mức cho vay chưa vượt quá 10 lần để
truy cứu trách nhiệm theo bộ luật hình sụ. Số vụ việc khởi kiện giữa các bên cho vay
nặng lãi lại xảy ra không nhiêu mà họ sẽ nhờ đến luật rừng, luật giang hồ để xử
lý..nên những quy định về lãi suất vẫn còn bỏ ngỏ và sơ hở rất nhiều.
Bên cạnh đó hiện tượng cho vay hụi vay họ rồi dẫn đến nguy cơ lừa đảo chiếm
đoạt tài sản hiện nay cũng rất phổ biến. Họ, hụi một dạng thức đặc biệt của vay tiền
lãi suất vù chưa được pháp luật quy định rõ ràng, chưa có tổ chức quản lý, đăng ký
nên hiện tượng những đường dây hụi có số vốn lớn với những hứa hẹn lãi suất 5-7

Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

15

nghìn đồng/ngày/1 triệu mà chị Nguyễn Thị Lan trú tại Quảng Lưu – Quảng Xương
– Thanh Hóa huy động vốn của người dân quanh vùng rồi bỏ trốn vừa bị Tòa án


16

ngân hàng nên hợp đồng là vô hiệu, nên ông chỉ phải trả cho ông Hương 100 triệu
đồng tiền nợ gốc. Chính vì vậy Tòa án Nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã phải xét xử
công khai thụ lý vụ án trên để giải quyết.
 Quyết định của tòa:
Toàn án nhân dân tỉnh Tuyên Quang quyết định giữ nguyên quyết định của bản
án sơ thẩm số 133/2009/TLST-KDTM ngày 13/1/2009 do Tòa án Nhân dân huyện
Hàm Yên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào Điều 121, 124, 305, 388,389, 438, 476, 478 BLDS 2005; Điều 243,
245 BL Tố tụng dân sự 2004; Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của
Tòa án Nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ Tài
chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản; Điều 15 Nghị Định 70 ngày
12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí; Quyết định số 1539/ QĐ – NHNN
ngày 30/6/2009 của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản 7% xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện ngày 17/6/2008 của ông Nguyễn Minh Hương tuy
nhiên xác định lại số tiền lãi mà ông Nguyễn Văn Vũ phải trả như sau:
+ Nợ gốc: 100 triệu đồng
+ Lãi suất trong hạn (tính từ ngày 17/7/2007 đến ngày 17/4/2008) ông Vũ đã
hoàn trả đầy đủ cho ông Hương nên tòa án không xét đến.
+ Lãi suất quá hạn (tính từ ngày 18/4/2008 đến ngày 25/7/2009) được tính như
sau: lãi suất quá hạn = 1,31% x 15 tháng x 100 triệu x 150% = 29 475 000
đồng.
Tổng cộng: 129 475 000 đồng.
- Bác đơn kháng cáo của các đương sự.
- Án phí các bên phải nộp theo quy định của pháp luật
 Nhận xét:
Quyết định của Tòa án Nhân dân tỉnh Tuyên Quang hoàn toàn chính xác bởi:
Thứ nhất, lãi suất trong hạn mặc dù là 3%/tháng đã vi phạm quy định vượt quá

điều chỉnh theo diễn biến của nền kinh tế thị trường. Nhưng chính việc banh hành
quá nhiều văn bản hướng dẫn cũng như quy định của các cơ quan khác nhau nên
thực tế áp dụng vào rất khó khăn. BLDS với tư cách là văn bản pháp luật gốc có vai
trò quan trọng để áp dụng trong thực tiễn mà chỉ quy định 1 điều luật quá chung
chung. Những vấn đề như lãi suất cơ bản, lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn lại
không được quy định một cách cụ thể mà để ngân hàng, các cơ quan cấp dưới áp
dụng. Đồng thời cách hiểu về lãi suất thỏa thuận và tính lãi suất của BLDS có sự
chênh so với cách áp dụng của ngân hàng. Nên mặc dù BLDS có quy định nhưng
Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

18

các ngân hành lại vẫn cứ áp dụng cách hiểu của mình trong các hợp đồng. Còn
người dân vẫn cứ áp dụng trên tinh thần tự do thỏa thuận của luật dân sự.
- Do hiểu biết cũng như ý thức của người dân về vấn đề những quy định của
pháp luật về vấn đề này còn hạn chế. Người biết lách luật, cho vay nặng lãi bất chấp
quy định của pháp luật. Người chưa hiểu biết nhiều thì kháng cáo, kiện tụng cũng
mất rất nhiều thời gian của các cơ quan thi hành pháp luật.
- Do trình độ của cán bộ thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế. Nhiều cán bộ tỏ
ra xa rời nhân dân. Nên nhiều trường hợp họ đến nhờ tư vẫn hoặc thắc mắc lại ra bộ
không muốn tiếp với thái độ hững hờ. Đồng thời số lượng vụ án xét xử phúc thẩm
lại cũng chiếm số lượng đáng kể.
- Do nhu cầu vay vốn nhanh gấp nên xảy ra hiện tượng vay nóng với lãi suất
cao, thế chấp nhà cửa, những hợp đồng phát sinh dựa trên lòng tin giữa các bên khi
xảy ra tranh chấp không có chứng cứ….
- Sự quản lý của chính quyền các cấp với hình thức cho vay họ, hụi, phường …
tổ chức, địa điểm cho vay nặng lãi còn lỏng lẻo.

nghiêm đối với những ngân hàng vượt lãi suất theo quy định. Công khai thông tin lãi
suất huy động vốn, lãi suất cho vay cụ thể của các ngân hàng trên cổng thông tin
điện tử chính thống của ngân hàng để tiện tra cứu bên cạnh với việc chỉ niêm yết
thông tin lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn như hiện nay. Hoặc
tạo riêng 1 trang để thuận tiện hơn trong việc tra cứu thông tin.
Thứ ba, cần quy định rõ ràng vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tài sản nói chung
và hợp đồng vay tiền để tiện áp dụng.
Thứ tư, nâng cao giáo dục tuyên truyền pháp luật và phổ biến tới người dân để
họ hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật về lãi suất nói riêng và những lĩnh
vực khác nói chung. Tăng cường và nâng cao phổ biến tới người dân đặc biệt ở
những vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo dân tộc ít người bằng nhiều hình thức
khác nhau chứ không nhất thiết cứng nhắc một hình thức tuyên truyền pháp luật rất
dễ làm người dân nhàm chán. Thêm vào đó khắc phục hiện tượng tuyên tuyền cổ
động theo phong trào lấy thành tích ở nhiều địa phương hiện nay…bên cạnh tuyên
truyền giáo dục là tăng cường phát triển sản xuất trong vùng, bằng nhiều nguồn vốn
vay lãi suất thấp, nguồn viện trợ giúp đồng bào thoát nghèo phát triển kinh tế có như
vậy mới ngăn ngừa hiện tượng khó khăn, vay nặng lãi….
Thứ năm, đối với hình thức họ, hụi, biêu, phường cần phải được kiểm soát sát
sao hơn. Cần thiết phải có sự đăng ký của các chủ họ, hụi, biêu, phường để các cơ

Sinh viên: Lê Kim Dung – Lớp N03 – TL2 – Nhóm 1- MSSV:350333


Bài tập lớn học kỳ - Luật Dân sự module 2

20

quan có thể kiểm soát được hoạt động và nếu trong trường hợp có xảy ra vấn đề thì
còn có cơ sở để tìm người giải quyết.
Thứ sáu, cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng, cán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status