BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-Một số vấn đề về pháp luật trong lĩnh vực vệ sinh môi trường - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ooo
Bài tập thuyết trình
Luật Môi Trường
Chủ đề: Một số vấn đề về pháp luật trong lĩnh vực vệ
sinh môi trường
Lớp: K55CLC
Số thứ tự nhóm: Nhóm 5
Thành viên
Phạm Quốc Thịnh
Nguyễn Khắc Doanh
Nguyễn Việt Linh
Hà Nội, 30 - 4 - 2012
Mục lục




 !"#$%
&'()(*+)( ,-./
0123( ,-."/
&'()( "4#1&56
6
07#$%()891&5
*:848
;<=#>"?
;, @A:A1&5B
;C89#$%()"4#1&5'&D5E
;01&5:A+FG6
;H4"(# IH 8&5HH$JH#47KL

Trên cơ sở những nguyên tắc trên, Nhà nước đã đưa ra những quy định cơ bản về những
chính sách cần thực hiện để đảm bảo vệ sinh môi trường. Các chính sách đó bao gồm:
1. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia
đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
2. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành
chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt
động bảo vệ môi trường.

3. Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
4. Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy
thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
5. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư
cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân
sách nhà nước hằng năm.
6. Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và
các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu
quả các thành phần môi trường cho phát triển.
7. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và
chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và
phát triển ngành công nghiệp môi trường.
8. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết
quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác
quốc tế về bảo vệ môi trường.
9. Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc
gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.
Và trong tình cảnh vấn đề vệ sinh môi trường ngày càng trở nên nóng bỏng, thu hút được
sự chú ý, theo dõi của toàn xã hội, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp
luật nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này. Đây là một mảng đề tài

khác như Khuất Duy Tiến, Lê Văn Lương, Kim Giang, Khương Đình có nồng độ bụi cao
gấp từ 3,8 đến 6,3 lần so với tiêu chuẩn. So sánh kết quả quan trắc bụi tại 45 điểm trong 2
năm cho thấy, có những đường phố có hàm lượng bụi cao gấp đôi, thậm chí gấp 5 lần chỉ
trong vòng 1 năm. Cụ thể như đường Hoàng Quốc Việt năm 2007 nồng độ bụi là 222,2
micrôgam /m³, sang năm 2008 lên tới 414,3 micrôgam.
- Về ô nhiễm tiếng ồn, ở Hà Nội mức ồn trên quốc lộ 5 (Sài Đồng) là 80 dB, quốc lộ
1 (Giáp Bát) là 77 dB. Riêng tiếng ồn vào ban đêm (từ 22g-6g sáng hôm sau), so với tiêu
chuẩn cho phép (50dB) thì kết quả quan trắc đo được ở đoạn đường nào cũng vượt tiêu
chuẩn 1 - 2 lần.
- Vấn đề rác thải cũng được quan tâm nhiều trong thời gian gần đây đặc biệt là rác
thải y tế. Theo báo cáo từ Bộ Y tế, tính đến năm 2005 cả nước có hơn 1047 bệnh viện với
khoảng 140.000 giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế. Trung bình mỗi ngày đêm, mỗi
giường bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải trong đó từ 10-15% là
chất thải độc hại, dễ gây nguy hiểm cần được xử lý theo quy định đặc biệt, bao gồm các
chất tiết dịch, bông băng, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất, các
chất phóng xạ và cả các bộ phận của cơ thể người bệnh bị cắt bỏ sau phẫu thuật. Vẫn
?
theo Bộ Y tế, khoảng 2/3 bệnh viện chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo
vệ sinh. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa
được khử khuẩn khi thải bỏ. Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ
sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. Hiện nay hầu hết các bệnh viện mới chỉ đầu
tư cho việc xử lý chất thải rắn bằng hệ thống các lò đốt. Đốt với chất thải lỏng mới chỉ
dừng lại ở công đoạn thu gom. Trong khi đó nước thải bệnh viện có đến 20% là chất thải
nguy hại. đặc biệt với các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc sản phẩm chuyển hoá của
chúng, nếu xả thải ra bên ngoài không qua xử lý, có khả năng gây quái thai, ung thư cho
người tiếp xúc. Theo kết quả khảo sát của viện Viện y học Lao động và vệ sinh môi
trường cho thấy, nước thải bệnh viện ô nhiễm nặng gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn, tổng
số coliform trung bình là 2 x 107 MPN/100ml cao hơn 20.000 lần tiêu chuẩn thải.
- Ngoài ra, quảng cáo bằng hình thức rao vặt xuất hiện ngày càng tràn lan trên các
tuyến đường, làm ảnh hưởng rất lớn đến vẻ mỹ quan đô thị và vấn đề vệ sinh môi trường.

luật về bảo vệ môi trường của Singapore. Theo các đạo luật ở Singapore thì có nhiều mức
độ vi phạt tiền khác nhau, tuỳ thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của
hành vi gây ra. Ví dụ trường hợp đổ rác nơi công cộng, nếu bị Toà án kết tội thì người vi
phạm sẽ bị phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽ bị phạt tới 20.000$.
Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền một cách rất
linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người vi phạm trả một
khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ tự kết thúc mà không
phải đưa ra Toà.
- Hình phạt tù: Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người vi phạm
ngoan cố, khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tội những khoản
lợi nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn không ngăn chặn được các
hành vi mà người đó gây ra. Ví dụ: theo Đạo luật về môi trường sức khoẻ cộng đồng và
Đạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi đưa
chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù đến 12 tháng. Đối
với những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến 12 tháng.
- Tạm giữ và tịch thu: Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thu
các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ngoài ra, nếu trường hợp thực
phẩm không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu huỷ theo Đạo luật về môi
trường và sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật về mua bán thực phẩm.
II.1.2. Biện pháp hành chính
Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình sự là quan trọng nhất trong việc bảo vệ môi
trường nhưng không vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và dân sự bởi nếu chỉ
riêng chế tài hình sự thì không thể bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả. Không giống
như các chế tài hình sự và dân sự thường là các biện pháp tức thời, các chế tài hành chính
thường có hiệu lực trong việc bảo đảm các biện pháp liên tục, đặc biệt là các hoạt động
gây ô nhiễm. Một số chế tài hành chính đã được chấp nhận là các kế hoạch sử dụng đất,
giấy phép và việc ban hành cá mệnh lệnh thông báo. Cụ thể là:
- Giấy phép, giấy chứng nhận: Việc cấp giấy phép và giấy chứng nhận thuộc thẩm
quyền của Bộ Môi trường nhằm đảm bảo kiểm soát và quản lý chặt chẽ các hoạt động có
khả năng tác động có hại tới môi trường. Cụ thể là trước khi một hoạt động được phép

- Yêu cầu bảo vệ môi trường nơi công cộng: Tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình,
cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ở
nơi công cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập
trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng ( khoản 1 điều 52, Luật
bảo vệ môi trường 2005 )
- Yêu cầu bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và các cơ sở y tế được quy định cụ thể
tại khoản 1 điều 39, Luật bảo vệ môi trường 2005:
+ Có hệ thống hoặc biện pháp thu gom, xử lý nước thải y tế và vận hành thường
xuyên, đạt tiêu chuẩn môi trường;
E
+ Bố trí thiết bị chuyên dụng để phân loại bệnh phẩm, rác thải y tế tại nguồn;
+ Có biện pháp xử lý, tiêu huỷ bệnh phẩm, rác thải y tế, thuốc hết hạn sử dụng bảo
đảm vệ sinh, tiêu chuẩn môi trường;
+ Có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do chất thải y
tế gây ra;
+ Chất thải rắn, nước thải sinh hoạt của bệnh nhân phải được xử lý sơ bộ loại bỏ
các mầm bệnh có nguy cơ lây nhiễm trước khi chuyển về cơ sở xử lý, tiêu huỷ tập trung.
- Ngoài ra, cũng trong điều luật này còn có rất nhiều các quy định khác liên quan tới
bảo vệ môi trường. Bệnh viện, cơ sở y tế khác điều trị các bệnh truyền nhiễm phải có các
biện pháp cách ly khu dân cư, các nguồn nước. Điều này có tác dụng làm tránh gây sự
ảnh hưởng của bệnh đó tới khu dân cư hoặc làm ô nhiễm nguồn nước gây ảnh hưởng tới
sức khỏe và cuộc sống của người dân sống gần khu vực đó. Các cơ sở chiếu xạ, dụng cụ
thiết bị y tế có sử dụng chất phóng xạ phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn hạt nhân và an
toàn bức xạ quy định tại Điều 89 của Luật này và pháp luật về an toàn hạt nhân và an
toàn bức xạ. Ngoài ra, người lao động trong bệnh viện, cơ sở y tế khác có hoạt động liên
quan đến chất thải y tế phải được trang bị quần áo, thiết bị bảo đảm an toàn, tránh lây
nhiễm dịch bệnh từ chất thải y tế.
II.2.2. Các biện pháp xử lý
- Những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định giữ gìn vệ sinh
môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp theo quy định tại khoản 3, Điều

dân cư, nơi công cộng.
+ Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi làm nhà vệ sinh
không đúng quy định gây mất vệ sinh chung.
+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi
đổ chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc,
nơi sản xuất, kinh doanh của người khác.
- Điều 182 BLHS 2005 cũng có quy định về tội gây ô nhiễm môi trường. Đây là chế
tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị người thực hiện tội gây ô nhiễm môi trường. Tội
phạm này bao gồm các hành vi như thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô
nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng thì bị
phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba
năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
- Bên cạnh việc quy định các biện pháp xử lý như vậy, Nhà nước còn khuyến khích
cộng đồng dân cư thành lập các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nhằm thực hiện
một số nhiệm vụ như: kiểm tra các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định về giữ gìn vệ
sinh và bảo vệ môi trường, tổ chức thu gom, tập kết và xử lý, giữ gìn vệ sinh chung vv
 Trên đây là một số quy định về tổng quan pháp luật về bảo vệ môi trường nơi công
cộng. Như vây, pháp luật về môi trường được quy định một cách toàn diện là công cụ
hữu hiệu nhất để đảm bảo sự sạch, đẹp cho môi trường nơi công cộng ở Việt Nam
Phần 3: Pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
I. Khái quát chung
6
Ngày 01 tháng 7 năm 2011, Luật An toàn thực phẩm sẽ có hiệu lực thi hành, Luật
gồm 11 Chương và 72 Điều, có nhiều điểm mới và khác biệt về nội dung so với Pháp
lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003.
Về nguyên tắc quản lí an toàn thực phẩm, trong đó, quy định trách nhiệm trước tiên
về an toàn đối với thực phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách
nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh. Quản lý an toàn thực
phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở

đối với an toàn thực phẩm thuộc về Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ
Công thương.
Ngoài ra, Luật An toàn thực phẩm 2010 tại Chương IX còn quy định về thông tin,
giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm nhằm mục đích nâng cao nhận thức về an
toàn thực phẩm, thay đổi nhận thức, hành vi, phong tục tập quán sản xuất, kinh doanh lạc
hậu, gây mất an toàn thực phẩm góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người.
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định rõ các chính sách của Nhà nước về an toàn thực
phẩm, theo đó, cần phải xây dựng chiến lược bảo đảm an toàn thực phẩm, quy hoạch
vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm
Một số hạn chế
- Luật an toàn thực phẩm đã có những thay đổi kịp thời để bảo vệ sức khỏe của người
tiêu dùng, tuy nhiên việc nâng cao uy tín của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thế giới
chưa được chú trọng.
- Đối với thực phẩm tươi sống như rau quả, thịt, cá… luật vẫn chưa phân biệt rõ ràng
thế nào là thực phẩm cuối cùng và thế nào là thực phẩm còn trong quá trình chế biến.
Đây là một trong những kẽ hở nghiêm trọng. Một doanh nghiệp đưa ra ví dụ: nếu cơ
quan chức năng kiểm tra và phát hiện thực phẩm không đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh
khi thực phẩm đang được vận chuyển thì người bán có thể nêu lý do là thực phẩm này
còn đang trong quá trình chế biến.
- Khoản 1 điều 25 luật An toàn thực phẩm quy định: Dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực
phẩm phải được rửa sạch, khử trùng trước khi sử dụng. Tuy nhiên đối với doanh
nghiệp kinh doanh ăn uống, nhà hàng thì những dụng cụ như chén, đĩa, thìa… không
thể mỗi lần sử dụng là phải khử trùng. Đây là cái cớ để một số cán bộ cơ quan chức
năng lợi dụng để sách nhiễu các doanh nghiệp.
- Luật chưa dứt khoát trong việc cấm không cho dùng hóa chất để bảo quản thực phẩm.
Hiện tại, hầu như 100% các hộ sản xuất kinh doanh đều không biết phân biệt liều
lượng hóa chất thế nào là đảm bảo tiêu chuẩn, thế nào là không đảm bảo. Mặt khác,
do đặc thù nền nông nghiệp nước ta, nông dân, tiểu thương Việt Nam phần lớn làm
theo phong trào, nghe ai nói thế nào thì làm thế đấy, điều này cực kỳ quy hiểm, nhất
là đối với hóa chất độc hại


Chất bảo quản: là phụ gia thực phẩm được sử dụng với mục dích kéo dài thời hạn
sử dụng của sản phẩm bằng cách ngăn chặn sự hư hỏng do ô nhiễm vi sinh vật.
Việc quản lý nhà nước về chất bảo quản được quy định tại quy chuẩn kĩ thuật quốc
gia về phụ gia thực phẩm – chất bảo quản (QCVN 4 – 12:2010/ BYT).
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này quy định các yêu cầu kỹ thuật và quản lý về chất
luợng, vệ sinh an toàn dối với các chất bảo quản duợc sử dụng với mục dích làm phụ gia
thực phẩm.

III.2. Thực trạng sử dụng chất bảo quản thực phẩm
Dùng đúng giới hạn sẽ an toàn nhưng tình trạng lạm dụng đang rất phổ biến nhằm
bảo quản thực phẩm được lâu hơn. Kết quả nguy cơ gây bệnh cho người tiêu dùng rất
cao, kể cả bệnh ung thư. Trong các biện pháp để bảo quản thực phẩm, việc sử dụng các
chất như chống mất màu, mất hương vị, chống nấm mốc, oxy hóa v.v được các nhà sản
xuất sử dụng khá phổ biến.
Một số chất nhất định được sử dụng ở một mức độ cho phép hoàn toàn không gây hại
cho người tiêu dùng. Bộ Y tế đã có danh mục quy định các loại chất được phép sử dụng
và giới hạn, chủng loại v.v rất cụ thể. Nhưng trong thực tế, rất nhiều nhà sản xuất vì
không trang bị quy trình sản xuất đủ đáp ứng, nguyên liệu không tốt, sản phẩm làm ra
tiêu thụ chậm v.v đã lạm dụng các chất bảo quản để kéo dài thời gian chờ phân phối
trên thị trường. Vì vậy, chúng lại trở nên vô cùng nguy hiểm cho người tiêu dùng.
Việc sử dụng các chất bảo quản, dù nằm trong danh mục, vẫn như con dao hai lưỡi.
Khi sử dụng tùy tiện hoặc lạm dụng luôn đưa lại những hậu quả khó lường về sức khỏe.
Chẳng hạn như diêm tiêu, là muối nitrat và nitric, thường được sử dụng trong các sản
phẩm thịt như lạp xưởng, xúc xích, jambon nhằm duy trì màu đỏ cho thịt và có tính sát
khuẩn, nhất là vi khuẩn chịu nhiệt cao, liều lượng dùng cũng được quy định rất rõ. Dùng
diêm tiêu ở mức quá giới hạn cho phép thì sẽ dẫn đến nguy cơ lượng nitric dư kết hợp với
axid amin có trong thịt tạo thành nitrosamin gây ung thư.
Việc sử dụng trái phép chất bảo quản ở nước ta đang trở nên rất phổ biến và không
thể kiểm soát được. Có thể kể ra ở đây những trường hợp các thương gia Trung Quốc bán

ngày,…mà không ghi NSX.
Nghiêm trọng hơn, là việc một số trường hợp sử dụng bao bì, nhãn mác in sẵn bán
trên thị trường để đóng gói bánh trung thu do các cơ sở sản xuất thu công không đăng ký
kinh doanh để tiêu thụ, kể cả ở siêu thị G7Mart cũng phát hiện có bày bán loại hàng này
trong dịp lễ tết trung thu năm 2006 vừa qua. Rồi việc ghi không trung thực các nội dung
bắt buột làm sai lệch thông tin về hàng hoá. Chẳng hạn tại thời điểm cơ sở đang đóng gói
nhưng sử dụng nhãn hàng hoá có NSX sau đó cả 10 ngày ! Hoặc ghi hạn sử dụng trên
nhãn 4 tháng trong khi tiêu chuẩn công bố áp dụng thì cam kết chỉ có 2 tháng. Hoặc có
?
trường hợp cơ sở kinh doanh tự sửa lại HSD theo hướng kéo dài thêm thời gian sử dụng.
Việc ghi các nội dung không bắt buột thiếu căn cứ, khó hiểu gây nhằm lẫn cho người tiêu
dung như sản phẩm cao cấp, sử dụng nguyên liệu thượng hạn,…
Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC) phù hợp tiêu chuẩn trong đó HVNCLC
thì được in to hơn và bố trí tách rời dòng chữ phù tiêu chuẩn, mã số hàng hoá, hoặc lạm
dụng ISO 9001:2000 để đưa lên nhãn hàng hoá là không tuân thủ khuyến cáo của tổ chức
ISO vì ISO 9001:2000 không phải là tiêu chuẩn để làm căn cứ chứng nhận cho sản phẩm
cụ thể. Việt này sắp đến sẽ được chấn chỉnh, thực hiện nghiêm ngặt hơn.

Bên cạnh những cơ sở cung cấp thông tin trên nhãn hàng hoá thiếu trung thực, thiếu
căn cứ như trên thì cũng có cơ sở đạt nhiều thành tích nhưng lại không thể hiện trên nhãn
như trường hợp cơ sở lạp xưởng Bà Chị (Quy Nhơn). Cơ sở này từ năm 1997 đã được
Cục Sở hữu công nghiệp (nay là Cục SHTT) cấp văn bằng bảo hộ quyền SHTT đối với
nhãn hiệu “Bà Chị” cho nhóm sản phẩm lạp xưởng. Năm 2004 Cục Bản quyền tác giã
văn học nghệ thuật (Bộ Văn hoá thông tin) cấp văn bằng bảo hộ quyền tác giả cho tác
giả, đồng thời là chủ sở hữu nhãn hiệu Bà Chị đối với một số tác phẩm hộp đựng, túi
đựng lạp xưởng. Tuy nhiên điều đáng tiết là trong một thời gian dài vừa qua những thành
tựu này chưa được cơ sở thông tin lên nhãn “vì lo làm ăn, không ai tư vấn, hướng dẫn
nên cơ sở này không biết “bà Đỗ Thị Đải chủ cơ sở giải thích. Cho nên thời gian vừa qua
việc tuyên truyền, tập huấn, kiểm tra về nhãn hàng hoá chưa nhiều nên có thể có nhiều cơ
sở sản xuất kinh doanh chưa biết, chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc ghi nhãn

khoản 22 điều 12 có quy định sản phẩm Nhựa, Cao su phải ghi: Thông tin, cảnh báo
vệ sinh, an toàn. Thì tại phụ luc IV không có hướng dẫn cách ghi. Điều này rất bất
cập, nếu áp dụng khoản 22 điều 12 thì trái với điều 19 và phụ lục IV và ngược lại nếu
áp dụng theo điều 19 và phụ lục IV thì trái với điều 12.
- Tương tự như vậy tại khoản 17, 18 về giống vật nuôi, cây trồng theo điều 12 không
phải ghi thông tin cảnh báo vệ sinh an toàn nhưng tại phụ lục IV lại quy định cách ghi
thông tin, cảnh báo vệ sinh, an toàn. Rồi các chất phụ gia thực phẩm, sản phẩm luyện
kim .v.v.
 Xét về mặt pháp lý Nghị định 89/2006/NĐ-CP là chặt chẽ và có nhiều ưu điểm so với
Quyết định 178/1999 của Chính phủ. Nhưng để đảm bảo tính thực thi pháp luật, để
tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất thực hiện việc ghi nhãn hàng
hóa đúng pháp luật cần phải sưa đổi bổ sung cách ghi nhãn hàng hóa mà cụ thể là mỗi
ngành nghề, mỗi lĩnh vực cần có thông tư hướng dân cụ thể cách ghi nhãn hàng hóa
cho từng ngành hàng từng nhóm hàng hóa… để người tiêu dùng dễ nhận biết được
các thông tin hàng hóa cần mua hơn.
V. Cơ sở chế biến thực phẩm
B
V.1. Thực trạng
Một trong những vấn đề nhức nhối trong xã hội thời gian vừa quá đó là việc các cơ sở
chế biến thực phẩm vi phạm nghiêm trọng về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và việc
xả thải chất ô nhiễm ra môi trường. Vừa rồi thì công an tỉnh Cần Thơ đã bất ngờ kiểm
tra cơ sở chế biến hàng thủy sản đông lạnh xuất khẩu và nội địa Thuận Hưng, công an đã
phát hiện và bắt quả tang cơ sở kinh doanh này đã xả thải chất thải trực tiếp ra môi
trường mà không qua xử lý. Xa hơn về trước, có vụ việc nổi tiếng là vụ công ty Vedan
xả nước thải trực tiếp làm ô nhiễm dòng sông Thị Vải. Hay đó là những lò mổ lợn thủ
công ở Hà Nội đang diễn ra hoạt động giết mổ tấp nập nhưng không đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm….
V.2. Quy định của pháp luật
- Trong luật an toàn thực phẩm có quy đinh về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối
với cơ sở chế biến, đó là:

gấp 39 lần mức độ cho phép.
VI.2. Quy định pháp luật về kiểm tra thực phẩm xuất khẩu
- Quản lý an toàn thực phẩm nhập khẩu được quy định tại luật vệ sinh an toàn thực
phẩm và những nghị định hướng dẫn kèm theo. Luật này quy định:
- Tất cả các loại thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế
biến, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm khi nhập khẩu vào Việt Nam
phải được kiểm tra tại các cơ quan kiểm tra nhà nước có thẩm quyền do các Bộ quản
lý ngành chỉ định, trừ các trường hợp sau đây:
+ Thực phẩm mang theo người nhập cảnh để phục vụ nhu cầu cá nhân trong định mức
được miễn thuế nhập khẩu.
+ Thực phẩm trong túi ngoại giao, túi lãnh sự
+ Thực phẩm quá cảnh, chuyển khẩu
+ Thực phẩm gửi kho ngoại quan
+ Thực phẩm là mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu
+ Thực phẩm là mẫu trưng bày nội trợ, triển lãm
- Bộ Y tế có trách nhiệm kiểm tra và cấp thông báo kết quả kiểm tra cho lô hàng nhập
khẩu nhiều loại thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 bộ trở lên. Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn có trách nhiệm kiểm tra và cấp thong báo kết quả kiểm
tra cho lô hàng nhập khẩu nhiều loại thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 bộ
trở lên, trong đó có thực phẩm tươi sống.
 Những bất cập, hạn chế, yếu kém trên cho thấy sự buông lỏng trong công tác quản lý
việc nhập thực phẩm vào Việt Nam ở những cửa khẩu biên giới. Nhân lực, phương
Z
tiện đều thiếu thốn khiến việc kiểm tra không được hiệu quả, hay là do tình trạng
tham nhũng, ăn hối lộ của những người có trách nhiệm kiểm tra khiến tình hình trở
nên phức tạp. Qua đó đòi hỏi cần có sự sát xao hơn nữa của các cơ quan nhà nước cấp
trên, cũng như của các cơ quan trực tiếp tiến hành kiểm tra, cần sửa đổi những hạn
chế trong quy trình kiểm tra thực phẩm nhập khẩu được quy định trong luật, tăng
cường đào tào cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật cho công tác kiểm tra được hiệu
quả hơn.

Tất nhiên, Chính phủ cũng yêu cầu phải bảo đảm 100% sinh vật biến đổi gen lưu
hành trên thị trường đã qua đánh giá rủi ro tại Việt Nam, được dán nhãn và bị theo dõi,
giám sát theo quy định; trên 50% dân số được tiếp cận với thông tin và được tham gia ý
kiến trong quyết định cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học.
Kết quả điều tra của Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn, công bố tại một
cuộc hội thảo về thực phẩm biến đổi gen hồi tháng 9/2007 cho thấy, hầu hết các mẫu thức
ăn chăn nuôi (TACN) có mặt trên thị trường đều chứa sản phẩm biến đổi gen (ngô và đậu
tương) với một tỷ lệ nhất định nào đó. Phần lớn TACN được nhập theo con đường chính
thức thông qua các công ty liên doanh với nước ngoài.
Bộ Nông Nghiệp - Phát Triển Nông Thôn cũng nhận định, rất có thể một số thực
phẩm chế biến từ đậu tương, ngô, cải dầu trên thị trường cũng có chứa sản phẩm biến
đổi gen mà ngoài nhãn mác không hề ghi thông báo "sản phẩm biến đổi gen".
Hiện nay, ba cây trồng biến đổi gen hiện có mặt tại Việt Nam là lúa, ngô và bông.
Trong một số mẫu ngô biến đổi gen (mang gen BT) được trồng lẫn với ngô bình thường
tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, các nhà khoa học đã xác định có hiện tượng trội
gen. Đáng lưu ý, các giống ngô mới này trên đồng ruộng Việt Nam được một số công ty
nước ngoài, thông qua trung gian, đưa trực tiếp cho nông dân trồng và bao tiêu toàn bộ
sản phẩm.
Người dân tại Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cũng đã trồng bông biến đổi gen
một cách tự phát. Thậm chí, tại ĐBSCL và các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Hà Nam,
Nam Định, Nghệ An có tình trạng nhập giống lúa biến đổi gen từ biên giới về bán lại cho
các hộ nông dân gieo trồng.
b. Những mối nguy hại
Thời gian gần đây thực phẩm biến đổi gen (Genetically modified organism -
GMO) trở thành vấn đề thời sự ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trong khi các nhà

khoa học toàn thế giới đang tranh cãi về lợi ích và độc hại của GMO thì hàng triệu người
đã sử dụng chúng một cách vô tư, kể cả một số người Việt.
Những người ủng hộ GMO khẳng định cấy ghép gen là để cứu số dân cư ngày
càng đông đúc trên Trái Đất khỏi chết đói, bởi thực phẩm biến đổi gen có thể sinh trưởng

pháp luật về chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Các sản phẩm dinh dưỡng danh cho trẻ nhỏ phải được ghi nhãn phù hợp theo những
quy định của nghị định này.
- Trong nghị định cũng quy định trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ sở sản
xuất, kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ hoặc người đại diện theo
pháp luật của họ; Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
Trách nhiệm của thầy thuốc, nhân viên y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối
với việc sử dụng những sản phẩm dinh dưỡng của trẻ nhỏ.
VIII.2. Thực trạng
- Vừa qua Thanh tra Bộ đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện Nghị định 21 của Chính
phủ về kinh doanh, sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ (SP DDCTN)
năm 2009-2010.
- Qua kiểm tra tại các cơ sở sản xuất SP DDCTN đã phát hiện nhiều sai phạm, cụ thể:
phát hiện 26/124 sản phẩm ghi nhãn chưa đầy đủ như ghi thiếu hoặc không đầy đủ
dòng chữ “chú ý”, “sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ
nhỏ”; kiểm tra 8 sản phẩm của Công ty MaMa sữa non thì cả 8 sản phẩm đều ghi
nhãn không phù hợp với nội dung nhãn dự thảo trong hồ sơ công bố; nhiều sản phẩm
ghi nhãn chưa đầy đủ nội dung như sữa XO (0-3 tháng tuổi, 6-12 tháng tuổi, 1-9 tuổi),
HiPP 1 Infant plus, sữa bột dinh dưỡng Grow Milk, Fullac (1-3 tuổi) sữa tăng trưởng
với DHA, Dielac 1 2 3 cho trẻ 0-6 tháng tuổi…
- Ngoài ra, các đoàn kiểm tra cũng phát hiện 23/30 sản phẩm bình bú và núm vú giả
được kiểm tra ghi nhãn chưa đầy đủ nội dung theo quy định.
 Nền kinh tế thị trường hiện nay đã khiến cho đồng tiền được đặt lên trên tất cả mọi giá
trị khác. Bất chấp pháp luật, đạo đức xã hội, người ta có thể vi phạm trắng trợn để lợi
nhuận kinh doanh của họ được đảm bảo. Chúng ta không thể trông chờ vào sự thay
đổi theo hướng tích cực của họ, chỉ có sự vào cuộc một cách quyết liệt, xử lý nghiêm
minh các vi phạm thì vấn đề mới có thể được giải quyết.
Phần 4: Pháp luật về vệ sinh môi trường trong lĩnh vực hoạt động
mai táng.
I. Thực tiễn tình hình hoạt động mai táng ở Việt Nam hiện nay

ngày 29/11/2005; Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 ngày
21/11/2007; Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ về xây dựng,
quản lý và sử dụng nghĩa trang; Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới,
việc tang và lễ hội và mới nhất và chi tiết nhất là thông tư 02/2009/TT-BYT của Bộ Y tế
Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng ngày 26/5/2009.
/
II.1. Những nội dung cơ bản
Nôi dung pháp luật của bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng bao gồm những
điểm chính sau:
Trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005, điều 48 đã có những quy định cơ bản về việc
giữ gìn vệ sinh đối với hoạt động mai táng:
Thứ nhất là về nơi chôn cất, mai táng. Nơi đó phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Có vị trí, khoảng cách đáp ứng điều kiện về vệ sinh môi trường, cảnh quan khu dân cư;
b) Không gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sản xuất.
Thứ hai là việc quản, ướp, di chuyển, chôn cất thi thể, hài cốt phải bảo đảm yêu cầu về vệ
sinh môi trường.
Thứ ba là đề cập riêng tới việc mai táng người chết do dịch bệnh nguy hiểm được thực
hiện theo quy định của Bộ Y tế.
Thứ tư là Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư, người dân thực hiện chôn cất trong
khu nghĩa trang, nghĩa địa theo quy hoạch; hỏa táng hợp vệ sinh, xóa bỏ hủ tục mai táng
gây ô nhiễm môi trường.
Thứ năm là về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ mai táng. Các cá
nhân, tổ chức này phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
và pháp luật về vệ sinh phòng dịch.
Thứ sáu, Bộ Y tế đóng vai trò then chốt, có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo,
hướng dẫn thực hiện bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng quy định tại Điều 48.
II.2. Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giữ vệ sinh môi trường trong hoạt động
mai táng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status