LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009
Người thực hiện: Dương Thu
Phương
Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh
Lớp: DS32C Năm thứ: 3/4 Khoa: Luật Dân
Sự
Người hướng dẫn: Nguyễn Minh
Oanh
THS. GV Khoa: Luật Dân
Sự
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn
luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một
cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp
đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong
đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất
hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là
lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định
pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp
luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc
sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế
hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể
và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc.
Với tình hình diễn biến kinh tế ngày càng phức tạp đòi hỏi các nhà chuyên môn phải có
phát và giảm phát thì sẽ tìm ra biện pháp khắc phục. Tuy nhiên với kiến thức còn nhiều
hạn chế và sự eo hẹp về tài liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Tôi xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng
góp bổ ích để đề tài được hoàn thiện hơn.
Trong đề tài gồm những chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng vay tiền
Chương 2: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền và thực
trạng áp dụng
Chương 4: Tác động của lãi suất trong hợp đồng vay tiền tới nền kinh tế hiện nay
Chương 5: Nhận xét và kiến nghị.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
1.1. Khái niệm hợp đồng vay tiền
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài người có
tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Khái niệm cho vay, theo nghĩa chung nhất
được hiểu là việc một người thoả thuận để cho người khác được quyền sử dụng số tài sản
của mình (bao giờ cũng là tài sản cùng loại) trong một thời hạn nhất định với điều kiện có
hoàn trả, dựa trên cơ sở tin tưởng hay tín nhiệm của mình đối với người đó. Hợp đồng
vay tiền là một hợp đồng vay có đối tượng là một tài sản đặc biệt – tiền. Cho vay nói
chung và cho vay tiền nói riêng bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau:
· Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có ít nhất hai bên chủ thể tham gia,
bao gồm bên vay và bên cho vay. Bên cho vay là người có khoản tiền chưa dùng đến,
muốn cho người khác sử dụng để thoả mãn lợi ích của mình, có thể là lợi ích vất chất
hoặc tinh thần. Còn bên vay chính là người đang cần sử dụng số tiền đó để thoả mãn nhu
cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng.
· Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay chính là hợp đồng cho vay tiền. Hợp đồng
này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc căn bản của hợp đồng như nguyên
tắc về tự do và thống nhất ý chí, nguyên tắc tự định đoạt…
· Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành
Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về Hợp đồng
(Điều 388 – BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 – BLDS 2005) tác giả xin
định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: hợp đồng vay tiền là sự thoả thuận giữa các
bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả
cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
quy định.
Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng có sự thoả thuận về lãi suất hoặc lãi suất do
pháp luật quy định. Khi tranh chấp xẩy ra đòi hỏi thẩm phán phải quan tâm để giải quyết
cả về việc trả tiền nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợ quá hạn kể
từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay không có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn
kể từ khi đòi nợ.
1.2. Đặc điểm của hợp đồng vay tiền
Qua những phân tích ở trên, hợp đồng vay tiền có những đặc điểm pháp lý sau:
· Thứ nhất, hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với số tiền vay, khi
bên vay nhận tiền. Bên vay có toàn quyền đối với tiền vay trừ trường hợp vay tiền có điều
kiện sử dụng. Ví dụ: A thoả thuận với B không được sử dụng khoản tiền mà A cho B vay
để chi tiêu vào việc kinh doanh, chỉ được mua sắm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành
ngày…
· Thứ hai, hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ. Nghĩa là các bên chủ thể
trong hợp đồng (bên cho vay và bên vay) đều có nghĩa vụ đối với nhau (theo khoản 1
điều 406 – BLDS 2005), hay nói cách khác mỗi bên chủ thể trong hợp đồng vay tiền có
lãi suất là người vừa có quyền vừa có nghĩa vụ dân sự. Trong nội dung của hợp đồng,
quyền dân sự của bên này đối lập tương ứng với nghĩa vụ bên kia và ngược lại. Tức là
bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, bên vay có nghĩa vụ nhận tiền và
phải trả cả gốc và lãi đúng thời hạn theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Khi
các bên vi phạm nghĩa vụ nêu trên thì sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự.
· Thứ ba, hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài này, vấn đề mà chúng ta đề cập tới là lãi suất trong hợp đồng vay
tiền nên hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù. Các bên chủ thể sau khi
thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Chúng
bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu của bên cho vay.
1.3.2. Kỳ hạn
Hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định hoặc không xác định). Nếu
hợp đồng vay tiền không thoả thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tiền được coi là không có
kỳ hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng bất kỳ lúc nào.
Tuy nhiên để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền, bên cho vay phải báo trước cho bên
vay một thời gian hợp lí để thực hiện hợp đồng. Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực
hiện nghĩa vụ của mình (Điều 447 – BLDS 2005). Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên
vay có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận
việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay tiền có
ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu khởi
kiện yêu vầu giải quyết tranh chấp về hợp đồng.
Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ được thì phải chịu trách nhiệm
dân sự do vi phạm hợp đồng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng ta đang đề
cập tới hợp đồng vay có lãi suất nên bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn theo
lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời
điểm trả nợ, nếu có thoả thuận (Khoản 4 Điều 474 – BLDS 2005).
1.4. Hình thức của hợp đồng vay tiền
Hình thức của hợp đồng vay tiền có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản. Hình thức miệng
thường được áp dụng trong những trường hợp như số lượng tiền cho vay không lớn hoặc
giữa các bên có mối quan hệ thân quen. Trường hợp cho vay bằng miệng nếu xảy ra tranh
chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứng minh được là mình đã cho vay một số tiền nhất
định. Trong thực tế nếu hình thức của hợp đồng bằng miệng có tranh chấp thì rất khó xác
định quyền và nghĩa vụ của các bên. Để làm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết hợp đồng
vay tiền, các bên cần phải ký kết hợp đồng bằng văn bản. Các bên có thể tự lập văn bản
hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận văn bản đó.
1.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên
1.5.1. Bên cho vay
Nếu hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả lại
tiền và lãi bất cứ thời gian nào nhưng phải thông báo cho bên vay một thời hạn hợp lí.
tiền này do các nhà con khác góp họ. Theo thứ tự bốc họ, khi người cuối cùng bốc họ thì
dây họ chấm dứt.
Bản chất truyền thống của góp họ là những người chơi họ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.
Dưới hình thức góp họ, thành viên góp họ có được số vốn tập trung để có điều kiện kinh
doanh hoặc sử dụng vào những công việc cần chi tiêu lớn. Những hình thức chơi họ có
tính chất lành mạnh được Nhà nước khuyến khích. Ngược lại Nhà nước cấm hình thức
“chơi họ” để nhằm mục đích cho vay nặng lãi giữa nhà cái với các nhà con, các hình thức
chơi họ nhằm lừa đảo hoặc các hình thức biến tướng của chơi họ là đánh bạc… Những
trường hợp này, tuỳ theo mức độ vi phạm nặng nhẹ mà bị xử lí hành chính, chịu trách
nhiệm dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngày 27/11/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định về hình
thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia
họ. Theo nội dung Nghị định, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức họ để cho vay nặng lãi,
lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc các hành vi trái pháp luật khác để chiếm đoạt tài sản
của người khác. Nghị định nêu rõ, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia
họ là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân. Có hai hình thức họ là họ không lãi và họ
có lãi, trong đó họ có lãi gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Chủ họ phải trả lãi đối
với các phần họ giao chậm theo mức lãi do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận
hoặc không thỏa thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước
công bố tương ứng với thời gian giao chậm tại thời điểm giao các phần họ. Trong trường
hợp họ có lãi thì lãi suất đối với phần họ được thực hiện theo quy định tại Điều 476 của
BLDS 2005.
Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải
quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia
họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Chương 2
LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN
2.1. Định nghĩa lãi suất (interest rate)
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vay tiền sẽ không
có lãi suất. Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không được vượt quá “150% của lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương
ứng”
(
[4]
)
. Như vậy, nếu các bên thoả thuận về lãi suất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất
của Ngân hàng Nhà nước công bố thì khi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án
chấp nhận không vượt quá “150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại
cho vay tương ứng”.
2.2. Đặc điểm của lãi suất
Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của cả
bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
· Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản: Qua nghiên
cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp đồng đầu tư, cho thuê tài chính
hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở để tĩnh lãi. Tuy nhiên, lãi suất chủ yếu vẫn được tồn
tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồng vay bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay
sau một thời hạn nhất định do đó phải có một tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời
hạn vay. Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khác như thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở để
tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác như chi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong
hợp đồng vay thì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do
pháp luật quy định.
· Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh do thoả
thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của lãi suất là một tỉ
lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vay gốc trong một thời
hạn nhất định. Do đó, sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu như không tồn tại số tiền gốc mà các
bên thoả thuận được trong hợp đồng vay tài sản.
· Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian vay): Như đã
phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay. Do đó, tương ứng với số
trong thị trường liên ngân hàng. Việc phân biệt khái niệm lãi suất trong các quan hệ này
là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữa chúng:
+ Lãi suất tiền gửi được áp dụng để tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền. Lãi suất tiền
gửi có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, vào quy mô tiền gửi. Sự biến
động lãi suất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn của các
ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khối tiền giao dịch và qua đó tới lạm phát. Chính vì
vậy việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế
đẩy lùi lạm phát.
+ Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả ngân hàng.
Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi
bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau cũng như mức
rủi ro khác nhau. Sự thay đổi lãi suất tiền vay có tác động tới quy mô cho vay và khả
năng cung ứng tiền của hệ thống ngân hàng trung gian. Vì cơ chế này mà Ngân hàng
Trung ương có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách
ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng đối với nền kinh tế.
+ Lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng trung gian cho khách hàng vay dưới hình
thức chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và thoả mãn các điều kiện
chiết khấu theo quy định. Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên mệnh giá của giấy
tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Mức chiết
khấu được quyết định bởi cung – cầu vốn trên thị trường tín dụng, căn cứ vào chất lượng
của giấy tờ có giá, thời hạn chiết khấu cũng như quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng.
+ Lãi suất tái chiết khấu (lãi suất tái cấp vốn) áp dụng khi ngân hàng trung ương tái cấp
vốn cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến
hạn thanh toán của các ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu do Ngân hàng Trung ương ấn
định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong thời kỳ và chiều hướng biến động
lãi suất trên thị trường tiền tệ. Ngân hàng Trung ương các nước thường hình thành một
cặp lãi suất tái cấp vốn tạo nên một khung lãi suất chỉ đạo nhằm kiểm soát và điều tiết sự
biến động lãi suất trên thị trường đặc biệt là mức lãi suất ngắn hạn.
+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị
trường liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định hàng ngày vào một
Hiện nay lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương
mại tốt nhất của một nhóm ngân hàng (chiếm phần lớn thị phần tín dụng) do thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quy định.
- Lãi suất tín dụng Nhà nước áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau
trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu. Loại lãi suất này có thể
do Nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, vào các yếu tố
khác như: sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của Nhà nước… hoặc
được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu của Nhà nước. ở Việt
Nam hiện nay, Ngân hàng Nhà nước được giao nhiệm vụ tổ chức đấu thầu tín phiếu Kho
bạc Nhà nước.
2.3.2. Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối quan hệ giữa lạm phát và
giảm phát)
(
[2]
)
Theo giá trị thực, lãi suất được phân chia thành lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế.
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm
nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Ví dụ: trong hợp đồng vay tiền quy định lãi suất mà bên vay phải trả cho bên cho vay là
14%/năm. Đây chính là lãi suất danh nghĩa vì đã chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát.
- Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm
phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát
Ví dụ: Lãi suất danh nghĩa là 18%/năm; tỷ lệ lạm phát là 8%/năm
Ta sẽ có lãi suất thực tế bằng: 18% – 8% = 10%/năm
Như vậy lãi suất thực tế là 10%/năm.
Từ công thức trên ta có thể gọi:
+ i là lãi suất danh nghĩa;
+ ir là lãi suất thực tế;
+ p là tỷ lệ lạm phát.
Trả lãi theo mức độ cố định hay thả nổi là bản chất của hợp đồng tài chính. Cách phân
loại theo tiêu thức này chia lãi suất thành hai loại là lãi suất cố định và lãi suất thả nổi.
Lãi suất cố định được giữ cố định trong suốt thời hạn vay. Còn lãi suất thả nổi có thể thay
đổi theo chỉ số lạm phát.
Lãi suất cố định có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước số tiền lãi được
trả và phải trả. Nhưng cũng có những nhược điểm: bị ràng buộc vào một lãi suất nhất
định trong thời gian nào đó, dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào. Nó thường
được áp dụng trong trường hợp lãi suất thị trường tương đối ổn định.
Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên nếu khi nhận và trả tiền đều tính theo cùng mức lãi
suất chung là lãi suất hiện tại thường áp dụng trong các thời kỳ lãi suất thị trường biến
động nhiều, khó dự đoán chính xác chiều hướng cũng như mức độ biến động lãi suất.
2.3.4. Phân loại theo cách đo lường lãi suất
(
[9]
)
Theo cách đo lường lãi suất, lãi suất được chia thành: lãi suất đơn, lãi suất kép và lãi suất
hoàn vốn.
- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt thời kỳ hạn vay. Loại lãi
suất này thường được áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn và việc trả nợ một lần
khi đến hạn.
Ta có thể tính lãi suất đơn theo công thức như sau:
Số tiền lãi = vốn gốc x lãi suất x số thời kỳ gửi vốn
(Số thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất)
Ví dụ: Khoản cho vay 1.000.000 đồng (1 triệu đồng); lãi suất 15%/năm; thời hạn vay 90
ngày, 1 năm = 360 ngày. Khoản tiền lãi thu được như sau:
1. 000. 000 x 15% x 90/360 ngày = 37.500 đồng
- Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời
hạn sử dụng tiền vay. Nó thường áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh
toán trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
- Lãi suất hiệu quả tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho 1 năm.
suất cho vay ngắn hạn lớn hơn lãi suất cho vay dài hạn; Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao
hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi các tổ chức kinh tế. Tình trạng này
làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó.
2.4.2. Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1995
(
[11]
)
Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất:
chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương để đảm bảo cho bên
cho vay và bên vay đều có lợi, xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch lãi suất cho vay giữa các
thành phần kinh tế; thay vì ấn định lãi suất cụ thể bằng quản lý lãi suất theo một khung,
bao gồm lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. Những thay đổi về lãi
suất đã được cải cách linh hoạt hơn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn
khống chế trực tiếp lãi suất, điều này làm giảm tác dụng kích thích và điều tiết hoạt động
kinh doanh của các ngân hàng.
2.4.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7 năm 2000
(
[12]
)
Ngân hàng Nhà nước trực tiếp ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn
bản về điều hành lãi suất. Thay vì quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi – lãi suất
tối đa tiền vay, Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn
cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình
quân là 0,35%/tháng (4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương
mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính
(khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn trước). Đến cuối tháng 1 năm 1998,
Ngân hàng Nhà nước xoá bỏ chênh lệch lãi suất chỉ còn quy định trần lãi suất cho vay.
Cùng với nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh trần lãi
suất cho vay theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế đặc biệt trong hai năm 1998,
1999. Trong năm 1997, Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi hình thức tái cấp vốn chuyển
trần lãi suất. Mặc dù vậy, việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín
dụng các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tự do hoá lãi suất hoàn toàn sau này.
2.4.5. Giai đoạn từ tháng 6 năm 2002 đến cuối năm 2008 (đến khủng hoảng kinh tế tài
chính toàn cầu cuối năm 2008)
Ngân hàng Nhà nước có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong điều hành lãi suất.
Cơ chế lãi suất thoả thuận từ ngày 01/6/2002 đã xoá bỏ biên độ khống chế lãi suất cho
vay, cho phép các tổ chức tín dụng được tự do thoả thuận lãi suất cho vay bằng đồng Việt
Nam dựa theo quan hệ cung – cầu vốn và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng. Sang
những tháng đầu năm 2003, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh cơ chế điều hành lãi
suất mà theo đó lãi suất tái cấp vốn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu là lãi
suất sàn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở đóng vai trò là công
cụ điều hành thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài hình thức tái cấp vốn thông
thường, Ngân hàng Nhà nước qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và thanh
toán bù trừ. Ngân hàng Nhà nước còn áp dụng lãi suất tiền gửi của các tổ chức tín dụng
tại Ngân hàng Nhà nước làm phương tiện thường xuyên điều tiết lãi suất liên ngân hàng;
tiếp tục công bố lãi suất cơ bản nhằm mục đích định hướng lãi suất thị trường.
Cơ chế lãi suất mới nhằm đảm bảo tính thị trường của lãi suất và tạo điều kiện khai thác
triệt để sức mạnh của cơ chế thị trường trong các hoạt động điều tiết kinh tế vĩ mô và
kinh tế vi mô. Các tổ chức tín dụng đã chủ động linh hoạt hơn trong quyết định đưa ra lãi
suất kinh doanh của mình. Các nguồn lực đã được khai thác nhiều hơn cho sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên hiệu quả của chính sách vẫn còn hạn chế do các yếu tố nền tảng của cơ
chế này đang trong quá trình hoàn thiện.
2.4.6. Giai đoạn từ khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu cuối năm 2008 đến nay
Sự biến đổi của nền kinh tế mà đặc biệt là khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới
lãi suất và ngược lại lãi suất sẽ giúp nền kinh tế sau khủng hoảng khắc phục được những
hậu quả của suy thoái, chống suy giảm kinh tế và kiềm chế lạm phát. Đó là lí do vì sao
không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đã có những chính sách thay đổi lãi suất để phù hợp
với tình hình hiện tại. Trong thời gian này lạm phát đang lan tràn khắp nơi trên thế giới
và làm rung chuyển một số thị trường tài chính. Chính phủ Trung Quốc đã công bố các
biện pháp hút bớt tiền ra khỏi hệ thống tài chính để kiềm chế lạm phát. Tại Mỹ các nhà
cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước ta còn thiếu cụ thể, tính
khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luật khung, muốn thi hành được trên thực tế
phải có Nghị định hướng dẫn thi hành. Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào
tình trạng này. Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suất một cách
trực tiếp:
“Điều 476. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi
suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước
công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.
Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quá khái quát sẽ
tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi và lợi dụng nó để
kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lành mạnh.
Lãi suất cơ bản được quy định trong điều 476 bỗng dưng đã gây tranh cãi xem có nên sửa
đổi hay không. Lãi suất này tự dưng trở thành mốc để suy ra lãi suất trần. Ví dụ có thời
điểm lãi suất cơ bản lãi 12%/năm suy ra lãi suất cho vay tối đa sẽ ở mức 18%/năm. Tức
là một điều luật nhằm ngăn chặn hiện tượng cho vay nặng lãi ngoài xã hội bỗng trở thành
yếu tố điều tiết lãi suất của hệ thống ngân hàng chính thống.
Về nguyên tắc, lãi suất cho vay cụ thể sẽ do các bên thoả thuận; tuy nhiên, nhằm ngăn
ngừa hiện tượng cho vay nặng lãi và cũng tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp
về lãi suất hoặc trong trường hợp không có cơ sở xác định rõ mức lãi đã thỏa thuận, mà
pháp luật dân sự quy định phương thức để xác định một mức lãi suất nào đó được xem là
hợp lý và tiêu chuẩn được BLDS năm 1995 lựa chọn là căn cứ vào cơ chế điều hành trần
lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, tức mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy
định từng thời điểm đối với loại cho vay tương ứng.
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất về lãi suất nhưng so với
Bộ luật này, BLDS 2005 có những thay đổi căn bản. Đối với BLDS 1995 thì chỉ quy định
“lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của mức lãi suất
241/2000/QĐ-NHNN1 vào trong BLDS mới một cách hợp lý và tất yếu.
Như vậy, nếu như cơ sở tồn tại của tiêu chí so sánh đã được BLDS năm 2005 giải quyết
hợp lý, thì trong lời văn của điều luật lại phát sinh một vấn đề khác, đó là sự khác nhau
về mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép (bị khống chế) giữa 2 quy định tương ứng
trong hai Bộ luật dân sự. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần thống nhất cách hiểu và cách
tính toán mức lãi suất cho vay tối đa này của BLDS năm 2005 như thế nào để không
phạm luật? Hay nói cách khác, với quy định trên ta cần quan niệm giá trị 150% là của
phần vượt quá so với lãi suất cơ bản hay là tỷ lệ so sánh thuần tuý giữa chúng với nhau –
lãi suất thoả thuận với lãi suất cơ bản?
Theo LuËt s Trương Thanh Đức
([17])
, «ng đã mặc nhiên xác định theo cách: so sánh tỷ lệ
thuần tuý giữa mức lãi suất thoả thuận với lãi suất cơ bản trong giới hạn luật định là
150% (mức lãi suất thoả thuận tối đa được phép = lãi suất cơ bản x 150%), ví dụ: nếu lãi
sut c bn l 1% thỡ lói sut cho vay ti a khụng vt quỏ 150% l mc 1,5% (= 1% x
150%).
Vi cỏch th hin li vn iu lut ca BLDS thỡ luụn cú th a n cho ngi c quan
nim ging nh Lut s Trng Thanh c. Nhng t nhng bn khon có sơ sở, Luật
s Đỗ Hồng Thái li có cỏch hiu khỏc v tinh thn cng nh ni dung ớch thc ca iu
lut ny
([18])
:
ã Theo quy nh ca BLDS nm 1995 (Khon 1, iu 473) thỡ mc lói sut tho thun ti
a khụng vt quỏ 50% (ca lói sut trn do NHNN quy nh i vi loi cho vay tng
ng). Trong thc tin ỏp dng phỏp lut sut thi gian qua thỡ cỏi ngng 50% ny luụn
c hiu v vn dng nht quỏn: lói sut tho thun khụng c vt gii hn nhiu
hn gp ri, ngha l phn vt quỏ phi ớt hn hoc bng 50% (v c xỏc nh theo
cụng thc: mc lói sut tho thun ti a c phộp = lói sut trn + lói sut trn x
50%). Hin nhiờn s l phi lý nu xem ngng 50% y ch l phõn na (ca lói sut trn
do NHNN quy nh) bi khụng l phỏp lut li buc cỏc tho thun dõn s trong xó hi
sẽ được hiểu và tính toán bởi công thức: mức lãi suất thoả thuận tối đa = lãi
suất cơ bản x 150%. Như vậy, Đ476 BLDS năm 2005 còn ẩn chứa điều gì chưa rõ rµng
vµ cần có sự giải thích kịp thời của Quốc hội, trước hết là sự hướng dẫn áp dụng pháp
luật của liên ngành các cơ quan tư pháp trung ương về vấn đề nêu trên.
Đối với Luật sư Luu Trường Hận
([20])
, ông đưa ra cách hiểu tương tự Luật sư Đỗ Hồng
Thái: theo BLDS năm 1995. Gọi A: lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định, thì
mức lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của A
(nghĩa là ngoµi mức lãi suất cơ bản là A thì Ngân hàng có thể được phép cho vay vượt
mức lãi suất cơ bản nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cơ bản, tức là lãi suất
cho vay tối đa mà các Ngân hàng có thể áp dụng = A + A x 50%). Ta có: A + A x 50% =
A (1+50%) = A(100%+50%) = A x 150% = A x 1,5 lần (để chuyển các số ra cùng một
đơn vị, ta đổi: 1 = 100%).
Tại thông tư số 01 – TT/LT ngày 19/6/1997 của Liên tịch Tòa án nhân dân Tối cao –
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao – Bộ Tư Pháp – Bộ tài Chính: Hướng dẫn việc xét xử và
thi hành án về tài sản cũng hướng dẫn theo cách tính trên, như sau: Nếu mức lãi suất do
các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định
đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 Bộ luật
dân sự buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà
nước quy định đối với loại vay tương ứng
([21])
. Ví dụ: C vay của D 10.000.000 đồng vào
ngày 30/12/1995 với thời hạn vay là 6 tháng và với lãi suất là 4%/tháng. Hàng tháng C đã
phải trả lãi cho D. Tháng 7/1996 C ngừng trả lãi cho D. Do đòi nhiều lần không được,
nên tháng 11/1996 D khởi kiện yêu cầu toà án buộc bên C phải trả cả nợ gốc và lãi cho D.
Khi giải quyết vụ kiện này, toà án buộc C trả cho D tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và
tiền lãi theo cách tính như sau:
- Thời điểm C vay D là tháng 12 – 1995. Theo Quyết định số 381-QĐ/NH1 ngày 28 – 12
– 1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng. Như vậy toà
Ví dụ: Thời điểm C vay D là tháng 03-2008.
Theo Quyết định số 479-QĐ/NHNN ngày
29/02/2008 thì lãi suất cao cơ bản là
8,75%/năm. Như vậy Toà án chỉ chấp nhận
mức lãi suất của hợp đồng vay nợ là
21,875%/năm (8,75% + 8,75% x 150% =
21,875/năm). Từ Ví dụ trên, áp dụng to¸n
học ta có công thức tính lãi suất cho vay như
sau: Gọi A: là Lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất
cho vay tối đa. Ta có: B= A + A x 150% = A
(1+150%) [Qui đổi 1=100%] = A (100%
+150%) = A x 250% hay B = A x 2,5 lần
Tóm lại: Theo BLDS 1995, nếu mức lãi suất
do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi
suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy
định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm
vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473
BLDS1995 buộc bên vay phải trả lãi bằng
150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng
Nhà nước quy định đối với loại vay tương
ứng.
Theo BLDS 2005, nếu mức lãi suất do các
bên thoả thuận vượt quá 150% của lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối
với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì
toà án áp dụng khoản 1 Điều BLDS 2005
buộc bên vay phải trả lãi bằng 250% mức lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố
đối với loại vay tương ứng.
Như vậy với cách hiểu và tính toán trên ta có: Gọi A: Lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà
lãi suất cao sẽ dự tính việc đầu tư không có lãi nên các doanh nghiệp không vay là đương
nhiên. Còn cá nhân, họ cần tiền cũng có thể để đầu tư, cũng có thể vay để chi trả cho một
công việc nào đó hay để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày… lãi suất cao khiến những
người này không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay. Và như vậy
nguồn tiền trong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không những không
đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cá nhân… muốn vay.
Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
cũng không ổn. Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đối tượng ưu tiên mà
pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọi nhân tố ảnh hưởng đến lãi
suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển hay chậm phát triển…). Lãi suất thấp sẽ
làm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm sự phát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của
bên cho vay. Nhìn một cách khách quan, lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay.
Nhưng cái lợi trước mắt không phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới.
Như vậy, việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều không mang lại hiệu quả. Nhà
nước tính toán làm sao để pháp luật có những quy định hợp lý không làm giảm hiệu quả
của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia
hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền vững và lâu dài cho nền kinh tế.
Hơn nữa có thể thấy sự bất cập và thiếu chặt chẽ còn thể hiện ở chỗ: lãi suất được quy
định trong BLDS 2005 phải ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng
Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Trong trường hợp A cho B vay với lãi
suất là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố trong thời gian 1 năm
nhưng hết 1 năm B vẫn chưa trả cho A, lúc này phát sinh lãi suất quá hạn và lãi suất này
được tính như thế nào? Nếu A và B có thoả thuận về mức lãi suất quá hạn nhưng mức lãi
suất này lại vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (vì lãi
suất đúng hạn mà A và B thoả thuận đã bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà
nước) thì lúc này hậu quả sẽ ra sao? Việc áp dụng Điều 476 BLDS 2005 có thực sự hiệu
quả? Nếu trường hợp A và B không thoả thuận về lãi suất quá hạn thì việc tính lãi suất
này sẽ theo quy định của pháp luật, tức là vẫn ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơ
bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, như vậy việc phân loại lãi suất đúng hạn và lãi suất
quá hạn không còn ý nghĩa bởi vì cách tính lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn là như
hàng, qua đó đã vô hiệu hóa một tín hiệu quan trọng nhất để điều hành chính sách tiền
tệ…
Như vậy chiếu theo Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 “Lãi suất cho vay do các bên thỏa
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với
loại cho vay tương ứng” thì rất nhiều Ngân hàng đang vi phạm luật bởi lãi suất cơ bản do
NHNN công bố hiện chỉ 7%/năm tức lãi suất cho vay không được vượt quá 10,5%/năm.
Dường như, thời gian qua nắm được điểm yếu này, các Ngân hàng tha hồ nâng lãi suất,
ký những hợp đồng phạm luật mà không e ngại. Luật sư Nguyễn Sa Linh
(
[24]
)
khẳng
định: “Nếu tranh chấp về lãi suất được đưa ra Tòa, những hợp đồng có lãi suất cao hơn
150% lãi suất cơ bản sẽ bị tuyên vô hiệu vì phạm luật và khách vay có quyền trả với lãi
suất 150% lãi cơ bản”. Còn Luật sưNguyễn Thanh Lương
(
[25]
)
phân tích “dù trong hợp
đồng có điều khoản không được tiết lộ những điều khoản cho bên thứ 3, nhưng luật cũng
quy định một số cơ quan có thẩm quyền được phép biết và Tòa án nằm trong số đó. Còn
việc ngân hàng cho rằng lãi trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận thì vẫn vi phạm Điều 476 Bộ
luật Dân sự”.
Một vấn đề cũng rất cần quan tâm đó là hiện tượng các Ngân hàng hiện nay cho vay với
các điều kiện vô lý. Ví dụ: muốn vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đầu tư phải
thoả mãn điều kiện có 10 héc ta (ha) đất không thì phải trả lãi suất cao mới được vay.
Nhưng rất ít hộ dân có tới 10 ha đất. Tác giả cho rằng không nên quy định hạn mức mà
điều kiện cho vay cần phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì nếu hộ dân có 1, 2 sào thì chỉ được vay
1, 2 triệu đồng như vậy không đủ để đầu tư. Hơn nữa, nếu trên mảnh đất “1, 2 sào” đó lại
có tiềm năng phát triển thì như vậy quy định của các ngân hàng lại gián tiếp làm ảnh