MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………
1
NỘI DUNG………………………………………………………………………..
1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ HOẠT
1
ĐỘNG MÔI GIỚI BẢO HIỂM…………………………………………………
1. Kinh doanh bảo hiểm……………………………………………………..
1
2. Hoạt động môi giới bảo hiểm……………………………………………..
1
3. Vai trò của hoạt động môi giới bảo hiểm………………………………...
4
II. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM……………………………………………………
1. Tập quán, thói quen kinh doanh…………………………………………
2. Môi trường pháp lý………………………………………………………..
3. Khả năng tài chính………………………………………………………..
4. Tác động của các quy tắc, tập quán quốc tế……………………………..
III. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI BẢO HIỂM TẠI VIỆT
5
5
5
6
6
7
NAM VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN…………………………………………..
hiểm của những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường nhưng cũng cần phải biết sản phẩm nào
có điều kiện bảo hiểm rộng hơn và mức phí rẻ hơn, phù hợp hơn? Chính vì vậy đã xuất hiện
các nhà môi giới bảo hiểm. Có thể nói, môi giới bảo hiểm là một hoạt động có ảnh hưởng rất
lớn đến kinh doanh bảo hiểm. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, trong bài viết sau nhóm em đi sâu
“Tìm hiểu về hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật về môi giới bảo hiểm.”
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
BẢO HIỂM.
1. Kinh doanh bảo hiểm.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở bên mua bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm và các
văn bản có liên quan như Luật doanh nghiệp, Nghị định 45/2007/ NĐ – CP, Nghị định
46/2007/ NĐ – CP.
2. Hoạt động môi giới bảo hiểm
2.1. Khái niệm về hoạt động môi giới bảo hiểm.
Hoạt động môi giới bảo hiểm là hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn cho bên
mua bảo hiểm về sản phẩm, điều kiện, mức phí và doanh nghiệp bảo hiểm, các công việc liên
quan đến đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng của bên mua.
Về bản chất, hoạt động môi giới bảo hiểm rất quan trọng, giúp cho người mua bảo hiểm
có thể hiểu rõ được những vấn đề mấu chốt trong việc lựa chọn hình thức bảo hiểm phù hợp và
doanh nghiệp bảo hiểm uy tín, tránh được những rủi ro lớn có thể xảy ra, gây thiệt hại cho
người mua bảo hiểm. Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng tương đối khó hiểu, nhất là
đối với khách hàng, những người không nhiều chuyên môn và kiến thức về bảo hiểm. Hơn nữa,
hợp đồng bảo hiểm được công ty quy định trước, do đó cần phải có những chuyên gia về lĩnh
Lớp N01 – Nhóm 01
b)Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợppháp của bên mua
bảo hiểm;
c)Bồi thường thiệt hại cho bên mua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra.”
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 3
Vì những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường với những rủi ro khá lớn. Các nước trên thế giới
đều bắt buộc người môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với
trách nhiệm về thiệt hại nghề nghiệp mà họ có thể gây ra để cho người môi giới bảo hiểm được
đảm bảo về trách nhiệm bồi thường dân sự trong trường hợp họ có sai sót về nghiệp vụ.
Điều 92 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải
mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo
hiểm hoạt động tại Việt Nam”.
2.4. Về chế độ tài chính của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Pháp luật quy định doanh nghiệp phải đáp ứng đủ số vốn pháp định. Vốn pháp định của
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm khác phải đủ lớn để có
thể tăng cường khả năng thanh toán cho doanh nghiệp cũng như cho khách hàng và là điều kiện
để doanh nghiệp phát triển công nghệ thông tin trong quản lý hợp đồng bảo hiểm, rủi ro bảo
hiểm và đầu tư.
Điều 94 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:
"1. Chính phủ quy định mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm.
2. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải
luôn duy trì vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định."
Mức vốn pháp định được quy định tại Điều 4 Nghị Định 46 như sau :
Điều 4 Vốn pháp định:
đồng thời sử dụng kỹ thuật phân tích sẽ tư vấn những dịch vụ tốt nhất cho khách hàng có sản
phẩm tốt và phí đóng thích hợp. Một mặt, qua tiếp xúc khách hàng, điều tra thị trường, người
môi giới bảo hiểm sẽ phản ánh với công ty bảo hiểm để có những điều chỉnh nhằm thúc đẩy thị
trường.
Thứ năm, hoạt động môi giới bảo hiểm góp phần thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Ở
nước ngoài, nghề môi giới bảo hiểm tương đối phát triển, các thương nhân thường có tập quán
là dựa vào môi giới bảo hiểm để giúp họ tìm nhà bảo hiểm, sắp xếp các dự án và làm thủ tục
giải quyết bồi thường. Nếu trong thị trường còn thiếu người môi giới bảo hiểm cung cấp các
dịch vụ quản lý rủi ro, không đáp ứng được nhu cầu giảm bớt rủi ro đầu tư của thương nhân
nước ngoài, thì niềm tin đầu tư sẽ bị giảm đi.
II. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI BẢO HIỂM TẠI
VIỆT NAM:
1. Tập quán, thói quen kinh doanh
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 5
Thị trường kinh doanh môi giới bảo hiểm không chỉ phụ thuộc vào năng lực của bản
thân doanh nghiệp kinh doanh môi giới bảo hiểm mà còn phụ thuộc rất lớn vào tập quán sinh
hoạt, tập quán kinh doanh và trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung. Không phải là yếu
tố duy nhất nhưng tập quán, thói quen trong kinh doanh của nền kinh tế là nhân tố có ảnh
hưởng rất lớn.
Tập quán kinh doanh là một trong số những nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến hoạt
động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Thói quen kinh doanh, giao dịch trực tiếp không thông
qua các tổ chức trung gian đã hạn chế sự phát triển của hoạt động trung gian môi giới nói
chung và môi giới bảo hiểm nói riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự
phát triển về số lượng các công ty bảo hiểm, các loại hình bảo hiểm, sự phức tạp trong các điều
kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm, môi trường kinh doanh quốc tế, việc áp dụng các tập
quả, là điều kiện để thu hút được khách hàng và các công ty bảo hiểm.
Vừa qua, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 125/2012/TT-BTC hướng dẫn chế độ tài
chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Điểm nổi bật trong thông tư này là các quy định dành cho chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài.
Theo đó, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước
ngoài được kinh doanh bảo hiểm gốc các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm sức
khoẻ trừ bảo hiểm hàng không, bảo hiểm vệ tinh; Trường hợp muốn mở rộng thêm loại hình
bảo hiểm hàng không, bảo hiểm vệ tinh thì phải bổ sung vốn điều lệ đã góp (hoặc vốn được
cấp) cao hơn mức vốn pháp định là 50 tỷ đồng Việt Nam.
Thông tư cũng quy định cụ thể về mức trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm, nguyên
tắc đầu tư tài chính, biên khả năng thanh toán tối thiểu, phân phối lợi nhuận, chế độ báo cáo và
công bố thông tin… cho chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Có thể nói
rằng, cách quy định này đảm bảo được nguyên tắc không phân biệt đối xử doanh nghiệp trong
và ngoài nước.
Như vậy với mức vốn điều lệ quy định như thông tư là không quá khó đối với các doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm ở VN.Tuy nhiên vốn điều lệ là một chuyện còn vốn chủ sở hữu lại là
chuyện khác.Hiện nay vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp là không nhiêu nên cũng tạo ra
khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
4. Tác động của các quy tắc, tập quán quốc tế
Là một lĩnh vực liên quan nhiều đến các quy tắc quốc tế, hoạt động bảo hiểm, môi giới
bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng và chi phối của nhiều quy định tập quán quốc tế được áp dụng
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 7
trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều thay đổi, nhiều
quy tắc, chuẩn mực mới về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm ra đời sẽ có tác
cùng kỳ năm 2009, đa số nghiệp vụ bảo hiểm có doanh thu phí thu xếp tăng, đặc biệt là nghiệp
vụ bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con
người. Bên cạnh đó, có những nghiệp vụ có phí thu xếp qua môi giới giảm như nghiệp vụ bảo
hiểm tài sản và thiệt hại, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh. Trong 9 tháng đầu năm 2010, doanh
thu phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới đối với nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp đã phát sinh,
nhưng rất thấp (hơn 300 triệu đồng)1.
Thứ hai, các lĩnh vực nghiệp vụ bảo hiểm được các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
tăng cường tập trung phát triển. Theo đó, hoạt động môi giới bảo hiểm tiếp tục tập trung ở các
nghiệp vụ: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại (44,75%), bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con
người (24,55%). Doanh thu từ hoạt động môi giới đạt khoảng 210,3 tỷ đồng, tăng 19,62% so
với cùng kỳ năm 2009. Hoa hồng môi giới bảo hiểm tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ: bảo
hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại (45,45%), bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người (27,9%),
bảo hiểm trách nhiệm chung (8%).
Thứ ba, đối với xã hội, hoạt động môi giới bảo hiểm đã phần nào tạo lòng tin đối với
người dân vào các doanh nghiệp. Hơn nữa, trở thành cầu nối giữa khách hàng với các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Thúc đẩy thị trường bảo hiểm nước ta phát triển.
Thứ tư, pháp luật đã có những quy định tích cực và khá đầy đủ về các vấn đề cho hoạt
động này như lĩnh vực hoạt động, điều kiện hoạt động, quyền và nghĩa vụ…Điều này đã tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho hoạt động môi giới bảo hiểm tiếp cận và phát triển trong nền kinh tế
thị trường của nước ta.
2. Hạn chế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam cũng
tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định. Cụ thể:
2.1. Dịch vụ môi giới bảo hiểm chưa đa dạng:
Hoạt động của một doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nằm ở nhiều khâu, nhiều giai đoạn
trước, trong và sau khi kí kết hợp đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm. Đối với những tập đoàn môi
giới bảo hiểm lớn còn thực hiện thêm các hoạt động về quản lí tài sản, cung cấp nguồn nhân
lực....để hỗ trợ cho hoạt động môi giới của mình, do đó hoạt động của công ty môi giới bảo
xếp chiếm tới 90% tổng phí bảo hiểm của thị trường. Tại Việt Nam tỷ lệ này chỉ đạt ở mức rất
thấp (khoảng 1%) cụ thể hơn tỷ lệ môi giới bảo hiểm trong tổng Bảo hiểm Phi nhân thọ của
toàn thị trường mới chỉ đạt khoảng 5%.
Theo đánh giá của Bộ Tài Chính, hoạt động kinh doanh môi giới bảo hiểm nói riêng còn
khá mới mẻ tại Việt Nam và do đó kết quả thu được từ lĩnh vực này chưa nhiều. Xét về cơ cấu
khách hàng, có sự phân biệt khá rõ nét giữa các công ty môi giới bảo hiểm nước ngoài và công
ty môi giới bảo hiểm ở trong nước. Trong khi các công ty nước ngoài chủ yếu tập trung vào
khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do tận dụng mạng lưới khách hàng toàn
cầu và uy tín đã được xác lập trên thị trường quốc tế thì các công ty trong nước lại có xu hướng
2
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Print.asp?ID=1535
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 10
tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và các dự án đầu tư ở
trong nước. Tuy nhiên do nhiều lí do, khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm ở Việt Nam hiện nay còn nhỏ trong khi nhu cầu bảo hiểm của nền kinh tế và dân cư là rất
lớn. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vẫn bán bảo hiểm theo phương thức truyền thống
là trực tiếp, không qua môi giới bảo hiểm. ( 3)
2.4. Các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm trong nước có thị phần và hiệu quả hoạt
động thấp hơn so với các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài.
Theo số liệu thống kê từ Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm- Bộ Tài Chính, hiện nay trên
thị trường có 10 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm , trong đó có 6 đơn
vị doanh nghiệp trong nước, 4 đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2007 tổng doanh thu từ
thu phí bảo hiểm thu xếp môi giới trên 1.405 tỉ đồng, năm 2008 doanh thu phí thu xếp môi giới
bảo hiểm đạt 1.860 tỉ đồng tăng 32% so với năm 2007. Năm 2009 tổng phí bảo hiểm thu xếp
Các công ty môi giới bảo hiểm nước ngoài chỉ được phép hoạt động trong khu vực đầu
tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Sự cạnh tranh hiện chỉ thực sự diễn ra trong nội bộ các
nhà môi giới bảo hiểm nước ngoài với nhau và các công ty môi giới bảo hiểm trong nước với
nhau. Chính vì sự hạn chế này, khách hàng mua bảo hiểm, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà
nước và các dự án do nhà nước đầu tư chưa được hưởng lợi từ các dịch vụ quản lí rủi ro và môi
giới bảo hiểm chuyên nghiêp. Cũng chính vì hạn chế này, nhận thức về lợi ích của việc sử dụng
môi giới bảo hiểm ở Việt Nam mới chỉ bó gọn trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, còn
trên thị trường thì còn rất thấp.
2.6. Tỷ lệ dịch vụ bảo hiểm được thu xếp qua môi giới ở Việt Nam còn thấp.
Tỷ lệ dịch vụ bảo hiểm được thu xếp qua môi giới ở nước ta còn thấp, chưa xứng với
tiềm năng của thị trường trong giai đoạn nền kinh tế đang trên đường phát triển mạnh. Điều này
trái ngược với các nước trên thế giới. Theo đó, trên thế giới, môi giới bảo hiểm là kênh phân
phối bảo hiểm chủ đạo. Cụ thể 80 - 90% phí bảo hiểm ở Anh, Mỹ, Canada và Australia được
bán qua các công ty môi giới. Các nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan cũng chiếm
tới 30%.
2.7. Thanh toán trong hoạt động môi giới bảo hiểm còn chậm.
Trên thực tế, nhiều công ty môi giới bảo hiểm có hiện tượng chiếm dụng phí bảo hiểm
của các công ty bảo hiểm và các khoản công ty bảo hiểm thanh toán cho người tham gia bảo
hiểm thông qua môi giới. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định yêu cầu công ty môi giới bảo
hiểm phải mở tài khoản môi giới bảo hiểm tại Ngân hàng cụ thể và các công ty môi giới bảo
hiểm không được sử dụng tài khoản này, rút tiền từ tài khoản mà không được sự đồng ý chấp
thuận của cơ quan quản lý. Chính những điều này đã làm cho hoạt động thanh toán trong môi
giới bảo hiểm diễn ra chậm, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bảo hiểm nói chung và hoạt
động môi giới bảo hiểm nói riêng.
2.8. Môi giới bảo hiểm hiện nay xuất hiện một số hoạt động không lành mạnh.
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 12
hiểm. Đây là mức khá thấp nếu so sánh với phí đại lý mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang thực
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 13
hiện nhiều nơi đến 30%. Theo các doanh nghiệp môi giới, Bộ Tài chính nên xem xét lại mức
đó hoặc có thể để các công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm tự định đoạt phí, hoa hồng.
Thứ ba, từ phía các doanh nghiệp MGBH: Sử dụng dịch vụ môi giới là thói quen của
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm. Sản xuất kinh
doanh trong một môi trường mới lạ, chưa thông hiểu về pháp luật bảo hiểm Việt Nam nên các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài coi môi giới như bạn đồng hành. Ngược lại, các đơn vị sản
xuất kinh doanh Việt Nam còn ít sử dụng môi giới, chủ yếu vẫn trực tiếp mua bảo hiểm hoặc
thông qua đại lý; hoặc đơn giản là dựa vào thói quen… Những nguyên nhân trên khiến cho hệ
thống môi giới bảo hiểm ở Việt Nam chậm phát triển. Để lý giải cho thực trạng về sự chênh
lệch doanh thu giữa doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Việt Nam và doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm nước ngoài, ông Phùng Đắc Lộc -Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết, về
phía doanh nghiệp môi giới bảo hiểm trong nước mặc dù trong những năm gần đây đã có nhiều
thay đổi về đầu tư tiếp cận thị trường nâng cao tính chuyên nghiệp hơn, nhưng vẫn thiếu đồng
bộ cho nên bộc lộ nhiều yếu kém.Trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp của các doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài là hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong nước 4.
Thứ tư, người quản trị, điều hành chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quy định tại thông tư
156/ 2007 TT-BTC, chưa tuân thủ nghiệp vụ môi giới mặc dù đã có quy trình tư vấn môi giới
bảo hiểm lập thành văn bản. Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp không tuân thủ theo quy
trình nghiệp vụ đã quy định, chưa xây dựng quy tắc nghề nghiệp, cũng chưa chú trọng công tác
đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ, nhất là các vị trí quản lý chủ chốt, hiện tượng sử dụng
cộng tác viên phổ biến không có bằng cấp chứng chỉ nghiệp vụ liên quan, cơ cấu về vốn, mức
vốn điều lệ chưa đáp ứng được kế hoạch theo quy định của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, một số
các doanh nghiệp thực hiện đầu tư không phù hợp đẫn đến không đảm bảo vốn hoạt động. Mặt
khác về phía các cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định cụ thể về hoạt động MGBH
1. Đối với cơ quan quản lí nhà nước
Thứ nhất: Cần tiếp tục cho phép thành lập thêm các công ty MGBH để khai thác tốt hơn
tiềm năng thị trường tăng thị phần, doanh thu phí BH, thu xếp qua hoạt động MG và tăng mức
độ cạnh tranh để phục vụ tốt hơn nhu cầu của thị trường. Ngoài ra cũng cần xem xét cho phép
sự tham gia mạnh mẽ hơn nữa của các tập đoàn MGBH hàng đầu trên thế giới, các doanh
nghiệp MGBH có vốn đầu tư nước ngoài có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng
thời là các công ty lớn, có năng lực tài chính và uy tín về hoạt động để tận dụng được kinh
nghiệm, công nghệ và trình độ quản lý hoạt động MGBH tiên tiến trên thế giới.
Thứ hai: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động KDBH nói chung và cho hoạt
động MGBH nói riêng sẽ tạo môi trường pháp lý bình đẳng đối với mọi thành phần doanh
nghiệp, huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước thúc đẩy thị trường phát triển lành
mạnh, ổn định: Có thể nói MGBH là lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với thị trường, dẫn đến việc
thiếu sót và chưa thấu đáo, cơ chế pháp lí đối với hoạt động này là chưa chặt chẽ và chưa đầy
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 15
đủ, tập quán mua BH đối với các DN và người dân chưa trở thành thói quen, sự hiểu biết của
người dân về loại hình BH còn mơ hồ, nhiều khi họ còn không biết rõ được quyền lợi mà mình
sẽ được hưởng nếu tham gia BH. Mặt khác về phía doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, do sức ép
cạnh tranh, muốn thuyết phục khách hàng nên trên thị trường môi giới bảo hiểm hiện nay xuất
hiện những hoạt động không lành mạnh… kìm hãm sự phát triển của môi giới bảo hiểm. Chẳng
hạn, một số DN môi giới bảo hiểm đưa ra các điều khoản mở rộng không đúng với tập quán
bảo hiểm như bảo hiểm hàng thiếu trong container còn nguyên kẹp chì, bảo hiểm các rủi ro bị
loại trừ trong quy tắc bảo hiểm quốc tế... Như vậy, vô hình chung, các nhà bảo hiểm trong nước
phải nhận cả rủi ro do người bán hàng ở nước ngoài gây ra và điều này dễ dẫn đến trục lợi bảo
hiểm…. Do đó để hạn chế tình trạng trên và tạo điều kiện cho họat động môi giới bảo hiểm
phát triển ở Việt Nam chúng ta cần hoàn thiện các qui định của pháp luật theo hướng sau:
-
nước ngoài chưa có hoạt động tại Việt Nam theo các chương trình BHTN của công ty mẹ
để có được sự bảo vệ tốt hơn cho họat động của mình.
-
Cần có quy định cụ thể cho phép doanh nghiệp bảo hiểm hợp tác với các ngân hàng, hiệp
hội nhằm phát triển sản phẩm bảo hiểm của mình: Hoạt động bảo hiểm có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc góp phần phát triển kinh tế và bảo toàn ổn định kinh tế của đất nước. Các
hình thức thúc đẩy để bảo vệ, thúc đẩy hoạt động các DN bảo hiểm cần được chú trọng.
Hợp tác với các ngân hàng, các hiệp hội là một hình thức rất phổ biến ở các nước. Theo số
liệu thống kê cho biết, ở Pháp 70% phí bảo hiểm kinh doanh được thu thông qua kênh phân
phối tại các ngân hàng, con số này ở Bồ Đào Nha là 68% và Tây Ban Nha: 63%. Hầu hết
các công ty bảo hiểm lớn trên thế giới đều có hình thức hợp tác với các ngân hàng để triển
khai loại hình dịch vụ này5. Thực tế ở Việt Nam trong mấy năm vừa qua thì hoạt động hợp
tác giữa bảo hiểm và ngân hàng đã bước đầu hình thành và đang dần dần phát triển, hoạt
động này đã và đang mang lại lợi ích cho nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng và
người tham gia bảo hiểm. Trên thị trường đã chứng kiến sự bắt tay của Ngân hàng Thương
mại cổ phần Sài Gòn (SCB) và Bảo Việt Nhân thọ. Sản phẩm mới này là sự kết hợp giữa
sản phẩm bảo hiểm An nghiệp Thành công của Bảo Việt Nhân thọ và sản phẩm Tiết kiệm
Nhân văn của SCB. Tất cả các khách hàng khi tham gia gửi Tiết kiệm Nhân văn sẽ được
SCB mua tặng bảo hiểm An nghiệp Thành công của Bảo Việt Nhân thọ 6.Tuy nhiên, ở Việt
Nam, theo Nghị định 45/2007 không quy định cụ thể các doanh nghiệp bảo hiểm được
phép sử dụng hợp tác với các kênh phân phối này để phát triển sản phẩm bảo hiểm. Quy
định này là một trong những nguyên nhân làm kìm hãm sự phát triển của thị trường bảo
hiểm.
-
Liên quan đến hoa hồng môi giới bảo hiểm, Điều 6 Mục 4 Thông tư 155 quy định: “Tỷ lệ
hoa hồng môi giới bảo hiểm được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa doanh nghiệp bảo
tạp. Trong khi hoạt động MGBH tại VN mới chỉ bó gọn trong việc giới thiệu các quy tắc,
điều khoản,biểu phí của các công ty BH. Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá
rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp
bảo hiểm….Do đó cần sửa đổi qui định của pháp luật mở rộng phạm vi của họat động môi
giới bảo hiểm.
-
Cần tạo ra khung pháp lí cho việc thành lập, tổ chức, họat động của hiệp hội hiệp hội các
nhà MGBH: tăng cường các cơ chế hợp tác chính thức và không chính thức,tiến tới hình
-
thành được các hiệp hội nghề nghiệp về MGBH.
Ngoài ra, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp MGBH có hiện tượng chiếm dụng phí BH của
các doanh nghiệp BH và các khoản doanh nghiệp BH thanh toán cho người tham gia BH
thông qua môi giới. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định yêu cầu doanh nghiệp MGBH
phải mở tài khoản MGBH tại ngân hàng cụ thể và các doanh nghiệp MGBH không được
sử dụng tài khoản này, rút tiền từ tài khoản mà không được sự đồng ý chấp thuận của cơ
quan quản lý. Do đó pháp luật cần có qui định cụ thể về vấn đề này.
Thứ ba: nhà nước cũng cần có cơ chế khuyến khích các DNMGBH thực hiện đa dạng
hoá các dịch vụ của mình vượt ra khỏi phạm vi thu xếp bảo hiểm truyền thống để đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng thậm chí là biến các tiềm năng bảo hiểm thành hiện thực. Khi điều
kiện cho phép có thể thành lập các tổ chức nghề nghiệp như Hiệp hội MGBH, học viện
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 18
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 19
động MGBH tại VN tuy phát triển mạnh, nhưng mức độ, qui mô ảnh hưởng của MGBH tại thị
trường VN còn quá nhỏ,chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh
doanh nhằm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chung,các nghiệp vụ BH phát triển mới
chỉ tập trung vào những loại hình BH dễ thực hiện và không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên
ngành như là nghiệp vụ BH xe cơ giới, tài sản và thiệt hại kinh doanh, BH con người...còn các
nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao và nền kinh tê thị trường đang phát triển như BH hàng
không, BH tàu biển, BH tín dụng TM.. thì dường như các công ty BH chưa khai thác hết tiềm
năng thị trường, đó cũng là một trong những nguyên nhân cho thấy sự cần thiết của các hoạt
đông MGBH bởi đây là những nghiệp vụ có tính phức tạp cao, sản phẩm đa dạng, nhiều công
ty BH cung cấp. Người tham gia BH có xu hướng thu xếp bảo hiểm thông qua các doanh
nghiệp MGBH để tiết kiệm chi phí, đồng thời vẫn đảm bảo sự an toàn và hiệu quả kinh tế cao.
Thứ ba, Đào tạo phát triển nguồn nhân lực,có chế độ chính sách hợp lí để giữ được đội
ngũ cán bộ BH chuyên nghiệp. Các DN MGBH cũng cần phải có những đầu tư thoả đáng về
nhân lực và tài chính cho việc phát triển các dịch vụ bổ sung như điều tra thị trường, tư vấn
quản lý rủi ro, định phí BH, quản lý tài sản và phân tích tài chính v.v. Thực tế hiện nay các DN
MGBH ở Việt Nam vẫn hoạt động một cách khá "thụ động" là thu xếp theo nhu cầu BH đã
được khách hàng tự xác định trước mà chưa thực sự chủ động trong việc tư vấn cho các khách
hàng các giải pháp quản lý rủi ro phù hợp với đặc thù của từng khách hàng để có thể gợi mở
được nhu cầu bảo hiểm đang ở dạng tiềm năng.
Thứ tư, Nâng cao chất lượng dịch vụ để có được mức tăng trưởng thích ứng về doanh
thu hoa hồng MG, thị phần doanh thu phí BH thu xếp qua MG trong đó phải đảm bảo được
rằng tốc độ tăng trưởng doanh thu hoa hồng môi giới phải cao hơn nhiều so với tốc độ tăng
trưởng doanh thu phí bảo hiểm vì hiện nay tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm thu xếp qua hoạt động
môi giới ở Việt Nam còn rất thấp.
Thứ năm, Các doanh nghiệp phải luôn đề cao vai trò của khách hàng, tất cả vì quyền lợi
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000
2. Luật số: 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.
3. Nghị định số: 46/2007/NĐ-CP Quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo
hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
4. Website:
http://www.webbaohiem.net
http://www.baomoi.com
http://www.baohiem.pro.vn
http://www.luattaichinh.wordpress.com
Lớp N01 – Nhóm 01
Page 22