MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
NỘI DUNG
2
I. Khái quát
2
II. Tóm tắt kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm của tác giả
3
1.Thực trạng và diễn biến của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2001 đến năm 2005
3
2.Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
5
3. Đặc điểm nhân thân người phạm tội
7
4.Kết luận của tác giả.
LỜI MỞ ĐẦU
Tình hình tội phạm là nội dung quan trọng của tội phạm học. Nghiên cứu những đặc
trưng của tình hình tội phạm có thể đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm tương ứng,
ngăn chặn kịp thời sự gia tăng tỉ lệ tội phạm, kiểm soát tội phạm có hiệu quả. Để tìm hiểu
rõ hơn về tình hình tội phạm, em xin lựa chọn luận văn thạc sỹ luật học: “Đấu tranh
phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phạm
Tiến Quang để nghiên cứu.
NỘI DUNG
I. Khái quát
Khái niệm tình hình tội phạm theo TS Dương Tuyết Miên:
“Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm
tội phạm trong một loại tội phạm) đã xảy ra trong một đơn vị không gian và thời gian nhất
định. Tình hình tội phạm được thể hiện thông qua thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất
của tình hình tội phạm, trên cơ sở đó giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xây dựng được
biện pháp phòng ngừa tội phạm sát hợp với thực tiễn.”
Các nội dung - bộ phận hợp thành của tình hình tội phạm có quan hệ, ảnh hưởng đến
nhau ở mức độ nhất định, tạo nên bức tranh tổng thể về tội phạm - tình hình tội phạm. Các
bộ phận hợp thành của tình hình tội phạm bao gồm : thực trạng của tình hình tội phạm,
diễn biến của tình hình tội phạm, cơ cấu của tình hình tội phạm, tình chất của tình hình tội
phạm. Các bộ phận này xếp thành:
+ Thông số về lượng của tình hình tội phạm bao gồm : thực trạng và diễn biến của
tình hình tội phạm.
+ Thông số về chất của tình hình tội phạm bao gồm : tính chất và cơ cấu của tình
hình tội phạm.
Thực trạng của tình hình tội phạm là tổng thể các số liệu về vụ phạm tội xảy ra, số
lượng người thực hiện các tội đó và số lượng người được coi là nạn nhân trên một địa bàn
nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.
thể hiện cụ thể số vụ và số bị cáo trong các vụ án về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
được xét xử trong từng năm.
3
Bảng số 1. Thống kê số vụ và số bị cáo trong các vụ án về ma túy đã được xét xử
sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Năm
Số vụ
2001
2002
2003
2004
2005
Tổng
Tội phạm về ma túy đã được xét xử
So với năm 2001 (%)
Số bị cáo
So với năm 2001(%)
438
824
679
606
601
3.148
100
188,1
thống kê này cũng có những sai số nhất định so với thực tế. Việc sai số trong thống kê hình
sự có thể do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, về kỹ thuật, phương pháp thống kê,
thời điểm thống kê,… Tuy số liệu trong luận văn này không chính xác số tội phạm xảy ra
trên thực tế nhưng đây cũng là số liệu cần và đủ để phân tích, đánh giá được thực trạng
của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.”
2.Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4
a) Cơ cấu.
Trong thời gian 5 năm số vụ án ma túy được đưa ra xét xử là 3.148 vụ trên tổng số
7.081 vụ án hình sự các loại. Mặc dù tội phạm về ma túy được quy định trong Bộ luật hình
sự chưa đến 4% tổng số các điều luật được quy định về tội phạm (10/226) song số vụ tội
phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chiếm đến 44,5% tổng số vụ án đưa ra xét
xử. Cũng trong thời gian này, toàn quốc xét xử 45.280 vụ án về may túy với 59.354 bị cáo,
Quảng Ninh xét xử 3.148 vụ với 3.949 bị cáo. Số lượng các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh và số bị cáo đưa ra xét xử chiếm tỉ lệ cao trong tổng số án ma túy và số bị cáo
đã bị xét xử trong toàn quốc.
Trong khoảng thời gian 5 năm (2001-2005), các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép và chiếm đoạt chất ma túy chiếm tỉ lệ lớn trong số các tội phạm về ma túy đã đưa
ra xét xử. Nếu như năm đầu của giai đoạn nghiên cứu tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
hoặc chiếm đoạt chất ma túy chiếm tỷ lệ 95,67% thì đến năm 2005 tỷ lệ tội phạm này tăng
lên là 98,52%. Trong số các tội phạm về ma túy đã đưa ra xét xử trên địa bàn tỉnh thì tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma túy chiếm tuyệt đại đa số với tỷ lệ
trung bình là 97,77%. Số các vụ tội phạm này đã được đưa ra xét sử phản ánh khá chính
xác sự gia tăng nghiêm trọng của thực tế mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma
túy trên địa bàn Quảng Ninh. Trong gia đoạn 2001-2005. Tội tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy được đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ trung bình 1,16%, tội mua bán dụng cụ dùng
vào việc sử dụng trái phép chất ma túy chiếm tỷ lệ 0,17%, tội chứa chấp sử dụng trái phép
chất ma túy chiếm tỷ lệ 0,36%,…
thương mại như thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái và các tuyến
giao thông quan trọng. Với đặc điểm Quảng Ninh là tỉnh có đường biên giới dài trên đất
liền và trên biển, phía Bắc là đường biên giới quốc gia trên đất liền giáp Trung Quốc có
chiều dài 132,8 km, phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Nam giáp Hải
Phòng, phía Đông giáp hải phận quốc gia Trung Quốc, thành địa hình rất thuận lợi cho
hoạt động của tội phạm ma túy cả trên đất liền và trên biển. Người phạm tội còn lợi dụng
những đường mòn, đường rừng, bờ sông, địa hình hiểm trở cũng như trốn tránh, vận
chuyển ma túy qua hai bên “cánh gà” cửa khẩu Việt Nam - Trung Quốc.Tác giả lấy ví dụ :
“ Vào khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 24/11/2005, Bộ đội biên phòng cửa khẩu Móng Cái bắt
gặp Trần Thị Lâm đang đi xuống bờ song Bắc Luân để trốn sang Trung Quốc. Khi kiểm
6
tra hành thu được của Lâm một túi ni-lon màu hồng, bên trong có chứa 4 bao cao su,
trong mỗi bao cao su có chứa các cục chất bột màu trắng. Kết quả giám định, các chất bột
màu trắng đó là hêroin có trọng lượng 129,27 gam.”
Động cơ và mục đích của người phạm tội chủ yếu xuất phát từ lợi nhuận, chính vì
lợi nhuận siêu ngạch mà người phạm tội bất chấp pháp luật lao vào con đường phạm tội.
Người phạm tội thấy trước được hậu quả nghiêm trọng do hành vi phạm tội gây ra và cũng
đã thấy trước được hình phạt nghiêm khắc dành cho họ, nhưng vì lợi nhuận, họ bất chấp
pháp luật, sử dụng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhất để đối phó cơ quan chức năng.
Cũng vì lợi nhuận mà nhiều đối tượng đã lôi kéo cả người trong gia đình, họ hàng thân
thích vào con đường phạm tội dù biết hình phạt hết sức nghiêm khắc, ngay cả hình phạt tử
hình cũng chỉ phần nào hạn chế tình hình phạm tội. Chỉ tính riêng 5 năm (2001-2005) có 9
án tử hình và 15 án chung thân nhưng nhiều người không lấy đó là bài học mà vẫn lao vào
con đường phạm tội. Vì vậy có thể khẳng định lợi nhuận thúc đẩy hoạt động của tội phạm
ma túy mãnh liệt hơn nhiều loại tội phạm khác.
Hậu quả của tội phạm ma túy : Tội phạm ma túy gây những tác hại vô cùng nghiêm
trọng trên các lĩnh vực kinh tế, tài chính, trật tự an toàn xã hội. Tội phạm ma túy liên quan
trực tiếp đến các tội phạm khác như tội rửa tiền, tham nhũng, bạo lực… làm cạn kiệt tài
phạm tội về ma túy có trình độ học vấn thấp hơn so với trình độ học vấn chung của người
dân, chủ yếu dừng lại ở trình độ tiểu học và trung học cơ sở. Do trình độ văn hóa thấp đã
ảnh hưởng tới nhân cách và nhận thức của người phạm tội, vì vậy nâng cao trình độ văn
hóa cho người dân là một nội dung rất quan trọng trong phòng ngừa loại tội phạm này.”
Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó tác động nhất định đến
nhân cách con người, ảnh hưởng đến khuynh hướng phạm tội. Những người phạm tội nhìn
chung thường xuất phát từ những gia đình không bình thường như : không hòa thuận,
không có trách nhiệm với nhau, có trình độ văn hóa thấp, có quan điểm và xử sự trái đạo
đức, pháp luật hoặc những gia đình có cha hoặc mẹ chết, cha mẹ ly hôn hay gia đình có
hoàn cảnh khó khăn.
4.Kết luận của tác giả.
Qua nghiên cứu, đánh giá toàn bộ thực trạng, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình
hình tội phạm cũng như đặc điểm nhân thân người phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2001-2005 cho thấy : Tình hình tội phạm về ma túy có diễn biến phức
8
tạp,có chiều hướng gia tăng về quy mô, tính chất của từng vụ việc. Đặc biệt đã hình thành
các đường dây liên tỉnh, xuyên quốc gia có sự tham gia, cấu kết với người nước ngoài tham
gia vận chuyển, mua bán ma túy với số lượng rất lớn, sử dụng nhiều phương pháp, thủ
đoạn khác nhau đối phó với cơ quan chức năng.
III. Nhận xét cá nhân về kết quả nghiên cứu của luận văn.
1. Đánh giá về đề tài nghiên cứu
Tội phạm ma túy trong nhiều năm gần đây luôn là vấn đề có tính thời sự trên cả
nước. Báo đài thường xuyên đưa tin về tình hình ma túy diễn biến phức tạp, mức độ nguy
hiểm ngày càng cao. Riêng với Quảng Ninh là tỉnh có đường biên giới dài trên đất liền và
trên biển, nên nơi đây từ lâu đã trở thành thành địa hình rất thuận lợi cho hoạt động của tội
phạm ma túy. Tình hình tội phạm ma túy ở Quảng Ninh vẫn luôn diễn biến rất phức tạp và
đây cũng là một trong những địa bàn có số lượng tội phạm ma túy hoạt động nhiều nhất
trong cả nước. Vì vậy, đề tài của tác giả Phạm Tiến Quang thông qua nghiên cứu tình hình
được ngay xu hướng tăng giảm của tình hình tội phạm.
Bên cạnh đó, tác giả còn có sự so sánh diễn biến tình hình phạm tội ma túy với tình
hình tội phạm nói chung trên địa bàn Quảng Ninh và rút ra được nhận xét diễn biến tội
phạm về ma túy trong phạm vi toàn quốc và tội phạm ma túy trên địa bàn Quảng Ninh về
cơ bản có sự biến động tương đồng với nhau. Đây là nội dung rất hay của tác giả, điều này
cho chúng ta thấy các loại tội phạm, các tệ nạn xã hội có mối liên hệ với nhau, cùng nhau
phát triển. Vì vậy, tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nhưng không thể
xem nhẹ các loại tội phạm khác.
Số liệu mà tác giả sử dụng liệu lấy từ Phòng Tổng hợp TAND tỉnh Quảng Ninh, Văn
phòng TAND tối cao, vì vậy các số liệu này đảm bảo độ chính xác cao. Tuy nhiên, nếu
đánh giá tình hình tội phạm mà chỉ dựa vào số liệu xét xử của tòa án thì chưa phản ánh
chính xác số tội phạm xảy ra trên thực tế vì thực chất nó chỉ phản ánh được phần nổi của
“tảng băng chìm”. Đó là chưa kể đến số liệu xét xử của tòa án về số vụ, bị cáo sẽ không
thể khớp về thời gian so với số vụ, bị cáo xảy ra trên thực tế bởi vì nhiều vụ phạm tội xảy
ra một thời gian khá lâu , sau đó người phạm tội mới bị đưa ra xét xử; hoặc tuy có phát
hiện ra thủ phạm nhưng do khách quan, án bị tồn đọng và xét xử chậm. Tuy nhiên, đây
cũng là số liệu cần và đủ để phân tích, đánh giá được thực trạng của tình hình tội phạm về
ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Đồng thời tác giả cũng đã thừa nhận những thiếu sót
10
này. Đây là điểm trung thực đáng khen của tác giả trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Một điểm đáng ghi nhận nữa của tác giả là đã đưa ra được đánh giá sơ bộ về số tội phạm
ẩn. Tuy đây chỉ là những đánh giá tương đối và đơn giản nhưng có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nó không chỉ cho thấy việc phòng chống tội phạm ma túy ở Việt Nam còn nhiều
yếu kém do số tội phạm ẩn ma túy chiếm tỷ lệ cao (tới 90-95%), mà còn cho thấy công tác
thống kê tình hình tội phạm ở Việt Nam còn kém, những đánh giá về số tội phạm ẩn mà tác
giả nêu ra là của chuyên gia nước ngoài. Vì vậy cũng phải thông cảm cho tác giả, nghiên
cứu về tội phạm ẩn là vấn đề rất khó, tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc và công sức.
Theo kiến nghị của em, tác giả nên sử dụng thêm số liệu từ các cơ quan pháp luật
nổi bật được sự liên kết giữa các tính chất để người đọc thấy rõ nét hơn bức tranh về tình
hình tội phạm ma túy, đồng thời cũng giúp cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm ma
túy dễ dàng hơn. Ví dụ như: tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma
túy chủ yếu hoạt động ở khu vực biên giới, khu vực giáp ranh với các tỉnh khác; trong khi
đó tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
sẽ tập trung nhiều ở khu vực thành thị, thương mại phát triển.
Thứ ba, về nhân thân người phạm tội.
Phần này theo em nên xếp vào một trong các cơ cấu của tình hình tội phạm. Còn về
nội dung thì tác giả đã nghiên cứu khá kĩ về mặt nhân thân người phạm tội, ta thấy được
hầu hết các yếu tố có liên quan như giới tình, độ tuổi, trình độc học vấn, hoàn cảnh gia
đình của tội phạm đã được nêu ra khá đầy đủ và chi tiết. Đây đều là những yếu tố then chốt
để làm xuất hiện tội phạm về ma túy.
Ngoài ra, tác giả không đề cập đến một vấn đề khá quan trọng và xảy ra phổ biến, đó
là những người phạm tội ma túy nhiều khi cũng là những người đã từng cai nghiện thành
công nhưng sau đó tái nghiện, điều này cho thấy công tác quản lý người sau cai nghiện còn
chưa tốt, thiếu sự quan tâm, để mắt chặt chẽ từ gia đình và chính quyền địa phương. Có thể
sự kì thị, xa lánh của những người xung quanh đối với đối tượng vừa cai nghiện về chính là
nguyên nhân khiến cho họ tái nghiện và lại thực hiện tội phạm ma túy mới.
4. Một số nhận xét khác:
Theo ý kiến của em, tác giả nên bổ sung thêm những nội dung sau:
- Tác giả cần nghiên cứu bổ sung về số lượng các chiến sĩ công an, quần chúng nhân
dân tham gia phòng chống tội phạm ma túy bị thương, bị thiệt mạng; số lượng nạn nhân
12
của tội phạm… Vì thực tế hiện nay cho thấy tội phạm ma túy không chỉ ngày càng tinh vi
mà còn rất nguy hiểm. Số lượng tội phạm ma túy sử dụng vũ khí nóng có sự gia tăng đột
biến. Bởi lẽ, bọn tội phạm ma túy ngày càng chuyên nghiệp, chúng ý thức rất rõ bản án
phải nhận khi cơ quan chức năng bắt giữ nên chúng rất quyết liệt, manh động, sẵn sàng sử
dụng vũ khí nóng để chống lại lực lượng công an hoặc để “phòng thân” trước bạn hàng. Do
tháng 12/2007.
14