S
inh ra và lớn lên trong chiếc nôi của người mẹ môi trường thiên nhiên, con
người có thái độ khác nhau thông qua những tác động đối vơi bà mẹ này. Bên
cạnh những hành động thiết thực góp phần giữ gìn và bảo vệ môi trường, con
người còn sử dụng những hàng hóa có tính gây ô nhiễm cao đối với môi trường. Nhằm
thực thi Luật bảo vệ môi trường có hiệu quả, một mặt tạo hành lang pháp lý cho việc
bảo vệ môi trường, mặt khác tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nhà nước đã ban
hành Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010. Vậy việc ban hành Luật Thuế bảo vệ môi
trường dựa trên những cơ sở và yếu tố nào? Những hạn chế khi thực hiện Luật này
trong đời sống thực tiễn? Chính vì lẽ đó, trong bài viết lần này, chúng tôi sẽ tập trung
khai thác đề tài: “Phân tích những yếu tố để ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường
về nêu ý kiến pháp lý của nhóm thực hiện về khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện
Luật Thuế bảo vệ môi trường”.
N
1. Khái quát sơ lược về Luật Thuế bảo vệ môi trường
gày 15/11/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế bảo vệ môi trường. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012. Thực hiện Luật thuế này để thực
thi các chính sách, tránh đánh thuế hai lần, tạo ra nguồn ngân sách tái đầu tư
vào môi trường, bảo vệ sinh thái đóng góp vào sự phát triển bền vững toàn cầu.
Theo đánh giá chung, những năm qua tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không
khí, thoái hóa đất, tiếng ồn diễn ra khá nghiêm trọng tại nhiều địa phương. Thế nhưng
để hạn chế ô nhiễm các biện pháp đưa ra chỉ là tạm thời. Ở nhiều nơi, nhiều khu gây ô
nhiễm nghiêm trọng được kiến nghị nhiều lần, cơ quan chủ quản cũng tích cực khắc
phục nhưng việc cải thiện chưa đáng kể. Trong khi đó Nhà nước chỉ có chính sách thu
phí về môi trường mang tính tượng trưng, thiếu bền vững. Luật Thuế bảo vệ môi trường
ra đời là một sắc thuế để hoàn thiện chính sách, cải cách để hội nhập, nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường toàn xã hội, khuyến khích sử dụng năng lượng sạch. Quan trọng hơn
là tạo nguồn thu để khôi phục môi trường. Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 gồm
ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, việc thu thuế bảo vệ môi
trường có ý nghĩa rất quan trọng:
M
Thứ nhất, đối với môi trường
Luật Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản
phẩm gây ô nhiễm của các cá nhân, tổ chức, đồng thời khuyến khích sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực đến môi trường như thải các
chất khí CO2, SO2 khi sử dụng xăng, dầu, than, HCFC,... Từ đó, hướng tới nền kinh tế
phát triển bền vững, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Thêm vào đó, với
khung thuế quy định tại Luật này, dự kiến số thu thuế bảo vệ môi trường sẽ tăng, tạo
nguồn thu đáng kể nhằm đầu tư cải tạo môi trường đang bị ô nhiễm.
Thứ hai, đối với nền kinh tế- xã hội
Cơ sở kinh tế- xã hội để ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường là sự cần thiết
khách quan của việc đưa chi phí “gây ô nhiễm môi trường” (các yếu tố ngoại ứng) và
giá bán của hàng hóa. Luật Thuế bảo vệ môi trường sẽ giúp thực hiện nguyên tắc
2
“người gây ô nhiễm phải chi trả”. Từ đó, tạo cơ hội thúc đẩy các hoạt động kinh tế
cũng như phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế theo hướng tạo ra các “mức giá công
bằng và hiệu quả hơn” do phân phối lại chi phí, góp phần tăng thu ngân sách. Luật
Thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá sản phẩm, hàng hóa. Từ đó có thể sử dụng thuế để
kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường
hơn. Nếu đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy
việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời
của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới, giúp chuyển dịch nền kinh tế theo
hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực. Thu thuế bảo vệ
môi trường sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cá nhân, tổ chức đối với môi trường.
Túi nilon được làm từ nhựa PTE không độc nhưng các chất phụ gia thêm vào để
làm túi ni lông mềm, dẻo, dai lại vô cùng độc hại. Nếu đựng đồ nóng bắt đầu từ 70-80
độ C thì những chất phụ sẽ có phản ứng phụ và gây độc đối với thực phẩm, nguy cơ cao
1()
Tác nhân gây ra sự nóng lên của trái đất, gây nguy cơ hiệu ứng nhà kính.
Ô xit cácbon (CO): là chất khí không màu, không thấy được, được tạo ra khi nhiên liệu chứa cácbon cháy
không hết – đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Đặc biệt nguy hại với thai nhi và người mắc bệnh
tim. Do áp lực của Hêmôglobin trong máu đối với ôxit cácbon lớn hơn 200 lần so với ôxy, nên CO cản trở vận
chuyển ôxy từ máu vào tới các mô. Vì thế, để vận chuyển cùng một lượng ôxy cần thiết phải bơm máu nhiều
hơn.
3()
Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường, thiếu vitamin B và C, ức chế
enzym oxydaza.
4()
Các loại khí Nitrogen oxide, như NO, NO2, tạo ra các đám sương màu cam bao phủ các đô thị lớn, và là tác
nhân chính gây mưa acid
5()
Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD: 3,4-benzenpyrene), có độc tính cao, có khả năng
gây ung thư, phần lớn bụi than có kích thước lớn hơn 5 micromet bị các dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các
lông giữ lại. Chỉ có các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 5 mm vào được phế nang.
6()
Gây cản trở hô hấp và là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư.
7()
Xem chi tiết tại: http://www.petropacific.com.vn
8()
Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn
đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính
trồng cây.
2()
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (14). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực
thi pháp luật bảo vệ môi trường thông qua hình thức thu thuế đối với các mặt hàng có
tính nguy hại cao đối với môi trường. Hơn nữa, vấn đề bảo vệ môi trường còn được
quốc hội ban hành thành một văn bản luật riêng, đó là Luật bảo vệ môi trường năm
2005 (15). Để chi tiết hóa việc thu thuế bảo vệ môi trường, cơ quan lập pháp đã ban hành
Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 và kèm theo hướng dẫn của Chính phủ trong
C
10()
Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh
đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi
ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong thức
ăn nước uống có thể gây ung thư không thể chữa trị. Ô nhiễm môi trường còn làm thay đổi cơ bản hệ sinh thái,
có thể đẩy các loài ra miệng vực của sự tuyệt chủng.
11()
Xem thực trạng ô nhiễm không khí do sử dụng xăng, dầu, mỡ nhờn tại:
http://vea.gov.vn/vn/khoahoccongnghe/congnghemt/xulykhithai/Pages/Th%E1%BB%B1ctr%E1%BA%A1ng
%C3%B4nhi%E1%BB%85mkh%C3%B4ngkh%C3%AD%C4%91%C3%B4th%E1%BB%8B%E1%BB%9FVi
%E1%BB%87tNam.aspx
12()
Xem tác hại của túi nilon tại: http://www.tnmtbacgiang.gov.vn/?NEWS/VN/Tintuckhac/Tintuckhac/706.3S
13()
Xem tác hại của thuốc diệt cỏ tại: http://hepa.gov.vn/content/tintuc_chitiet.php?
catid=341&subcatid=0&newsid=354&langid=0
14()
loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản
hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng (16).
Nhìn chung những quy định đối với đối tượng chịu thuế này đều đánh vào các
mặt hàng thiết yếu, phục vụ đời sống tiêu dùng hàng ngày của người dân. Nên sẽ gây ra
khó khăn lớn trọng việc đảm bảo thực hiện thuế vì đánh thuế với các loại hàng này sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến giá bán, khả năng cạnh tranh của các loại hàng này. Nếu không
điều chỉnh một cách hợp lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế. Trong giai đoạn kinh
tế hội nhập như hiện nay nhiều quốc gia đang phát triển cũng chưa quan tâm đúng mức
đến thuế về môi trường, nên hàng hóa có chi phí thuế môi trường sẽ giảm khả năng
cạnh tranh so với hàng hóa có xuất xứ từ những quốc gia không thu thuế bảo vệ môi
trường. Nếu không chú ý đúng mức vấn đề này thì sẽ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển
kinh tế.
Về việc đánh thuế bảo vệ môi trường là túi nilon thì được hướng dẫn tại khoản 3
Điều 2 Nghị Định số 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thuế bảo vệ môi trường như sau: “Đối với túi nilon thuộc diện chịu thuế (túi
nhựa) quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì, nhựa
mỏng làm từ nhựa đơn HDPE (high density polythylene resin), LDPE (Low density
polythylene resin) hoặc LLDPE (Linear low density polythylene resin) trừ bao bì đóng
gói sẵn hàng hóa và nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của
Bộ tài nguyên và môi trường”. Tuy nhiên, vướng mắc hiện nay là Bộ tài nguyên và môi
trường chưa có tiêu chí nào để xác định đâu là túi nilon thân thiện với môi trường. Hơn
16()
Xem PHỤ LỤC II trang 13 bài viết này hoặc phụ lục II Thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 về
việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
6
nữa, về nguyên tắc Bộ tài nguyên và môi trường lại không có thẩm quyền ban hành tiêu
chuẩn chất lượng mà là trách nhiệm của tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc
cao (tương đương giá bán trước khi áp dụng thuế bảo vệ môi trường). Trên thực tế với mức thuế hiện nay, các
doanh nghiệp đối tác đang tìm mọi cách “né” khoản nộp này, thuế cao thì mặc thuế cao, việc sử dụng túi nilon
hầu như không giảm. Và có thể lách luật thuế này bằng cách thay đổi tên đơn hàng trên hóa đơn, thậm chí
không cần xuất hóa đơn khi mua hàng. Bên cạnh đó, việc áp thuế lên tất cả các bao bì nhựa khiến nhiều doanh
nghiệp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh,nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm túi nilon đã lựa
chọn sản phẩm khác, hoặc tìm nguồn khác từ nhập khẩu và thậm chí cắt đơn hàng với Doanh nghiệp sản xuất.
Từ khi Luật Thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực đã làm chi phí bao gói tăng. Hiện các chi phí khác tiếp tục xu
hướng tăng giá, đã làm cho sản phẩm dệt may, da giày và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam khó cạnh tranh.
Hơn thế nữa, các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/TT-BTC quá chung chung.
Việc định nghĩa túi nilon bao gồm hầu hết ngành bao bì nhựa.
7
tượng chịu thuế bảo vệ môi trường để xuất khẩu. Như vậy, nếu các Doanh nghiệp, cơ
sở, cá nhân sản xuất túi nilon thuộc diện chịu thuế nhưng trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy
thác xuất khẩu ra nước ngoài mà không tiêu thụ trong nước thì không phải nộp thuế bảo
vệ môi trường.
Ngày 30/1/2012, Bộ Tài chính có công văn 1199/BTC-TCT hướng dẫn thực hiện
Thông tư 152/2011/TT-BTC, khẳng định: Các trường hợp hàng hóa nhập khẩu để gia
công sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì thuộc đối tượng không phải nộp thuế bảo vệ
môi trường. Nhưng đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu (thủy sản, dệt may, da giày...)
thì túi PE, PA là loại vật tư không thể thiếu. Với quy định này, thì chỉ túi nilon nhập
khẩu để bao gói hàng xuất khẩu mới được xếp vào đối tượng không chịu thuế bảo vệ
môi trường. Còn túi nilon mua trong nước để bao gói hàng xuất khẩu không tiêu thụ tại
thị trường trong nước, không ảnh hưởng tới môi trường Việt Nam hoặc có thể xem như
hàng hóa xuất khẩu vẫn phải chịu thuế sẽ trở thành nghịch lý (18).
Theo quy định về đối tượng không chịu thuế tại Điều 4 Luật Thuế bảo vệ môi
trường năm 2010, chúng tôi nhận thấy một quy định bất hợp lý tại điểm c) khoản 2:
“Hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh
xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa
là mặt hàng nhạy cảm nên giá xăng dầu tăng cao cũng làm cho giá của nhiều dịch vụ
cũng tăng theo, dẫn đến lạm phát gây ra gánh nặng cho nền kinh tế. Hơn thế nữa, hiện
nay vẫn chưa tìm ra loại nhiên liệu thay thế cho xăng, dầu trong quá trình vận hành
động cơ, cho nên, việc đưa xăng, dầu vào đối tượng chịu thuế sẽ là một trong những
bước cản trở với nền kinh tế công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
T
3.4. Về việc tuyên truyền và phổ biến pháp luật về luật thuế bảo vệ môi trường
rong những năm gần đây bức tranh kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tuy
nhiên sự phát triển mạnh mẽ ấy lại khiến con người phải gánh chịu những hậu
quả kéo theo. “Phía sau miếng mồi ngon là một con cá chết”, đi liền với nền
kinh tế công nghiệp hóa là ô nhiễm môi trường, công nghiệp càng phát triển, các nhà
máy xí nghiệp càng nhiều thì môi trường càng ô nhiễm.
Hiện nay, song song với việc phát triển kinh tế, nước ta đã đề ra nhiều giải pháp
để khắc phục ô nhiễm môi trường. Từ đó Luật Thuế bảo vệ môi trường càng được quan
tâm, chú trọng- đây chính là công cụ điều chỉnh chỉnh các đối tượng phải chịu thuế hay
không phải chịu thuế nhằm hướng tới một đất nước phát triển toàn diện và thịnh vượng.
Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 ban hành không phải với mục đích thu được
càng nhiều thuế càng tốt mà cái chính là thay đổi từ nhận thức đến hành vi của người
dân, để họ hướng tới tiêu dùng những sản phẩm ít độc hại cho môi trường. Tuy nhiên
thói quen cố hữu từ trước tới giờ của người dân một nước đang phát triển không dễ
dàng thay đổi trong một sớm một chiều, vì vậy cần nâng cao hơn nữa công tác tuyên
truyền vận động người dân thực hiện nghiêm chỉnh Luật Thuế bảo vệ môi trường với
khẩu hiệu: bảo vệ môi trường sống chính là bảo vệ sức khỏe mỗi người dân.
Tuy nhiên Luật này mới có hiệu lực và phổ biến nên người dân còn thấy mới mẻ
và với hiểu biết pháp luật hạn chế thì khó mà tiếp thu được nhanh chóng. Hơn nữa Luật
này cũng còn nhiều bất cập, chính vì vậy phải khắc phục dần những khiếm khuyết của
luật và đẩy mạnh tuyên truyền vận động người dân thực hiện đúng luật.
Hơn nữa Luật Thuế bảo vệ môi trường khi ban hành đã bộc lộ những khiếm
uất phát từ tình hình kinh tế- xã hội và những khiếm khuyết mà pháp luật thuế
bảo vệ môi trường đã mắc phải, để mục đích bảo vệ môi trường của Luật
Thuế bảo vệ môi trường đi vào đời sống thực tiễn thì nhà nước cần có những
chính sách phát triển công nghệ tìm ra những năng lượng, hàng hóa sạch thay thế các
hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao trong quá trình sử dụng. Vậy nên, đầu
tư vào phát triển ngành công nghệ năng lượng sạch, các hàng hóa đảm bảo tiêu chuẩn
sức khỏe và tiêu chuẩn môi trường sẽ là cơ sở quan trọng để người dân có thể hạn chế
sử dụng các loại hàng hóa mang tính gây ô nhiễm cao khi sử dụng này. Vai trò của cộng
đồng trong các hoạt động xã hội ngày càng rõ nét, đặc biệt trong hoạt động bảo vệ môi
trường. Để phát huy tối đa vai trò này, nhận thức của cộng đồng về vấn đề bảo vệ môi
trường phải được nâng cao thông qua việc cung cấp thông tin và cùng tham gia trong
các sự kiện, hoạt động xã hội bảo vệ môi trường. Cần phải kết hợp với các chế tài, xử lý
thật nặng những người có hành vi vi phạm pháp luật thuế về bảo vệ môi trường.
10
PHỤ LỤC I
ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ
Theo quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường đối tượng chịu thuế gồm 8
nhóm hàng hóa:
1. Xăng dầu
Đây là sản phẩm có chứa một số chất hóa học như chì, lưu huỳnh,… ngay cả khi
chưa sử dụng các chất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây
ảnh hưởng xấu đến môi trường. Việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượng chịu
thuế nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; khuyến
khích sử dụng năng lượng tái tạo. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới áp dụng thuế
BVMT đối với xăng, dầu. Các nước EU đang đánh thuế đối với nhiên liệu ( Xăng 0,42
Euro/lít, dầu Diesel 0,30 Euro/lít); Singapo: 0,4 đôla Singapo/lít xăng.
2. Than đá
hóa học được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng và bảo quản nông sản. Việc đưa
hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng vào đối tượng chịu thuế nhằm
nâng cao nhận thức của người sử dụng, khuyến khích họ thay đổi thói quen sử dụng lạm
dụng, giảm thiểu những tác hại xấu của hóa chất bảo vệ thực vật đối với môi trường.
Hiện nay, một số nước như Đan Mạch, Bỉ cũng áp dụng thuế BVMT đối với các sản
phẩm hóa chất bảo vệ thực vật.
Đồng thời, Luật cũng quy định điều khoản mở: “Trường hợp xét thấy cần thiết
phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Chính phủ trình
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quy định”.
12
PHỤ LỤC II
DANH MỤC THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT HẠN CHẾ SỬ DỤNG TẠI
VIỆT NAM
(Ban hành kèm theo Thông tư số 36 /2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)
TT
MÃ HS
TÊN HOẠT CHẤT –
NGUYÊN LIỆU
(COMMON
NAME)
TÊN
Celbrite MT
30EC
nấm hại gỗ
Celcure (M) Sdn Bhd
2
3808.90.10
Methylene
thiocyanate 10% +
Celbrite TC 20L
nâm mốc/ gỗ
Celcure (M) Sdn Bhd
Sodium
Tetraborate
decahydrate 54 % +
Boric acid 36 %
Celbor
nấm hại gỗ
bis
2-thiocyanomethylthio)
benzothiazole 10%
3
3808.90.10
4
3808.90.10
CuSO4
50
K2Cr2O7 50 %
%
+
5
3808.90.10
ZnSO4 .7H2O 60% +
NaF 30 % + phụ gia
10%
90 SP
Công ty CP Khử trùng
kho
56% viên tròn, viên
dẹt
Quickphos
Việt Nam
Việt Nam
sâu mọt hại kho tàng, nông
sản
United Phosphorus Ltd
sâu mọt hại kho tàng
Công ty CP Khử trùng
56 %
2
3808.90
Magnesium phosphide
Magtoxin
Việt Nam
Thanh
98 %
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010;
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
Hiến pháp năm 1992, SĐBS năm 2001;
Nghị Định số 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thuế bảo vệ môi trường;
5. Thông tư 152/2011/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08
tháng 08 năm 2011;
6. Thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 về việc ban hành Danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam;
7. Công văn 1199/BTC-TCT hướng dẫn thực hiện Thông tư 152/2011/TT-BTC
8. Bảng tổng kết môi trường toàn cầu của chương trình môi trường liên hợp quốc
(UNEP) 2008;
9. Bản số liệu của trung tâm phân tích khí hậu thành phố Hồ Chí Minh-2006;
10.Báo công thương;
Ngày xuất bản: 03/15/2012;