Trên cơ sở nghiên cứu về một luận văn thạc sỹ về Tội phạm học - Pdf 34

Với tính chất là một ngành khoa học, tội phạm học ra đời khá muộn so với một số
ngành khoa học xã hội khác, song bên cạnh đó tội phạm học có được sự may mắn là
được kế thừa thành tựu của các ngành khoa học khác đã ra đời trước nó. Theo đó, tội
phạm học là ngành khoa học xã hội đa ngành nghiên cứu về tội phạm với tính chất là
hiện tượng cá nhân và xã hội bao gồm một tổng thể gắn liền với tội phạm. Một nội
dung quan trọng nằm trong tổng thể đó chính là tình hình tội phạm. Ở bài tập học kì
lần này, em xin phân tích đề tài: “Trên cơ sở nghiên cứu về một luận văn thạc sỹ về
Tội phạm học, hãy trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của tác giả đó về tình
hình tội phạm và rút ra nhận xét cá nhân về kết quả nghiên cứu của tác giả đó”.
Bài viết dưới đây sẽ phân tích một phần nghiên cứu luận văn thạc sỹ của tác giả Hồ
Phước Linh vê thực trạng và diễn biến của tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2004-2010
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬN VĂN THẠC SỸ
1.Thông tin về luận văn thạc sĩ
Tên tác giả: Hồ Phước Linh
Tên chuyên đề : Thực trạng và diễn biến của tình hình tội phạm cướp tài sản trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian từ năm 2004 – 2010
Chuyên nghành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số 60.48.75
2. Kết cấu của luận văn
Chương I : Thực trạng tình hình tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An
trong thời gian từ năm 2004- 2010.
Chương II : Cơ cấu và tính chất của tình hình tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong thời gian từ năm 2004 – 2010
II. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỦA TÁC GIẢ

13


1. Thực trạng tình hình tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong
thời gian từ năm 2004- 2010.

tính điển hình trên thì tội cướp tài sản có tổng số vụ cao nhất là 302 vụ,
tiếp theo đó đến tội giết người với 254 vụ và thấp nhất là tội hiếp dâm
với 29 vụ.
So sánh số vụ cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An với số vụ cướp tài sản
trên 2 tỉnh lân cận là Hà Tĩnh và Thanh Hóa: So với 2 tỉnh lân cận thì tỉnh Nghệ An
có số vụ cướp tài sản bị xét xử cao nhất 448 vụ, tiếp đến là tỉnh Thanh Hóa với 402
vụ, Hà Tĩnh có số vụ thấp nhất là 133 vụ. Như vậy, số vụ cướp tài sản trên địa bàn
bàn tỉnh Nghệ An lớn hơn 1,14 lần so với tỉnh Thanh Hóa và 3,37 lần so với tỉnh Hà
Tĩnh
So sánh số vụ cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An với số vụ cướp tài sản
trên địa bàn toàn quốc: Tổng số vụ cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An với tổng số
vụ cướp tài sản trên địa bàn toàn quốc bị xét xử trong thời gian từ năm 2004-2010 là
448/13.812 ( số vụ cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An chiếm tỉ lệ 3,24%). Trung
bình năm về số vụ bị xét xử của tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An với trung
bình năm về số vụ bị xét xử của tội cướp tài sản trên phạm vi cả nước là 64/1973 ( số
vụ bị xét xử của tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An chiếm tỉ lệ 3,24%)
b. Tội phạm ẩn:
Thứ nhất, với các thu thập số liệu thống kê về tin báo tố giác tội phạm thì
trong thời gian 7 năm từ 2004- 2010 trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 560 tin báo về tội
cướp. Như vậy, so sánh số vụ án bị khởi tố với số liệu về tin báo tố giác tội phạm có
tỉ lệ là 512/560( số vụ bị khởi tố chỉ chiếm 91,42% trong tổng số tin báo tố giác tội
phạm) còn lại 48 tin báo tố giác không bị khởi tố chiếm 8,58%. Bên cạnh đó, tác giả
tự nghiên cứu hồ sơ về tin báo tố giác tội phạm không bị khởi tố còn lại, kết quả thu

13


được là 35 vụ không có dấu hiệu tội phạm, còn lại 13 vụ( chiếm 2,54% trong tổng số
tội phạm bị phát hiện) có dấu hiệu tội phạm nhưng không bị Cơ quan điều tra khởi tố.
Thứ hai, qua trung tâm trợ giúp pháp lí tỉnh Nghệ An, tác giả thấy trong 7 năm

lời với những tỉ lệ khác nhau. Như vậy, có 81% người được hỏi trả lời rằng số vụ
phạm tội cướp tài sản đã được thực hiện những chưa bị phát hiện trên thực tế chiếm
chiếm tỉ lệ thấp nhất là 10%, cao nhất là 25% trong tổng số vụ án đã xảy ra trên thực
tế. Theo kết quả này, tính trung bình tỉ lệ ẩn khoảng 17%.
c. Chỉ số tội phạm:
Khi đánh giá về thực trạng của tình hình phạm tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh
Nghệ An, ta không thể bỏ qua về chỉ số tội phạm – biểu hiện của mức độ phổ biến
của tội phạm trong dân cư. Trung bình chỉ số tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2004-2009 là 2,32, cao hơn hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh trong cả
7 năm. Điều này thể hiện mức độ phổ biến của tội cướp tài sản trong dân cư ở Nghệ
An cao hơn 2 tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh.
d. Thông số về nạn nhân:
Về giới tính: trong số 165 nạn nhân thì cso 146 nạn nhân là nam chiếm 88,47%,
chỉ có 19 nạn nhân là nữ, chiếm 11,53%. Như vậy, nạn nhân của tội cướp tài sản chủ
yếu là nam giới.
Về đội tuổi: số nạn nhân của tội cướp tài sản được nghiên cứu thì số lượng nạn
nhân trên 18 tuổi chiếm đa số (124 người chiếm 75,2%) số còn lại độ tuổi của nạn
nhân dưới 18 tuổi chiếm 24,8% ( 41 nạn nhân), đặc biệt lưu ý trong số này có 10 trẻ
em chiếm 24,4% trở thành nạn nhân của tội cướp khi các em đang ở độ tuổi tiểu học.
Về mối quan hệ với người phạm tội: cũng trong 165 nạn nhân của tội cướp tải
sản được nghiên cứu thì cso tới 105 nạn nhân không quen biết với người phạm
tội,chiếm 63,59% và có 60 nạn nhân và người phạm tội có quen biết với nhau, chiếm
36,41%. Như vậy, đa phần nạn nhân và người phạm tội không quen biết với nhau.

13


e. Diễn biến của tình hình tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời
gian từ năm 2004 -2010.
Từ năm 2004 đến năm 2006, cả số vụ và số người phạm tội vận động theo

như dao, kiếm, búa có 65 vụ chiếm 74,8%; những vật có sẵn trong tự nhiên cũng là
loại được bọn cướp sử dụng như gậy gộc, vật cứng.
Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn, động cơ phạm tội:
-Thủ đoạn phổ biến thứ nhất là đón đường cướp tài sản(23,6%): chúng
thường chọn những đoạn đường vắng vẻ thời gian thích hợp và những công cụ
phương tiện phạm tội như dao, kiếm, côn , xe máy để đón, chặn đường người đi qua
để cướp tài sản.
-Thủ đoạn phổ biến thứ hai: lợi dụng sơ hở đột nhập vào nhà dân(15,2%), với
thủ đoạn này tội phạm được thực hiện một các có tổ chức, ngụy trang kĩ càng, lợi
dụng sơ hở của người dân tấn công vào nhà cướp vàng, tiền..
-Thủ đoạn phổ biến thứ ba là điều nạn nhân tới nới vắng vẻ(12,8%): giả làm
khách đi xe tắc xi, xe ôm điều nạn nhân tới nơi vắng vẻ rồi thực hiện hành vi cướp,
giết người.
Cơ cấu THTP tội cướp tài sản về dạng thiệt hại:
-Nhóm thứ nhất là thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của con người. Như số
liệu thống kê trên thì đa phần các vụ cướp thực hiện hành vi dùng vũ lực để tấn công
nạn nhân(chiếm 72,8%) và trong phần cơ cấu về công cụ phương tiện phạm tội cũng
cho thấy người phạm tối sử dụng nhiều loại công cụ để tấn công vào nạn nhân, trong
đó có một số loại rất nguy hiểm như sung, dao, và nhiều loại vũ khí gây sát thương
khác. Vì vậy, việc gây cho nạn nhân những tồn tại về sức khỏe, tính mạng là khó
tránh khỏi.Theo số liệu của Viện kiểm sát 7 năm qua số vụ giết người, cướp tài sản
xảy ra 18 vụ( 2004 có 5 người, 2005 có 4 người, 2006 có 5 người, 2007 có 2 người,
2008 có 1 người,2009 không có người nào, 2010 có 1 người) tuy nó chỉ chiếm không
đáng kể 9,47% nhưng nó lại gây ra hậu quả nặng nề nhất làm 18 nạn nhân thiệt mạng
13


mà con người lại là vốn quý nhất.Theo khảo sát 190 nạn nhân trong vụ cướp tài sản
do cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An cung cấp thì có tới 52 người bị thương
chiếm 27,3%, có 120 người bị thương nhẹ hoặc tổn hại nhẹ chiếm 63,23%

98,1%, nữ giới chỉ chiếm 11,9%.
Về độ tuổi: những người phạm tội cướp tài sản đa phần từ 18 tuổi trở lên
(85,5%) và nhiều nhất là ở lứa tuổi đặc trưng cho loại tội phạm này là 18 đến
30(44,7%). ừ 14 đến 17 chiếm 14, 2% tuy tỉ lệ không cao so với tổng số người phạm
loại tội này nhưng nó lại cao hơn tỉ lệ người thành niên phạm tội nói chung trên địa
bàn cả tỉnh và xu thế ngày càng tăng về tỉ lệ người thành niên phạm tội.
Về dân tộc thiếu số: người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ thấp, 60 người, chiếm
8,9%.
Về trình độ văn hóa:cấp I có 17 người, chiếm 8,6%, cấp II có 67 người, chiếm
34%, cấp III có 95 người, chiếm 48,2%, mù chữ có 1 người, chiếm 3,6%.
Về nghề nghiệp: Không có việc làm 45 người, chiếm 22,7%; nghề nghiệp
không ổn định là 78 người, chiếm 39,6%; có nghề nghiệp là 50 người, chiêm 25,4%;
là học sinh, sinh viên 24 người chiếm 12,2%.
Về lý lịch tư pháp, hoàn cảnh gia đình:theo thống kê thường xuyên của Tòa án
trong năm năm từ 2006 -2010 có 12/678 người phạm tội là tái phạm nguy hiểm,
chiếm 1,8%. Số người phạm tội cướp tài sản có tiền án, tiền sự chiếm tỉ lệ không
nhỏ. Điều này thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của đối tượng này. Theo tác
giả thống kê từ 150 vụ án hình sự với 197 bị cáo có tới 16 tiền án, chiếm 8,12% và 13
tiền sự, chiếm 6,6%.
Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng không nhỏ tới nhân cách của người phạm
tội. Qua nghiên cứu 100 nạn nhân đang thi hành án do phạm tội cướp tại trại giam số
3- Tân Kì thì có 52 người( chiếm 53%) xuất thân từ gia đình phức tạp, đó là gia đình
mà có người thân- bố mẹ, anh chị có tiền án tiền sự; bố mẹ li hôn hoặc có bố mẹ bỏ đi
13


nhiều năm không về nhà nữa,hơn nữa đa phần những người như trên đều có hoàn
cảnh kinh tế khó khăn.
2. Tính chất của tình hình tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm
2004- 2010.

III. NHẬN XÉT TỔNG QUAN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

1.Về cách đi vào đề tài
• Thứ nhất : tác giả đưa ra con số thống kê rất chi tiết và tỉ mỉ, có phần so sánh
tình hình phạm tội giữa các năm để người đọc thấy rõ sự thay đổi về diễn
biến tội phạm đang chuyển biến ra sao.
• Thứ hai: Có sự so sánh giữa tình hình tội phạm với các địa phương khác
giúp bài luận them khách quan giúp người đọc có cái nhìn cụ thể về thực
trạng và diễn biến tội phạm
• Thứ ba : đây là một đề tài hay mang tính thực tế cao, tác giả sử dụng
các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, xã hội học và
khoa học pháp lý để trình bày các số liệu và nhận xét của mình trong
bài luận. Dưới góc độ tội phạm học, vấn đề tội phạm cướp tài sản được
nhìn nhận đưới nhiều phạm vi và góc độ khác nhau, đề cập một cách
toàn diện, có tính thực tiễn và có giá trị khoa học.
2.Về mặt nội dung
• Thứ nhất : ưu thế của luận văn là có hệ thống số liệu đầy đủ. Tuy
nhiên khi trình bày một số dẫn chứng tác giả lại không phân tích, bình
luận hoặc nhận xét. Điều đó đã dẫn tới tình trạng liệt kê số liệu, gây
khó hiểu về mặt nội dung cho người đọc.

13


• Thứ hai: Trong phần Tội phạm rõ, khi so sánh vấn đề tội phạm giữa
các địa bàn tác giả nên thêm vào các yếu tố xã hội để giải thích tại sao
lai có sự khác biệt đó
• Thứ ba: với luận văn nghiên cứu về tội phạm học, tác giả nên thêm phần
nghuyên nhân của tội phạm tại địa phương và hướng kiểm soát nhằm
phòng ngừa tội phạm

Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2006

Trang
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬN VĂN THẠC SỸ

1

1.Thông tin về luận văn thạc sĩ

1

2. Kết cấu của luận văn

1

13


II. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỦA TÁC GIẢ

1

1.Thực trạng tình hình tội phạm cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong
2
thời gian từ năm 2004- 2010.
2. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong6
thời gian từ năm 2004 – 2010
III. NHẬN XÉT CÁ NHÂN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status