NHỮNG RÀO CẢN TRONG THỰC HIỆN QUYỀN HIẾN XÁC, BỘ PHẬN CƠ THỂ SAU KHI CHẾT Ở NƯỚC TA - Pdf 34

Trường Đại học Luật Hà Nội

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……….............................................................................................2
NỘI DUNG……….................................................................................................2
I.KHÁI QUÁT CHUNG…………………………………………………………2
1. Đặc điểm của Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết……………...2
2.Cơ sở pháp lý về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
trong các văn bản pháp luật…………………………………………………....3
a.Bộ luật Dân sự năm 2005……………………………………………………..3
b.Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006..3
3.Cơ sở thực tiễn về hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết…...4
II.NHỮNG RÀO CẢN TRONG THỰC HIỆN QUYỀN HIẾN XÁC, BỘ
PHẬN CƠ THỂ SAU KHI CHẾT Ở NƯỚC TA………………………………4
1.Kinh tế, xã hội…………………………………………………………………4
2.Phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo văn hóa truyền thống ảnh hưởng
tới việc hiến xác của cá nhân sau khi chết……………………………………..5
3.Vấn đề nhận thức của mỗi người…………………………………………….6
4.Sự ngăn cản từ phía người thân, gia đình của người hiến xác……………..7
5.Các quy định, thủ tục của việc hiến xác……………………………………...7
III.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN………………………………………………...10
KẾT LUẬN………………………………………………………………………11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1


Trường Đại học Luật Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân của pháp luật Việt Nam ngày càng có sự chuyển biến tích

trường hợp đặc biệt quyền nhân thân lại mang lại lợi ích vật chất cho chủ thể
quyền. Những lợi ích vật chất mà chủ thể quyền được hưởng ở đây có được là do
giá trị tinh thần mang lại. Do vây, có thể chia quyền nhân thân làm hai loại: quyền
nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân không gắn với tài sản. Cho nên đối
2


Trường Đại học Luật Hà Nội
với quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết thuộc nhóm quyền nhân thân không
gắn với tài sản.
Thứ ba, quyền nhân thân được xác lập trực tiếp trên cơ sở của những quy định
pháp luật.
Thứ tư, quyền nhân thân là một quyền tuyệt đối. Mỗi chủ thể có một giá trị nhân
thân khác nhau nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm.
2.Cơ sở pháp lý về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
trong các văn bản pháp luật
a. Bộ luật Dân sự năm 2005
Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết được thừa nhận là cơ sở cũng
như căn cứ để các nhà làm luật quy định một cách cụ thể và chặt chẽ về các điều
kiện hiến xác. Mặt khác, việc quy định chặt chẽ, cụ thể các điều kiện hiến xác, bộ
phận cơ thể sẽ giúp mọi người thực hiện tốt hơn quyền của mình.
Điều 34 Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau
khi chết: “Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục
đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng
xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 34, Bộ Luật Dân Sự 2005 về cá nhân được hiến
xác có trước khi Luật Hiến, lấy ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác năm 2006
được thông qua nên còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Có cách hiểu cho rằng, cá
nhân ở đây có thể là bất kỳ người nào, không phân biệt tuổi tác, miễn là họ không
bị nhược điểm về thể chất, bị tâm thần và hoàn toàn tự nguyện khi đăng kí hiến

để đảm bảo và mong muốn có được cuộc sống bình thường, đặc biệt là nhu cầu về
ghép giác mạc, ghép thận, ghép gan…
Về nhu cầu ghép bộ phận cơ thể người, vì số người bị bệnh là rất lớn nhưng
không có nguồn nên số bệnh nhân này đang phải trong tình trạng nguy hiểm điến
tính mạng, một số ít có điều kiện kinh tế thì phải sang Trung Quốc và một số nước
khác để thực hiện các ca ghép thận, ghép gan.
Về nhu cầu mô, đặc biệt là ghép giác mạc, tính đến năm 2005, cả nước có
khoảng hơn 5.000 người bệnh đang chờ được ghép giác mạc. Riêng tại Viện Mắt
Trung ương, mỗi năm nhu cầu ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên nhưng từ năm
1985 đến nay, Viện mới chỉ ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103
ca, năm 2005 ghép được 150 ca. Số giác mạc được dùng để ghép chủ yếu lấy từ
nguồn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (khoảng 50-100 giác mạc/năm) mà
không có nguồn của người cho giác mạc.
Ghép mô, bộ phận cơ thể người là một trong mười thành tựu khoa học công
nghệ vĩ đại của thế kỷ 20 và đã giúp cứu sống rất nhiều người bệnh. Cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, khoa học về ghép mô, bộ phận cơ thể người ngày
nay đã có những bước tiến vượt bậc, khiến cho việc chữa trị bằng phương pháp này
đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới. Ở Việt Nam trong những năm qua,
việc ghép mô, bộ phận cơ thể người đã có những bước tiến vượt bậc, các bác sĩ của
chúng ta đã tiến hành ghép thành công rất nhiều trường hợp. Tuy nhiên, hầu hết
các ca ghép này đều lấy thận, gan của người sống là cha, mẹ, anh, chị, em trong gia
4


Trường Đại học Luật Hà Nội
đình, cùng huyết thống, có các chỉ số sinh học tương đương. Mặc dù vậy, những
thành tựu trên cũng đã mang lại uy tín và niềm tự hào cho ngành y tế, phù hợp với
xu thế hội nhập, giải quyết được nhu cầu điều trị tại chỗ của nhân dân và giảm tốn
kém cho người ghép phải ra nước ngoài điều trị. Và để đạt được mục tiêu đến năm
2020 có thể thực hiện được khoảng 1.000 ca ghép thận, 80-100 ca ghép gan, 20-30

bợ, chết không phải là hết. Tín ngưỡng dân gian tin vào linh hồn, người chết rồi
thì linh hồn sẽ sống ở cõi âm, cũng sinh hoạt như ở dương thế, do đó có tục lệ đốt
5


Trường Đại học Luật Hà Nội
vàng mã, nhà cửa, xe cộ, đầy tớ, tiền,…để viện trợ cho người chết. Một quan niệm
nữa là “người chết cần được mồ yên mả đẹp”, việc “động mồ động mả” có thể ảnh
hưởng đến sự nghiệp của con cháu. Nên việc hiến xác sau khi chết người ta cho
rằng người chết sẽ không được yên nghỉ và khi sang thế giới bên kia thì thân thể
không thể tòa vẹn và sẽ là điều bất hạnh đau khổ đối với gia đình người chết.
Người Việt Nam chủ yếu là theo đạo phật nên quan niệm về “cái chết” của Phật
giáo có ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ của mọi người. Theo giáo lý của đạo phật
thì sự chết được hiểu như sự chấm dứt khả năng sống của một hình thái hiện hữu,
chỉ là sự gián đoạn tạm thời của một hình thái. Nó không phải là sự tiêu diệt toàn
bộ một cá nhân, đúng hơn nó là biểu hiện của một sự chuyển đổi sang một sự hiện
hữu khác. Chỉ riêng các cơ quan năng ngưng vận hành, chứ năng lực, sự khao khát
được hiện hữu nằm trong nghiệp lực vẫn tiếp tục thể hiện dưới một hình thái khác
của sự sống. Và chỉ khi thần thức rời khỏ thể xác mới được gọi là chết, chứ không
phải lúc tắt thở, và người ta tin rằng chính lúc tử vong lâm sàng và thời gian sau
đó, trươc khi thần thức thoát đi là thời điểm then chốt quyết định sự tái sinh hoặc
đầu thai của người đó do vậy người ta quan niệm là tốt nhất sau khi chết không
được đụng dao kéo cắt sẻ thi hài trong vòng ba ngày sau khi chết lâm sàng nếu
không nó sẽ gây ra sự rối loại cho tiến trình tái sinh và khi sang thế giới bên kia
người đó sẽ đau đớn và không siêu thoát được. Theo pháp Hộ Niệm, người vừa tắt
hơi, bị đụng chạm vào thân xác quá sớm là điều tối kỵ, có thể khiến họ bị đọa lạc
xuống các cảnh giới vô cùng xấu trong ba đường ác . Đụng chạm sẽ làm
cho họ đau đớn không chịu không nổi, chắc chắn sẽ làm cho thần thức người rối
loạn, hãi kinh, bức xúc, tức giận... toàn là những nhân chủng rất xấu cho đời kiếp
tương lai của họ. Nhưng theo y học thì việc cấy ghép bộ phận cơ thể phải tiến hành

nhiều về vấn đề này và những lợi ích mà nó mang lại nhiều hơn là những quan
niệm tôn giáo mơ hồ chưa được chứng thực. Do vậy khi con người có những hiểu
biết nhất định và ý nghĩa nhân đạo của vấn đề hiến xác sau khi chết thì những ảnh
hưởng của phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo sẽ không còn thực sự lớn nữa
và họ sẽ tích cực thực hiện quyền này để cứu sống người khác và phục vụ cho công
tác nghiên cứu khoa học.
4. Sự ngăn cản từ phía người thân, gia đình của người hiến xác.
Ở Việt Nam, hiến xác là một vấn đề còn khá nhạy cảm và vẫn còn khá mới mẻ
đối với chúng ta lại thêm nhiều rào cản từ phong tục tập quán,…nên việc quyết
định hiến xác sau khi chết là một điều rất khó khăn nhưng khi quyết định được rồi
lại có một rào cản rất lớn từ phía gia đình người thân của họ, ngay cả chính người
hiến cũng phải giấu người thân của mình vì sợ phản đối thì có thể thấy thái độ gay
gắt của người thân họ như thế nào khi họ chết. Việc mất đi người thân là một điều
hết sức đau lòng, một sự mất mát quá lớn nên khi người thân ra đi, theo quan niệm
truyền thống, họ không muốn người thân của mình chịu bất kỳ một sự đau đớn nào
giày vò nào về thể xác nữa. Do vậy, trong trường hợp này các y bác sĩ cũng không
thể tiến hành việc lấy xác, bộ phận cơ thể của người chết được.
5.Các quy định, thủ tục của việc hiến xác.
Ngoài ra, việc thực hiện các quy định về điều kiện, thủ tục trong việc hiến xác
theo Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006
cũng gặp một số khó khăn trên thực tế:

7


Trường Đại học Luật Hà Nội
a)Theo Luật, hầu hết trường hợp hiến xác sau khi chết người hiến phải có đơn tự
nguyện hiến, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác như tại Điểm b, c,
Khoản 2, Điều 22:
“Việc lấy xác được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

những người còn sống.
d) Nhu cầu về cấy, ghép mô, tạng ở nước ta ngày càng lớn nên pháp luật đã
điều chỉnh nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc cấy, ghép mô, tạng và tăng nguồn
hiến mô, tạng trong nhân dân. Tuy nhiên, Luật vẫn chưa đề cập đến vấn đề hiến bộ
8


Trường Đại học Luật Hà Nội
phận cơ thể, hiến xác của tử tù nhằm phục vụ cho chữa bệnh và nghiên cứu khoa
học nên rất khó khăn cho các cơ sở y tế có thể nhận xác trong trường hợp người có
án tử hình muốn hiến xác của họ cho y học.
Trước đây đã có một số trường hợp tử tù gửi đơn lên Tòa án nhân dân tối cao
xin được hiến xác cho y học sau khi thi hành án tử hình, như tử tù Nguyễn Phước
Đỉnh ở Gò Công, Tiền Giang, tử tù Nguyễn Văn Hải ở Quảng Ninh …nhưng đến
nay vẫn chưa thực hiện được. Vào thời điểm đó cũng như cho đến bây giờ chưa có
quy định pháp lý cụ thể nào về quy trình hiến xác cũng như thủ tục để tử tù hiến
xác khiến cho Tòa án nhân dân tối cao bối rối trong việc đưa ra quyết định là có
đồng ý hay không đống ý cho tử tù hiến xác. Theo Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 có quy định các công dân
từ 18 tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự đều có thể hiến xác. Trong khi đó,
các tử tù hoàn toàn không bị luật pháp tước đi quyền lợi này. Như vậy, quyền hiến
xác của các tử tù là không vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trước đây việc đưa thi hài
của các tử tù ra khỏi pháp trường là bị cấm nên vấn đề này chưa thể giải quyết
được.
Có thể nói việc tử tù xin hiến xác phục vụ cho y học là một việc làm đáng trân
trọng. Là con người ai cũng có những lần phạm sai lầm, với những người tử tù sự
sai lầm của họ sẽ bị luật pháp trừng trị bằng cách tước đi sự sống của họ. Nhưng
cái đáng quý ở mỗi con người là sự ăn năn hối cải, đôi khi cái chết của họ không
thể nào đền tội được và họ cũng chưa cảm thấy thanh thản, nên họ muốn làm một
việc tốt trước khi ra đi là đem lại sự sống cho người khác, hay phục vụ cho công

đem lại sự sống cho người khác cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa
học.
Về vấn đề lấy xác trong trường hợp người chết không có thẻ đăng ký hiến xác
nhưng được gia đình đồng ý bằng văn bản hoặc trường hợp người chết không xác
định được nơi cư trú cuối cùng, pháp luật nên có quy định cụ thể cho phép những
trường hợp này các cơ sở y tế có quyền lấy xác ngay cả khi người chết chưa đủ 18
tuổi. Bởi lẽ, xác của người chưa đủ 18 tuổi hay người trên 18 tuổi thì đều có ý
nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu, giảng dạy.
Theo như các quy định của pháp luật, có thể hiểu những người đủ điều kiện, có
đơn tự nguyện hiến xác thì không cần có sự đồng ý của gia đình. Tuy nhiên, do
nhiều yếu tố như tâm lý, phong tục tập quán mà khi người đó chết đi, những người
thân lại ngăn cản không cho các cán bộ y tế đưa thi hài của người chết đi. Vậy có
thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế được không? Để giải quyết vấn đề này thực
sự rất khó khăn, bởi nó liên quan cả đến vấn đề đạo đức, tâm linh, nhất là khi
những thân nhân này đang vô cùng đau đớn trước sự ra đi của người tình nguyện
hiến xác. Theo em, một mặt pháp luật cần quy định là nguyện vọng hiến xác của
người chết cần được tôn trọng tuyệt đối, mặt khác lại càng phải nâng cao hơn công
tác tuyên truyền, hướng dẫn vấn đề hiến xác với cả người thân của những người có
mong muốn hiến xác ngay từ khi nhận được nguyện vọng hiến xác của những
người này.
Về quyền lợi của người hiến xác, hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết: Có thể
thấy, khi một người chết đi thì nỗi đau tinh thần lại thuộc về những người còn sống
mà trực tiếp là gia đình người tình nguyện hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi
chết. Những người thân thích đó đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc người
thân của mình hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết. Để có được quyết định sẽ
tình nguyện hiến xác của mình, chắc hẳn những người đó phải vượt qua được
những phong tục, những suy nghĩ đã tồn tại biết bao đời nay nhưng có lẽ để chấp
nhận việc người thân của mình hiến xác còn khó khăn hơn. Chính vì vậy, pháp luật
cần có sự ghi nhận, tôn vinh về mặt tinh thần để động viên họ.
Về vấn đề có chấp nhận hay không việc tử tù xin hiến xác: Theo em, để giải

ngưỡng, tôn giáo,.... bởi vậy cần có sự chung tay góp sức của các ban, ngành, cơ
quan chức năng nhằm tuyên truyền giáo dục sâu sắc tới mọi tầng lớp nhân dân về ý
nghĩa cao đẹp của vấn đề này để từ đó có thể phát triển rộng nhất mặt tích cực của
quyền.

11


Trường Đại học Luật Hà Nội

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

l. Luật Dân Sự 2005.
2. Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ngày
29/1/2006.
3. trang web:
/> /> /> />
12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status